Thực dân pháp1858-1945
Phạm Cung Lê Thiên Vũ 1111404
Từ nửa sau thế kỷ XIX, xu hướng thôn tính dân tộc và bành trướng thuộc địa của các
nước đế quốc diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới. Các quốc gia ở châu Á, châu Phi lần lượt
trở thành thuộc địa của Anh, Pháp, Hà Lan, Nga, Đức Việt Nam cũng bị thực dân Pháp xâm
lược từ giữa thế kỷ XIX. Sau khi dập tắt các phong trào yêu nước, hoàn thành căn bản công
cuộc bình định nước ta về mặt quân sự, thực dân Pháp đã tiến hành hai cuộc khai thác thuộc
địa, áp đặt một chính sách thống trị quy mô và triệt để trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn
hoá giáo dục nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn, bảo đảm siêu lợi nhuận cho
chính quốc.
Thực dân Pháp đã thi hành một chính sách: đầu độc, ngu dân truyền bá văn hoá và giáo
dục của Pháp.
Mục đích: nhằm nô dịch tinh thần quần chúng, biến quần chúng thành những đám đông
tự ti, khiếp nhược, mất tin tưởng vào khả năng và tiền đồ của dân tộc, cắt đứt với mọi truyền
thống tốt đẹp, phục vụ trung thành cho quyền lợi của đế quốc.
Về văn hóa - giáo dục:
Ngu dân về giáo dục và đầu độc về văn hoá là một trong những biện pháp hỗ trợ đắc lực
cho công cuộc khai thác ở Việt Nam. Ban đầu, chính sách giáo dục chỉ nhằm mục đích đào tạo
đội ngũ thông dịch viên và những người phục vụ trong bộ máy chính quyền thuộc địa, đồng
thời từng bước truyền bá chữ Pháp và chữ Quốc ngữ, hạn chế ảnh hưởng của chữ Hán. Các
trường học được tổ chức với ba bậc: bậc ấu học ở xã, bậc tiểu học ở phủ, huyện và bậc trung
học ở tỉnh. Học sinh theo học trong hệ thống các bậc học này phải học tiếng Pháp. Các bậc học
càng cao thì môn tiếng Pháp và các kiến thức về văn hoá Pháp càng trở thành bắt buộc.
Sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp vừa ra sức xây dựng một nền giáo dục mới, vừa tìm
cách thủ tiêu vai trò của nền giáo dục cũ. Hệ thống các trường tiểu học Pháp Việt được mở
rộng nhằm thay thế dần nền Hán học.
Đến năm 1917, giáo dục nước ta đã trở thành “Pháp hoá” gồm có ba cấp: tiểu học, trung
học, cao đẳng và đại học. Ở cấp tiểu học học sinh sẽ theo học trong 5 năm (nhưng việc đến
trường của thanh thiếu niên Việt Nam thì bị hạn chế). Học sinh sau khi học xong ba năm bậc sơ
đẳng phải thi lấy bằng “sơ học yếu lược” rồi mới được học tiếp hai năm còn lại của bậc tiểu học
và thi tốt nghiệp. Trong ba năm học đầu tiên đó, học sinh phải học bằng tiếng Pháp.
thêm chất hoá học. “Cứ 1.000 làng thì có đến 1.500 đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện nhưng chỉ
có 10 trường học
Bên cạnh đó, thuốc phiện đã trở thành một công cụ hữu hiệu đầu độc người dân, đặc
biệt là giới trẻ. Chúng mở các cơ quan thu mua và các công ty bán thuốc phiện một cách công
khai. Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh trích đăng bức thư của Toàn
quyền Đông Dương Xarô gửi viên Công sứ dưới quyền: “Tôi trân trọng yêu cầu ông vui lòng
giúp đỡ những cố gắng của Nha Thương chính trong việc đặt thêm đại lý bán lẻ thuốc phiện và
rượu Để tiến hành việc đó tôi xin gửi ông một bản danh sách những đại lý cần đặt trong các
xã đã kê tên ” Chính quyền các cấp đã tìm mọi cách để ép các viên chức từ công sứ cho tới các
nhân viên văn phòng tăng mức tiêu thụ rượu và thuốc phiện lên mức cao nhất có thể.
Nạn mại dâm cũng được thực dân Pháp dung túng và trở nên phổ biến ở các thành phố
lớn Ở nông thôn và miền núi, các hủ tục về ma chay cưới xin còn tồn tại, nạn bói toán, đồng
bóng, mê tín dị đoan ngày càng nặng nề.
