BÀI THẢO LUẬN KINH tế vĩ mô - Pdf 24


TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

BÀI THẢO LUẬN
MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ
ĐỀ TÀI: Trình bày các biện pháp mà chính phủ Việt Nam thực hiện để giảm bớt thâm hụt
ngân sách.Lấy số liệu nền kinh tế Việt Nam trong 5 năm trở lại đây làm ví dụ minh họa
Giáo viên hướng dẫn:
Bộ môn: Kinh tế vĩ mô
Nhóm sinh viên thực hiện:
Nhóm 8- 46K
HÀ NỘI
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: Trình bày các biện pháp mà chính phủ Việt Nam thực hiện để
giảm bớt thâm hụt ngân sách.Lấy số liệu nền kinh tế Việt Nam trong 5 năm trở lại đây
làm ví dụ minh họa
Danh sách nhóm 8 lớp kinh tế vĩ mô
Lớp học phần:
● Trần Thị Mai
● Trần Đức Mậu
● Nguyễn Thị Minh
● Nguyễn Văn Minh
● Nguyễn Thị My ( nhóm trưởng )
● Nguyễn Thị Hà My ( thư kí )
● Đinh Văn Nam
● Lê Thị Nam
● Đoàn Thị Nga
Mục lục:
Lời mở đầu
● Phần một: Cơ sở lí thuyết tìm hiểu thâm hụt ngân sách.
● Phần hai: Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay.

quan chính phủ có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo
thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của chính phủ.
2. Khái niệm thâm hụt ngân sách nhà nước:
2.1. Thu ngân sách nhà nước: Chính phủ dùng quyền lực của mình để tập trung
một bộ phận của tổng sản phẩm quốc dân để hình thành quỹ tiền tệ tập trung của quốc gia
làm nguồn để thực hiện nhiệm vụ của mình. Các nguồn thu chính:
 Thu từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước: Thu từ sản xuất, thu từ lưu
thông - phân phối hàng hóa, thu từ hoạt động dịch vụ
 Thu từ nguồn thu ngoài nước: thu từ vay nợ và viện trợ của ngoại quốc
2.2. Khái niệm:
Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là tình trạng
khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu "không mang tính hoàn
trả" của ngân sách nhà nước.
3. Phân loại thâm hụt ngân sách nhà nước:
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và
thâm hụt chu kỳ.
 Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy
biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu
cho giáo dục, quốc phòng,
 Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế,
nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ khi nền kinh
tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi
chi ngân sách cho cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên.
Phần hai: Thực trạng thâm hụt ngân sách
nhà nước Việt Nam hiện nay.
1.Diễn biến thâm hụt ngân sách
Chỉ tiêu năm 2007 năm 2008 Năm2009
Tổng thu cân đối NSNN 281900 323000 389900
Thu kết chuyển từ năm trước sang 19000 9080 14100
Tổng chi cân đối ngân sách nhà

2 CHI TRẢ NỢ VÀ VIỆN TRỢ 49.160
3 CHI PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP KINH TẾ - XÃ
HỘI, QUỐC PHÒNG, AN NINH, QUẢN LÝ
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC, ĐẢNG, ĐOÀN
THỂ (1)
174.550
4 CHI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LAO
ĐỘNG DÔI DƯ
500
5 CHI CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG (2) 24.600
6 CHI BỔ SUNG QUỸ DỰ TRỮ TÀI CHÍNH 100
7 DỰ PHÒNG 9.040
D BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 56.500
TỶ LỆ BỘI CHI SO GDP 5%
NGUỒN BÙ ĐẮP BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC
1 VAY TRONG NƯỚC 43.000
2 VAY NGOÀI NƯỚC 13.500
Dự toán thu ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 281900 tỉ đồng; phấn đấu cả năm ước
đạt 287900 tỉ đổng, vượt 2,1% (6000 tỉ đồng). So với dự toán, tăng 11,6% so với thực hiện năm
2006. Trong điều kiện dự toán năm 2007 được xây dựng ở mức cao, quá trình điều hành phát sinh
nhiều khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách như sản lượng dầu thô, thanh toán giảm
lớn so với dự toán, thực hiện điều chỉnh giảm thuế để bình ổn giá cả thị trường… thì kết quả thu
như vậy là tích cực. Dự toán chi quốc hội quyết định là 357400 tỉ đồng, bao gồm cả nhiệm vụ chi
từ số thu kết chuyển năm 2006 sang năm 2007 (19000 tỉ đồng); ước cả năm đạt 368340 tỉ đồng,
tăng 3,1% (10940 tỉ đồng) so với dự toán bằng 32,3% tăng 14,6% so với thực hiện năm 2006.
Bộ chi ngân sách năm 2007 được quốc hội quyết định là 56500 tỉ đồng ước cả năm là 56500 tỉ
đồng, chiếm 4,95% GDP (tính theo thống kê tài chính CP-GFS là 1,7% GDP bằng mức quốc hội
quyết định, được đảm bảo bằng các nguồn vay bù đắp bộ chi đúng với dự toán năm.)
Thực hiện nghị quyết của quốc hội trong chỉ đạo điều hành ngân sách nhà nước năm 2007 dự

