Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Bài tiểu luận kinh tế vĩ mô
1
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
MỤC LỤC
2
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
A.KHÁI NIỆM VỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH
I – KHÁI NIỆM NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC & THÂM HỤT NGÂN SÁCH
1.Ngân sách nhà nước:
a) Khái niệm:
Chính phủ sử dụng ngân sách để lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt động
tài khóa của mình. Một ngân sách, trong một năm nhất định, cho biết các
khoản chi theo kế hoạch của các chương trình chính phủ và thu dự kiến từ
hệ thống thuế. Ngân sách thường bao gồm một danh mục các chương
trình cụ thể (giáo dục, phúc lợi, quốc phòng…) cũng như các nguồn thuế
(thuế thu nhập cá nhân, thuế bảo hiểm xã hỗi…).
b) Chức năng:
Ngân sách của chính phủ phục vụ 3 chức năng kinh tế chính:
Thứ nhất, nó là một công cụ mà theo đó sản lượng quốc gia được phân
chia giữa tiêu dùng, đầu tư tư nhân và công cộng.
Thứ hai, thông qua chi tiêu trực tiếp và các khuyến khích gián tiếp về
thuế, ngân sách của chính phủ tác động đến cung các đầu vào như lao
động, vốn và tác động đến đầu ra của các khu vực từ ô tô cho đến đàn
vĩ cầm.
Thứ ba, chính sách tài khóa của chính phủ hay ngân sách có vai trò
trong việc tác động đến những mục tiêu vĩ mô then chốt.
Chính xác hơn, nói đến chính sách tài khóa có nghĩa là chúng ta nói
đến quá trình xây dựng thuế khóa và chi tiêu công cộng nhằm hạn chế
những dao động của chu kỳ kinh doanh và góp phần duy trì một nền
kinh tế tăng trưởng, có mức hữu nghiệp cao, tránh được lạm phát lớn
Việc phân biệt giữa ngân sách cơ cấu và ngân sách chu kỳ phản ánh sự khác
nhau giữa chính sách tài chính: chính sách ổn định tùy biến và chính sách ổn
định tự động.
Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh
giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài
chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào
giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng
giai đoạn của chu kỳ kinh tế.
II – NGUYÊN NHÂN GÂY THÂM HỤT NGÂN SÁCH
Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác
nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thâm hụt
ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau:
4
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
1. Thất thu thuế nhà nước
Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh
các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nướcvay, nhận viện
trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa
chặt chẽ đã tạo kẻ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất
thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước…điển hình, trong năm 2008
lượng thuốc lá nhập lậu vào nước ta đã làm thất thu thuế, lấy đi của ngân
sách nhà nước 2.500- 3000 tỉ đồng. Ngoài ra, lượng thuốc lá nhập lậu còn
làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia
tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh
nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên,việc
miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân
sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước.
2.Đầu tư công kém hiệu quả
Trong 2 năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ
hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.
5.Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn.
Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời
trong ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát
và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu
cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Lý
thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của
chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế
thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một
ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ nguồn
lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối
cùng là gây ra lạm phát.
6.Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn được
sử dụng như một công cụ trong chính sách tài khóa để kích thích sự
tăng trưởng kinh tế
Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra điều này thông qua cân đối NSNN hằng
năm. Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác
định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi
cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thường
tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội
cho phép chuyển nguồn sang năm sau. Đây là chính sách ngân sách thận
trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gây
xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm tra
xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho các dự án
trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền
kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không.
6
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
III- Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước đối với nền kinh tế:
1.Thâm hụt ngân sách và vấn đề thoái lui đầu tư:
xuất khẩu ròng. Vậy, trong trường hợp cực đoan thoái lui 100%, phản ứng này
mạnh đến nỗi đường chi tiêu (tổng cầu) mới dịch chuyển xuống quay trở lại vị
trí của đường tổng cầu ban đầu. Nói cách khác là thắt chặt tiền tệ đã làm triệt
tiêu toàn bộ sự mở rộng tài khóa.
Phản ứng tiền tệ có thể dẫn đến thoái giảm đầu tư hoàn toàn
Chi tiêu Chính phủ làm tăng tổng cầu, nhưng lãi suất cao hơn dẫn đến sự
giảm sút của đầu tư và xuất khẩu ròng (do việc tăng tỷ giá hối đoái của đồng
nội tệ). Cuối cùng lãi suất phải tăng đủ mạnh để giảm đầu tư và xuất khẩu
ròng đúng bằng lượng G đã tăng lên.