Về truyền thông:
Bên cạnh đó, thực dân Pháp đã lợi dụng báo chí để tuyên truyền cho các chính sách “khai
hoá”, thống trị của chúng tại Việt Nam. Chúng đã cấp phép cho nhiều tờ báo được xuất bản.
Hàng loạt các tờ báo được xuất bản bằng chữ Hán, chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp. Nổi bật như: ở
Nam kỳ có các tờ Nam trung nhật báo (sau đổi thành Lục tỉnh tân văn), Đại Việt quan báo (sau
đổi thành Đại Việt tân báo và Đại Việt công báo), Nông cổ mín đàm. Ở Bắc kỳ có tờĐăng cổ tùng
báo xuất bản ở Hà Nội. Đến năm 1913, chính quyền thực dân cho ra đời tờ Đông Dương tạp
chí là chi nhánh đặc biệt của Lục tỉnh tân văn xuất bản ở miền Trung và miền Bắc.
Vào tháng 6 năm 1915, “Thư viện truyền bá”được thành lập gồm hai bộ phận: thứ nhất
là Đông Dương tạp chí, tuần báo văn chương, khoa học giáo dục. Thứ hai là Trung Bắc tân văn,
thời báo chính trị, kinh tế, ấn hành bằng ba loại khác nhau và được viết bằng chữ Quốc ngữ và
chữ Hán. Sau khi Đông Dương tạp chí bị đình bản, chính quyền thực dân đã thành lập tờ Nam
phong (1916).
Qua báo chí, thực dân Pháp đã chuyển một hệ thống tư tưởng nô dịch, văn hoá duy tâm
thấm sâu vào xã hội Việt Nam; cổ động cho chủ nghĩa “Pháp Việt đề huề”; tuyên truyền cho
việc thu “thuế máu” đối với nhân dân, khuyến khích nhân dân gia nhập quân đội Pháp làm bia
đỡ đạn
điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp. Còn số đông vẫn
phải gắn vào đồng ruộng và gánh chịu sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất
mà trước đây là sở hữu của chính họ.
Về kinh tế:
Như tất cả các chánh sách thực dân, Pháp chiếm Việt Nam là để khai thác tài nguyên
đem về bản xứ.
-Sưu cao thuế nặng
Ngày 10-01-1863, chánh phủ ra nghị định là ngoài chi phí về quân sự, Soái phủ Nam Kỳ
phải tự túc về mọi chi phí cai trị. Một hệ thống thuế khóa mới ra đời.
-Mở mang thương cảng Saigon
Từ năm 1860, Compagnie des Messageries impériales đã ký kết với các tàu buôn trên
đường chuyển vận từ kinh Suez đến Hong Kong được cập bến hải cảng Saigon. Cũng
trong năm này, thương cảng đã tiếp nhận 246 tàu, trong đó có 111 tàu từ Âu châu mang
đến nửa triệu quan thuốc phiện và một triệu quan hàng hóa các loại và chở đi 53 593 tấn
gạo trị giá hơn 5 triệu quan và 1 triệu quan hàng hóa khác. Cuộc hải trình Marseille -
Saigon trước kia mất 13 tuần qua Cap Bonne-Espérance nay chỉ còn 32 ngày khi đi qua
kinh Suez, gia tăng thêm số tàu bè từ các nơi đến Saigon.
Thương cảng Saigon là một mối lợi lớn cho nước Pháp. Năm 1920, số tàu buôn xuất
nhập là 1500 tàu, tăng lên 1800 tàu năm 1930 và 2000 tàu năm 1939. Saigon đứng hàng
thứ 7 trong sốcác thương cảng của đế quốc Pháp.
Tịch thu nhà đất và bán đấu giá khi thành lập thành phố Saigon, nhà và đất bị truất hữu
theo nghị định ngày 20-02-1872. Đất được chia ra từng lô trên họa đồ, nhà cửa, đất đai
bị truất hữu và được bán lại. Nếu người chủ không đủ tiền mua lại hay không kịp thời
khiếu nại vì giặc giả phải xiêu tán, nhà và đất bị mất.