399000 tỉ đồng, vượt 23,5% (76000 tỉ đồng so với dự toán, tăng 26,3% so với thực hiện năm
2007, đạt tỉ lệ động viên 26,8% GDP, trong đó từ thuế và phí đạt 24,9% GDP, ;loại trừ yếu tố tăng
thu do tăng giá dầu thô thì đạt tỉ lệ động viên 23,5% GDP (thuế và phí đạt 21,6% GDP) chính phủ
tập trung chỉ đạo tăng cường công tác quản lý thu ngân sách năm 2008.
Dự toán chi cân đối ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 398900 tỉ đồng ước thực hiện
cả năm đạt 474280 tỉ đồng vượt 18,9% so với dự toán, tăng 22,3% so với thực hiện năm 2007.
Bộ chi ngân sách nhà nước năm 2008 quốc hội quyết định là 66900 tỉ đồng. Ước cả năm bộ chi
ngân sách thực hiện là 66200 tỉ đồng bằng 4,95% GDP khi xây dựng kiểm toán. Đến ngày
31/12/2008 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng 33,5% GDP dư nợ ngoài
nước của quốc gia bằng 27,2% GDP trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định
các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
Công tác tài chính ngân sách năm 2008 còn những khó khăn tồn tại.
Thu ngân sách tăng nhưng chưa vững chắc chủ yếu là do giá dầu thô và thuế xuất nhập khẩu.
Thu ngân sách những tháng cuối năm có chiều hướng giảm do sản xuất kinh doanh gặp khó khăn.
Các bộ, ngành, địa phương đã bám sát điều hành dự toán ngân sách nhà nước được giao nhưng
triển khai vốn đầu tư xây dựng cơ bản cả từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn trái phiếu chính
phủ còn chậm.
Quản lý chi tiêu ngân sách đã được tăng cường nhưng vẫn còn tình trạng lãng phí, kém hiệu
quả, một số nơi chưa thật sự quán triệt để tiết kiệm chi ngân sách nhà nước.
Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2009
Đơn vị tính: tỷ đồng
STT Chỉ tiêu Dự toán
A Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước 389,900
1 Thu nội địa 233,000
2 Thu từ dầu thô 63,700
3 Thu cân đối từ hoạt động xuất khẩu, nhập
khẩu
88,200
4 Thu viện trợ không hoàn lại 5,000
B Thu kết chuyển từ năm trước sang 14,100