-Thuế điền và thuế thân
Dưới thời Tự Đức, thuế điền được đánh bằng hộc lúa (60kg) cho mỗi mẫu ruộng hạng
nhất. Người Pháp nay bắt đóng bằng tiền. Một hộc
lúa trị giá trước đây độ 4 quan, nay phải tăng lên 5,5 quan cộng với 0,3 quan tiền công
thu thuế. Pháp bắt làng thu thuế rồi đem nộp cho chánh phủ thay vì như trước đây, các điền
quan đi thu thuế từng người dân.
trấn áp. Lực lượng vũ trang đã vào cuộc, thậm chí họ đã huy động cả máy bay ném bom vào
đoàn biểu tình làm 217 người chết và 125 người bị thương.
Nhận thấy tình hình đã chuyển biến nghiêm trọng và có nguy cơ lan rộng, chính
quyền Pháp ở thuộc địa đã tập trung lực lượng để đàn áp tiêu diệt phong trào. Đến giữa
năm 1931, thực dân Pháp trở lại thực hiện chính sách khủng bố, trấn áp phong trào này
Trong quá trình trấn áp, chính quyền Pháp đã điều động binh lính lập hệ thống đồn bốt ở
hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhằm phong tỏa, bao vây cô lập và tiến đến kiểm soát vùng này.
Cùng việc cho lực lượng binh lính đi càn quét, triệt hạ làng mạc, bắn vào lực lượng nổi
dậy, quân Pháp còn dùng thực hiện việc chia rẽ mua chuộc một số phần tử trong cuộc biểu
tình này.
Ngày 12 tháng 9 năm 1930, thực dân Pháp cho máy bay ném bom xuống các đoàn biểu
tình của nông dân huyện Hưng Nguyên (cách Bến Thủy 10 km), làm chết 217 người và 120
người bị thương. Hai làng Lộc Châu và Lộc Hải bị triệt hạ, 217 nóc nhà bị đốt cháy, 30 người bị
bắn chết. Nhiều cơ quan đầu não của Đảng, các cơ sở trong dân bị phá vỡ, nhiều đảng viên,
người biểu tình bị bắt giam hoặc hành quyết. Theo ước tính, có hàng trăm người bị bắt, bị kết
án tù giam trong các nhà tù ở Nghệ An, Đà Nẵng, Buôn Mê Thuột, và Côn Đảo.
-Khởi nghĩa nam kì
Đêm 22 rạng sáng 23 tháng 11 năm 1940 cuộc khởi nghĩa Nam kỳ vẫn bùng nổ với khí thế
mạnh mẽ và quy mô lớn chưa từng có. Nông thôn Nam bộ rung chuyển. Từ Biên Hòa đến Cà
Mau, 18 tỉnh nổi dậy cướp chính quyền. ở Mỹ Tho 54 trong số 56 xã được giải phóng. ở Chợ
Lớn ta giành được nhiều tổng. ở Tân An, các xã hai bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, hữu ngạn Vàm Cỏ
Đông đều về tay nhân dân
Thực dân Pháp điên cuồng đàn áp, và quan trọng nhất là tiêu diệt chính quyền cách mạng.
Máy bay dội bom xuống làng mạc, thôn xóm.
Giặc Pháp khủng bố rất khốc liệt, dã man. Chỉ trong 40 ngày, riêng bốn tỉnh Gia định, Mỹ
Tho, Long Xuyên và Cần Thơ có tới 5.640 người bị giặc lấy dây thép xâu tay rồi phơi nắng cho
đến chết khô, hoặc chất lên sà lan đưa ra biển nhận chìm
Một bãi bắn được dựng lên vội vã ngay tại thị trấn Hóc Môn (Gia Định). Ngày 28-8-1941,
lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam có một cuộc tàn sát quy mô lớn. Các đồng chí
lãnh đạo, những người con ưu tú của dân tộc, của Đảng, trong đó có Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn
phụ nữ (nhiều phụ nữ có thai và những người tàn tật). Nhiều phụ nữ thậm chí còn bị làm nhục
trước khi bị sát hại.
Hiện nay ở làng Mỹ Trạch có một bia tưởng niệm vụ thảm sát này, trong khu tưởng niệm
nạn nhân vụ thảm sát, một di tích lịch sử quốc gia đã được Bộ Văn hóa việt Nam công nhận.
Hằng năm nhân dân làng Mỹ Trạch lấy ngày 29/11 làm “NGÀY CĂM THÙ” khắc sâu tội ác “ TRỜI
KHÔNG DUNG, ĐẤT KHÔNG THA” của kẻ thù Nạn Đói Năm Ất Dậu (1944-1945)
Nạn đói này đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều đồng bào ta thời ấy. Việt Nam là một
nước có truyền thống nông nghiệp, trồng lúa nước từ lâu đời, ấy vậy mà ta phải gánh chiệu cái
chết vì thiếu lương thực.Điều này chắc có lẽ đã không xãy ra nếu nước ta không bị bọn giặc
ngoại xâm cấu xé, tranh dành.
Sau khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp đã ra sức bóc lột, khai thác mọi nguồn lợi có
thể để làm giàu cho chính quốc. Đến trước Thế chiến thứ hai Việt Nam đã trở thành một nước
cực kỳ lạc hậu và nghèo đói so với các nước khác trong khu vực Châu Á, cũng như là trên thế
giới. Hệ thống thuế nửa thực dân nửa phong kiến khiến cho các hộ nông dân phải bán hết
lương thực có được để nộp thuế khiến đa số nông dân không còn lương thực dự trữ. Khi Thế
chiến thứ hai nổ ra, Pháp bị yếu thế. Giữa năm 1940 Pháp bị Đức chiếm, Nhật đã thừa cơ chen
chân vào Việt Nam, vậy là tình hình nước ta đã khổ nay còn khổ hơn.
Nguyên nhân:
Nhật bắt người dân phải trồng đay thay vì trồng lúa gạo để phục vụ chiến tranh. Đây cũng
chính là điều mà Pháp đã làm từ trước, chúng thu hẹp diện tích trồng các loại cây lương thực,
hoa màu để trồng bông, đay, gai. Chính điều này là nguyên nhân chính dẫn đến sự thiếu hụt
lương thực trầm trọng của nước ta.
Bên cạnh đó do tác động của Thế chiến thứ hai nên việc vận chuyển lương thực giữa hai
miền trở nên vô cùng khó khăn. Nhật và Pháp trưng thu lương thực để phục vụ cho chiến
( Bình Đại ngày nay).
Ngày 6/1/1947 Leroy đã bắt tập trung 112 người tình nghi là lực lượng cách mạng của ta
tại ấp Bình Thạnh rồi đưa ra vàm Bà Khoai bắn chết tại chổ và đạp xác xuống sông Cửa Đại,
trong đó chỉ có 2 người may mắn chạy thoát.
Ngày 20/1/1948 Leroy bắt 14 người tại ấp Bình Huề chặt đầu rồi đem bêu giữa chợ Bình
Đại, buộc thân nhân của họ phải ra nhận đầu về chôn cất mà không được kêu khóc.
Từ giữa năm 1946 đến cuối năm ấy, Leroy tổ chức ra đảng Hắc Y hay còn gọi là đảng Sọ
Người. Hắn cùng đồng bọn ban đêm chuyên đi bắt người thủ tiêu rồi vu khống là do Việt Minh
sát hại. Man rợ hơn là chúng còn ăn cả gan người sống.
Thời kỳ lên làm chủ quận An Hóa thay cho De Champorant, Léon Leroy sử dụng bọn "sọ
người" và lính đầu đỏ càn quét các làng trong quận; những nơi chúng hành quân đi qua chỉ còn
lại những đống tro tàn, máu và nước mắt. Bọn tay chân của hắn tha hồ nhúng tay vào máu, cả
những tên hội tề, chủ ấp cũng trực tiếp giết người.
Để khống chế nhân dân, uy hiếp kháng chiến, chúng bắn giết người rất bừa bãi. Gia đình
có người đi kháng chiến bị khủng bố hành hạ đủ điều. Đêm đêm trai tráng phải đi ngủ khóm,
ngày làm đồn bót cho chúng. Ai không làm theo hoặc trốn tránh sẽ bị bỏ tù hoặc bắn bỏ. Nơi
nào có hoạt động của ta thì lính đầu đỏ đốt hết nhà cửa, hãm hiếp phụ nữ. Hàng đêm ở Rạch
Miễu, cầu Ba Lai, cầu tàu An Hóa, Phú Thuận, Bến Đình, vàm Bà Khoai thường xảy ra những
cuộc bắn giết, súng nổ, người chết, xác người trôi trên sông không lúc nào dứt…
Từ những trung đội lính thân binh đầu đỏ ban đầu, tháng 7/1947, Léon Leroy được
tướng De La Tour, Tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương, cho phép thành lập 3 Chiến đoàn
lưu động Công giáo để bảo vệ Bến Tre (UMDC), do Lèon Leroy làm Thanh tra với cấp bậc đại úy.