-Đáp ứng nhu cầu chi cho các nhiệm vụ khác trên tinh thần triệt để tiết kiệm, tiếp tục rà soát thắt
chặt chi xây dựng, bố trí dự toán chi thường xuyên cho các bộ các cơ quan trung ương và các địa
phương cơ bản không tăng so với năm 2008, giảm mức bội chi ngân sách nhà nước dưới 5%GDP.
Dự toán chi ngân sách năm 2009 là 491300 tỉ đồng, tăng 23,1% so với dự toán năm 2008: số
tăng chi này tập trung cho các nhiệm vụ chính.
Về chi ngân sách nhà nước đã bố trí theo hướng cơ cấu lại các khoản chi tập trung chi cho an
sinh xã hội, đầu tư phát triển con người thông qua giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, đồng thời
thực hiện điều chỉnh tiền lương ở mức cao hơn so với lộ trình đã được duyệt.
Được xây dựng trong bối cảnh cơ sở dự báo tình hình kinh tế vãn còn khó khăn, diễn biến thất
thường của thị trường và các biện pháp kiềm chế lạm phát vẫn tiếp tục thực hiện, việc điều chỉnh
chính sách thuế tạo thuận lợi hơn cho sản xuất kinh doanh nhưng bước đầu làm giảm thu ngân
sách nhà nước.
Về cân đối ngân sách nhà nước:
Bội chi ngân sách nhà nước ở mức 4,82% GDP (giảm 3700 tỉ đồng so với tính bội chi ở mức
5%) để góp phần kiềm chế lạm phát.
Những vấn đề cần có giải pháp khắc phục trong tổ chức thực hiện:
Về thu ngân sách nhà nước: dự toán xây dựng vẫn còn chứa đựng các yếu tố rủi ro, chưa lường
hết, trong đó: thu nội địa từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào khả năng kiểm soát
lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô và phát triển sản xuất kinh doanh. thu dầu thô phụ thuộc vào yếu
tố sản lượng và đặc biệt là yếu tố giá dâng có biến động khó lường.
Dự toán chi ngân sách nhà nước da thực hiện cơ cấu lại để tăng cường an sinh xã hội, nhưng
vẫn còn khó khăn: dự toán chi đầu tư phát triển NSTW bố trí tăng 10,1% so với dự toán năm
2008, nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu, đòi hỏi phải rà soát, lựa chọn công trình, dự án quan
trọng để triển khai thực hiện. Đồng thời phải tăng cường huy động nguồn lực đầu vào tư từ các
thành phần kinh tế khác để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế.
● Một số nhu cầu chi chưa có khả năng bố trí đủ theo yêu cầu, như chi bù chênh lệch lãi suất
tín dụng ưu đãi, chi thu hồi vốn ứng theo kế hoạch …trong quá trình điều hành, trường hợp
có tăng thêm thu NSTW sẽ bổ sung nguồn xử lý.
● Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, đã bố trí giảm thâm hụt ngân sách nhà nước,
nhưng mức giảm chưa nhiều do nhu cầu an sinh xã hội và đầu tư phát triển còn lớn. Nếu

bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ sở,đặc biệt là trong trường hợp nền kinh tế đất
nước suy thoái.Khi sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng thì việc tài trợ số
thâm hụt của chính phủ bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ sở sẽ góp phần thực hiện
những mục đích của chính sách ổn định hoá kinh tế thông qua việc đưa nền kinh tế tiến
đến gần mức sản lượng tiềm năng mà không gây lạm phát.
Ngược lại,khi nhu cầu của nền kinh tế quá mạnh (sản lượng thực tế cao hơn mức
sản lượng tiềm năng ) thì chính phủ không nên tài trợ số thâm hụt của mình bằng cách
tăng nhanh lượng tiền cơ sở ,vì như vậy sẽ càng kích tổng cầu lên cao và đẩy sản lượng
thực tế vượt xa mức sản lượng tiềm năng,hậu quả là làm tăng lạm phát.
b. Thực trạng phát hành tiền bù đắp thâm hụt ở nước ta
Giai đoạn trước năm 1986, tình hình tài chính nước ta vô cùng yếu kém, thu không
đủ chi thường xuyên, thâm hụt ngân sách nhà nước luôn ở tình trạng cao quá mức, chi
tiêu Chính phủ chủ yếu nhờ vào sự viện trợ của nước ngoài là chính. Tuy nhiên, mức
thâm hụt quá lớn khiến việc bù đắp thâm hụt NSNN không chỉ phải vay trong và ngoài
nước mà còn phải lấy từ nguồn tiền phát hành.
Đơn vị: tỷ đồng
Năm Phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách
1984 0,4
1985 9,3
1986 22,9
1987 89,1
1988 450
1989 1.655
1990 1.200
Trong thời gian 5 năm 1986 - 1990, 59,7% mức thâm hụt của Ngân sách nhà nước
được hệ thống ngân hàng thanh toán bằng cách phát hành tiền. Trong bối cảnh mà tỷ lệ
tích lũy nội bộ của nền kinh tế còn rất thấp (có thể nói là không đáng kể), làm không đủ
ăn, tỷ lệ chi đầu tư phát triển lại quá lớn và nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách lại chủ yếu
do phát hành tiền như trên chính là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm
phát phi mã trong giai đoạn 1986-1990.