Nhân dân thường gọi bọn này là đội quân "uống máu dân chúng". Léon Leroy tập luyện bọn
này rất công phu. Từ chỗ hành quân thông thường đốt nhà, cướp của, hãm hiếp, giết người,
đóng đồn bót theo chiến thuật "mạng nhện" của De la Tour, hắn còn huấn luyện bọn này đủ
kiểu giết người man rợ nhất. Năm 1948, lực lượng vũ trang này đổi thành "Tiểu đoàn Phụ lực
quân" (Forces Suppletifs) thuộc quân đội viễn chinh Pháp do Leroy chỉ huy với cấp bậc trung tá.
Với "chiến tích" hành động dã man tàn sát dân chúng, năm 1949, Léon Leroy được thăng cấp
đại tá.
Đây là một trong những tên tay sai điển hình do Pháp dựng lên nhằm chống phá tiêu diệt
Sinh viên: Lê Thành Văn
MSSV: 1111382
Nhà tù Côn Đảo
1. Lịch sử :
Sau khi chiếm đóng Gia Định, ngày 23/11/1861 đô đốc Bonard Thiếu tướng Hải quân
Pháp đã hối thúc đô đốc Charner phải chiếm ngay quần đảo Côn Lôn. Charner liền ra lệnh cho
Lespes chỉ huy thông báo hạm Norzagaray tới Vũng Đầm kéo cờ Pháp rồi lập biên bản về việc
chiếm lãnh vào hồi 10 giờ sáng ngày 28/11/1861. Ngày 01/02/1862, Bonard quyết định thành
lập nhà tù ở Côn Đảo. Từ đây, khởi đầu một giai đoạn lịch sử nhà tù đầy man rợ dưới thời thực
dân đế quốc.
Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, chính quyền cách mạng được thiết lập trên “đảo tù”
này. Nhưng chỉ ít lâu sau đó, cùng với việc tái xâm lược Nam Bộ. thực dân Pháp cũng chiếm
đóng trở lại Côn Đảo. Một lần nữa chúng biến nơi đây thành nhà tù giam giữ những người yêu
nước, các chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ Việt Minh không may sa vào tay giặc.
Từ 1955 Mỹ, Ngụy tiếp quản Côn Đảo. Chúng nâng lên thành tỉnh Côn Sơn, tiếp tục mở
rộng trại giam để đày ải, giết hại các chiến sĩ cách mạng. Biến nơi đây thành địa ngục trần gian,
với các khu nghĩa địa Hàng Keo, Hàng Dương trùng điệp 20.000 nấm mồ tù nhân. Nhưng với
mọi thủ đoạn tinh vi, ác độc kẻ địch cũng không sao khuất phục được tinh thần quật cường của
các chiến sĩ cộng sản. Để rồi rạng sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975 dưới sự lãnh đạo của Đảo Ủy
toàn thể tù nhân Côn Đảo nổi dậy phá tan ngục tù, bẻ gãy gông xiềng giải phóng hòn đảo tự do.
2. Các công trình (do Pháp xây dựng):
Nhà Chúa Đảo : Tổng diện tích 21.500m2, xây dựng cuối TK XIX, là nơi ở và làm việc của
53 đời chúa đảo, (39 tên người Pháp, 14 tên người Việt Nam), nơi tập trung đầu não của bộ
máy cai trị tù thời Pháp - Mỹ. Nhà Chúa đảo cũng là nơi xuất phát những mệnh lệnh, âm mưu
thủ đoạn của địch nhằm đày ải, tiêu diệt tù nhân. Năm 1919, tên chúa đảo khét tiếng tàn bạo
Anduara đã bị tù nhân trừng trị tại chính sào huyệt của hắn.
Cầu Tàu lịch sử Côn Đảo (Cầu Tàu 914) : Xây dựng năm 1873, diện tích 1.400m2, nơi gần
1.000 tù nhân bị địch giết hại dần mòn trong quá trình lao động khổ sai khai thác vận chuyển
những khối đá lớn để xây cầu. Cầu tàu cũng là nơi cập bến của các con tàu chở tù ra Côn Đảo,
Phú Tường. Xây dựng năm 1942, tổng diện tích 6.054m2. Thời Pháp giam giữ các tù nhân có
bệnh truyền nhiễm. Sau đó dùng để giam giữ tù binh Việt Minh.
Trại 1 : Thời Pháp là Banh III, từ 1954-1973 là trại 1, từ 1973-1975 là trại Phú Thọ. Xây
dựng năm 1935, diện tích 13.400m2. Nơi tập trung giam giữ những tù nhân “nguy hiểm” được
thanh lọc từ Banh I và Banh II. Tù nhân bị bắt sau Nam Kỳ khởi nghĩa (1940) cùng nhiều đồng
chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta cũng bị địch giam giữ tại đây trong khu cấm cố “chuồng
gà”.
Nghĩa trang Hàng Dương : Tổng diện tích 190.000m2. Được hình thành từ năm 1941,
chôn cất khoảng 5.000 tù nhân trên tổng số 20.000 người đã bị sát hại tại nhà tù Côn Đảo. Đây
cũng là khu điển hình nhất trong các nghĩa địa tù. Nghĩa trang chia làm 3 khu vực: Khu A tiêu
biểu là mộ cụ Nguyễn An Ninh và đ/c Lê Hồng Phong. Khu B tiêu biểu là mộ anh hùng Võ Thị
Sáu. Khu C nơi chôn cất tù nhân bị chết dưới thời Mỹ – Ngụy.
Sở Lò Vôi : Xây dựng năm 1923, diện tích 5.000m2. Là nơi giam giữ và cưỡng bức lao
động khổ sai. Tù nhân bị địch bắt khai thác san hô dưới biển về nung vôi phục vụ cho việc xây
dựng trại giam và các công trình khác. Nhiều tù nhân bị bỏ mạng hoặc trở thành tàn phế do bị
đánh đập và công việc khổ sai nặng nhọc.
Trại chuồng bò (biệt lập chuồng bò) : Tổng diện tích 8.400m2 có hai khu A và B với 24
phòng giam và một nhà chấp pháp (hỏi cung). Thời Pháp, đây là nơi giam giữ tù nhân lao động
khổ sai kéo cây đốn củi.
Cầu Ma Thiên Lãnh : Cầu đang xây dựng dở dang trên đường đi bãi Ông Đụng. Tại đây
530 tù nhân đã bị địch giết hại khi kè đá xây dựng hai mố cầu. Bảo vệ di tích nhằm tố cáo tội ác
dã man của Thực dân Pháp đối với tù nhân lao động khổ sai.
Nghĩa trang Hàng Keo : Diện tích tạm ước tính: 80.000m2. Hình thành đầu thế kỷ XX tới
1940. Chôn cất khoảng 10.000 người tù bị Thực dân Pháp giết hại tại nhà tù Côn Đảo. Tới nay
còn lại dấu vết một số ngôi mộ, khu vực này đã biến thành rừng dương.
Khu thị trấn Côn Đảo: Diện tích 1.513.000m2, xây dựng từ cuối thế kỷ XIX với đặc điểm là
thị trấn duy nhất chỉ nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị tù. Kiến trúc và cảnh quan khu vực này
hấp dẫn đối với khách du lịch và phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử nhà tù Côn Đảo. Mặt khác
các công trình kiến trúc ở đây đã minh chứng cho việc bóc lột sức lao động khổ sai của người tù,
là sự so sánh đối lập với kiến trúc ghê rợn của trại giam.
Nhiều biện pháp khác nữa đang siết chặt thêm cuộc sống khổ ải của
chúng tôi : thiếu nước sử dụng cả trong và ngoài phòng giam; cấm các loại báo,
tạp chí văn học hay khoa học, tiểu thuyết…Mọi đồ được gia đình chúng tôi gửi
như thư từ, ngay cả đồ lót đều bị ngăn chặn và kiểm tra gắt gao.
Vì vậy, chúng tôi đệ đơn tới ngài mong ngài vui lòng cứu vãn tình thế
đáng báo động trên và thực hiện những điều mà chúng tôi liệt kê sau đây :
1. Cải thiện chế độ dinh dưỡng :
a. Cung cấp thường xuyên cho chúng tôi lượng rau tươi, nếu
không đủ chúng tôi đề nghị được tự trồng trong trại sau dãy phòng giam.
b. Cho chúng tôi ăn đủ no, cung cấp khẩu phần ăn đầy đủ gồm :
cá tươi, thịt, mỡ, đường, nước trà hay nước sôi.