phiếu dưới các hình thức: tín phiếu kho bạc; trái phiếu kho bạc; trái phiếu công trình.
Đơn vị: tỷ đồng
Năm Số tiền vay trong nước để bù
Số bội chi
đắp bội chi ngân sách nhà nước
2010 98.700 119.700
2009 88.520 115.900
2008 51.200 66.200
2007 43.000 56.500
2006 36.000 48.500
2005 32.420 40.746
2004 27.450 34.703
2003 22.895 29.936
2002 18.382 25.597
Ưu điểm:
- Đây là biện pháp cho phép Chính phủ có thể duy trì việc thâm hụt ngân sách mà
không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế. Vì vậy, biện pháp này được
coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát.
- Tập chung được khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư,tránh được nguy cơ
khủng hoảng nợ nước ngoài, dễ triển khai.
Hạn chế :
Thứ nhất, chứa đựng nguy cơ kìm hãm sự phát triển của các hoạt động sản xuất,
kinh doanh của nền kinh tế.
Để vay được tiền chính phủ phải đa dạng hoá các hình thức vay như phát hành trái
phiếu, tín phiếu, công trái Đồng thời phải thực hiện nhiều biện pháp để tăng mức độ
hấp dẫn người cho vay như tăng lãi suất, mở rộng ưu đãi về thuế thu nhập ngoài ra còn
phải triển khai các biện pháp khác, kể cả tuyên truyền, vận động để huy động tối đa
nguồn tiền trong dân cư nhằm hoàn thành kế hoạch vay đã định.
Tuy nhiên, tổng lượng tiền mà nhân dân và các đơn vị có thể có để cho chính phủ
vay bị giới hạn trong tổng lượng tiết kiệm của xã hội. Nếu chính phủ huy động được

khi cũng tệ không kém, thị trường gần như không có thanh khoản.
b, Vay nợ nước ngoài
Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông
qua việc nhận viện trước nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước
ngoài, các định chế tài chính thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc
tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc
tế
Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên
chính phủ, các tổ chức quốc tế cung cấp cho chính phủ của một nước nhằm thực hiện các
chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển
chính thức ODA.
Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng
ngoaị tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng
Năm Số tiền vay nước ngoài để bù đắp
bội chi ngân sách nhà nước
(đơn vị tính: Tỷ Đồng)
Số bội chi
2010
21.000 119.700
2009 27.380 115.900
2008 15.000 66.200
2007 13.500 56.500
2006 12.500 48.500
2005 8.326 40.746
2004 7.253 34.703
2003 7.041 29.936
2002 7.125 25.597
Ưu điểm: nó là một biện pháp tài trợ ngân sách nhà nước hữu hiệu, có thể bù đắp
được các khoản bội chi mà lại không gây sức ép lạm phát cho nền kinh tế. Đây cũng là
một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc

thuế lớn nhất. Khi thuế suất nằm dưới mức tối ưu này, thì nâng thuế suất cho phép tăng
thu ngân sách. Nhưng nếu thuế suất đã cao hơn mức tối ưu này mà lại tiếp tục nâng thuế
suất thì số thu ngân sách chỉ giảm đi. Hàm ý của đường cong Laffer là khi thuế suất đang
ở mức cao, thì giảm thuế suất sẽ có lợi vì thu ngân sách tăng đồng thời lại khuyến
khích khu vực tư nhân hăng hái đầu tư.
- Ưu điểm: Khi còn trong vùng có thể chịu đựng được,tăng thuế suất thuế thu nhập
sẽ làm tăng nguồn thu ngân sách nhà nước,đồng thời còn kích thích các đối tượng mở
mang các hoạt động kinh tế,tăng khả năng sinh lời,một phần nộp ngân sách nhà nước,còn
lại là thặng dư cho mình.Trong trường hợp này,tăng thuế thu nhập có tác dụng kích thích
tăng trưởng kinh tế.
- Nhược điểm: Khi vượt qua giới hạn chịu đựng của nền kinh tế, tăng thuế suất trực
thu sẽ làm giảm nguồn thu từ thuế của ngân sách nhà nước và thúc đẩy trốn thuế ,lậu
thuế.
Trên thực tế, tăng thuế là giải pháp không dễ áp dụng và rất tốn kém. Tăng thuế có
khả thi hay không còn phụ thuộc vào sức chịu đựng của nền kinh tế, phụ thuộc vào hiệu
quả làm việc của hệ thống thu,phụ thuộc vào hiệu suất của từng sắc thuế. Trong thời kỳ
kinh tế suy thoái, hoạt động kinh tế mờ nhạt thì tăng thuế không những không khả thi mà
còn cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh,trực tiếp làm tăng số lượng nợ đọng thuế của
các doanh nghiệp, đẩy các doanh nghiệp vào tình trạng tài chính không lành mạnh và làm
giảm nguồn thu ngân sách.
Ở Việt Nam, năm 2009 Chính phủ đã giải quyết thâm hụt ngân sách bằng cách:
Tăng thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản. Liên quan tới các ưu đãi về thuế
TNDN: Từ 1-1-2009 thuế suất thu hẹp lại chỉ còn 10% và 20%, bỏ thuế suất ưu đãi 15%.
Các ưu đãi miễn giảm thuế thu hẹp lại, không mặc nhiên áp dụng cho các DN mới
thành lập hay đang đầu tư mở rộng nữa. Chỉ ưu đãi với các dự án đầu tư vào lĩnh vực
mang tính chất nhà nước đặc biệt khuyến khích.
Ví dụ: lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư
hạ tầng quan trọng, sản xuất phần mềm, các dự án đầu tư vào các khu kinh tế Mức để
miễn giảm thuế tối đa là miễn 4 năm giảm 9 năm.
Các doanh nghiệp đã thành lập trước ngày 1-1-2009 và đang được hưởng các ưu đãi

Chẳng hạn ở Việt Nam để tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hoá của ta, cần tăng
khả năng lưu thông,muốn tăng khả năng lưu thông cần giảm chi phí vận chuyển,muốn
giảm chi phí vận chuyển nhà nước cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, cải
tạo, hoàn thiện và xây mới các tuyến đường
Kết luận.
Có thể nói, thâm hụt ngân sách có tác động không nhỏ đến nền kinh vĩ mô. Do đó, Chính
phủ ta hiện nay đã đưa ra nhiều biện pháp để giảm thâm hụt ngân sách.Mỗi biện pháp này
đều có tác động tích cực cũng như tiêu cực đến nền kinh tế vĩ mô, đòi hỏi Chính phủ phải
linh hoạt điều chỉnh sao cho phù hợp với nền kinh tế nước ta. Đây không chỉ là vấn đề
của riêng Việt Nam mà ngay cả các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật, Trung Quốc,…
cũng đang gặp phải. Nếu giải quyết tốt vấn đề này nhà nước sẽ đem lại sự ổn định kinh tế
vĩ mô, phát triển kinh tế và tăng an sinh xã hội.
Tài liệu tham khảo.
http :// tailieu . vn /
http :// www . saga . vn / view . aspx ? id =11940
http :// vietbao . vn
http :// www . gso . gov . vn / default . aspx ? tabid =429& idmid =3
http :// www . chinhphu . vn / cttdtcp / vi / cpchxhcnvn / solieungansach
Chính sách tài khoá : Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Sách chuyên khảo / Nguyễn
Văn Dần
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
***
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
( Lần 1 )
Môn: Kinh tế vĩ mô 1.3
Nhóm: 08
LHP: 1119MAEC0111
Thời gian họp: Lúc 9h 30
Địa điểm: Trước nhà H1

( Lần 3 )
Môn: Kinh tế vĩ mô 1.3
Nhóm: 08
LHP: 1119MAEC0111
Thời gian họp: Lúc 3h 00
Địa điểm: Trước nhà H1
Thành viên trong nhóm 4 người.
NỘI DUNG:
Cả nhóm họp để chỉnh sửa và bổ sung cho bài thảo luận và slide.
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2011
Thư ký Nhóm trưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status