2. Dỡ bỏ các tấm tôn bịt cửa sổ phía sau, cho phép mở cửa hành lang
thông gió ngày và đêm như trại 1.
3. Giảm số lượng tù nhân giam trong mỗi phòng.
4. Cho sử dụng hai giếng nước để đủ nước sinh hoạt.
5. Kiểm tra một cách hiệu quả thư từ nhận và gửi, tránh xẩy ra sự gian
lận.
Điều mà những người bị lãnh án tử, đang chết dần chết mòn như chúng
tôi muốn đề cập đến sau cùng trong bức thư này là : chúng tôi lên tiếng thẳng
thắn với ngài, hi vọng ngài đủ sáng suốt tạo một sự cải thiện đáng kể cho
những ngày tới. Chúng tôi cũng nghĩ rằng tất cả những điều được trình bày trên
đây không vượt quá thẩm quyền và thiện chí của ngài.
Chúng tôi luôn mong đợi ở ngài, người nắm quyền lực, một nghĩa cử cao
thượng đúng đắn dành cho những tù biệt giam trại 2.
Hi vọng ở một giải pháp, kết quả phù hợp, tốt đẹp hơn, xin trân trọng
cảm ơn !
Thay mặt những tù nhân
biệt giam trại 2
Ký tên
HUONG
không đủ các chủng loại thực phẩm như đã nêu trên. Trong trường hợp này,
chúng tôi yêu cầu rau xanh với đủ số lượng. Nếu không đủ, cho chúng tôi trồng
thêm trong khuôn viên trong trại 2.
- Dỡ bỏ những tấm tôn cửa sổ và mở cửa đi lại : hiện chúng tôi thiếu
dưỡng khí, mong các ông cho hạ hai tấm tôn cửa sổ phía sau (Về vấn đề an
toàn, các song sắt cửa sổ ngang dọc là đủ giống như phòng 5B của trại 2) và mở
cửa đi cả ngày lẫn đêm như trại 1 (Hiện nay việc canh gác đã duy trì liên tục,
thường xuyên, không gián đoạn).
- Giảm thiểu mật độ tù nhân như đã nêu trên : hiện phòng giam số 8
trong khu còn bỏ trống trong khi số tù nhân tăng liên tục. Chúng tôi đòi hỏi
quyền được sống trong khi chờ đợi các yêu cầu cơ bản khác được thực hiện để
cải thiện tổng thể chế độ lao tù.
- Cho phép chúng tôi sử dụng hai giếng nước : nước dùng hiện đang rất
thiếu thốn, hãy cho chúng tôi sử dụng hai giếng nước trong thời gian được ra
ngoài đi dạo.
Chúng tôi mong ngài giám đốc đề lao xem xét kiểm chứng lại những điều
nêu trên. Đề nghị ngài quan tâm hơn nữa tới tình hình bức xúc của chúng
tôi hiện nay và có đường hướng giải quyết thỏa đáng. Chúng tôi sẽ ghi nhận
lòng độ lượng của ông.
Hoàn cảnh tăm tối hiện nay của chúng tôi thật không bút nào tả nổi, mới
thêm một người tù nữa đã mắc chứng lao phổi nặng ở mức độ báo động. Tình
trạng thảm hại trên kéo dài đã quá lâu khiến chúng tôi không thể chần chừ lên
tiếng và cần sự đáp ứng kịp thời của ông. Chúng tôi có lí do để tin vào một viễn
cảnh tốt đẹp hơn cho những ngày sắp tới. Điều đó chỉ còn phụ thuộc vào cách
hành xử, vào nhân tính, vào lòng cao thượng của ngài.
Chúng tôi hi vọng một chuyển biến tốt đẹp, dễ chịu hơn và mong ngài
hãy nhận từ chúng tôi những tình cảm chân thật và sâu sắc.
Thay mặt những tù nhân
biệt giam trại 2
Ký tên Tư liệu hình ảnh
Thực dân Pháp 1858-1945
Thảm sát Mỹ Trạch
Bia câm hờn ở Mỹ Trạch Nạn đói Ất Dậu
Xác chết chưa được an tán trên đường Phố
Một người phụ nữ sắp ăn của chuột
Tội ác của Leroy
Chân dung của tên Leon Leroy
Leroy Đang dụ dỗ các bà xơ