Tóm lại, trong trường hợp cực đoan của phản ứng tiền tệ mạnh, đầu tư bị
thoái lui 100% do sự tăng lên trong chi tiêu của Chính phủ. Thoái lui có thể xảy
ra khi NHTW có hành động nhằm triệt tiêu tác động mở rộng tài khóa thông
qua thắt chặt tiền tệ. Từ đồ thị trên ta có thể thấy 2 bước:
Bước 1: Tăng chi tiêu bằng tiền cho hàng hóa và dịch vụ làm dịc chuyể đường
tổng cầu (C+I+G+NX) lên đến đường tổng mới (C+I+G’+NX).
8
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Bước 2: Phản ứng của tiền tệ làm tăng lãi suất và làm giảm những bộ phận
nhạy cảm với lãi suất, dẫn đến tổng cầu giảm xuống đường (C+I”+G’+NX”) và
điểm cân bằng mới là điểm E”, đúng với điểm cân bằng lúc ban đầu tại điểm E.
Trong trường hợp này đầu tư và xuất khẩu ròng bị chi tieeucuar Chính phủ
làm thoái lui hoàn toàn.
Mục đích của việc nghiên cứu cơ chế này là giúp ta có giải pháp để phối hợp
giữa các chính sách kinh tế trong việc ổn định hóa nền kinh tế.
Nghịch lý của khuyến khích đầu tư: Một trường hợp ực đoan lien quan
đến nghịch lý của tiết kiệm, xảy ra khi đầu tư trên thực tế được khuyến khích
bằng những thâm hụt lớn. Lập luận này có cơ sỏ như sau: Lãi suất cao không
khuyến khích đầu tư. Mặt khác sản lượng cao hơn kích thích đầu tư (theo
nguyên tắc gia tốc) do các doanh nghiệp mua nhiều vốn hơn và nhà xưởng
hiện tại được tận dụng nhiều hơn. Từ đó đầu tư có thể được chính sách tài
+ Tiền dự trữ trong các ngân hàng.
10
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Như vậy cả B và H đều là công nợ của Chính phủ. nhưng khác biệt duy nhất
giữa B và H là các trái phiếu (B) thì được trả lãi, còn lượng tiền cơ sở (H) thì
không. Từ đây ta có thiết lập một phương trình như sau:
(G – T) + (i*B)/P = ΔB/P + ΔH/P
Trong phương trình trên, (G – T) được gọi là số thâm hụt cơ bản tức là
thâm hụt mà Chính phủ phải trang trải, không kể những khoản lãi phải trả
cho những trái phiếu chưa đến hạn thanh toán. Do G và T được biểu hiện
bằng số tiền thực tế vì vậy để đảm bảo tính thống nhất thì ta chia các số hạng
còn lại cho mức giá chung (P).
Qua đây, ta cũng có thể thấy 2 phương pháp có thể dùng để tài trợ thâm
hụt ngân sách của Chính phủ đó là: Phát hành thêm trái phiếu của Chính phủ,
được biểu thị bằng ΔB và phát hành thêm khối lượng tiền cơ sở, được biểu
thị bằng ΔH. Vì vậy, phương trình trên còn được gọi là phương trình biểu
thị tài trợ thâm hụt ngân sách của Chính phủ.
Ta sẽ xem xét tác động của lạm phát đến thâm hụt ngân sách Nhà nước.
Lạm phát làm tăng lãi suất danh nghĩa (i), như vậy các nhân tố trong
phương trình trên sẽ có sự biến động. Tuy nhiên, với tác động phân phối lại
của cải một cách ngẫu nhiên, thì lạm phát cũng làm dễ dàng hơn cho Chính
phủ. Để làm rõ vấn đề này ta sẽ đi từ phương trình biểu thị tài trợ thâm hụt
ngân sách ở trên:
(G – T) + (i*B)/P = ΔB/P + ΔH/P
11
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
(G – T) + (i*B)/P = (ΔB/P)*(B/B) + (ΔH/P)*(H/H)
(G – T) + (i*B)/P = (ΔB/B)*(B/P) + (ΔH/H)*(H/P)
Ở đây, trong phương trình này ta có:
• (ΔB/B)*(B/P): là tích số giữa tỷ lệ % thay đổi trong trái phiếu (ΔB/B)
Hai là: Chính Phủ có thể được lợi nếu lạm phát làm cho lãi suất danh nghĩa
tăng ít hơn bản thân mức tăng của lạm phát.
Bội chi ngân sách nhà nước (hay còn gọi là thâm hụt ngân sách nhà
nước) có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy
theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt. Nói chung nếu tình trạng bội chi
ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ảnh hưởng
tiêu cực.
Tích cực
Sự thâm hụt ngân sách trong những năm qua được sử dụng như là một
công cụ củachính sách tài khóa để tăng trưởng kinh tế.
Tiêu cực
Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm tiết kiệm nội
địa, giảm đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai,
giảm tăng trưởng trong dài hạn.
Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối với
năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ
vọng của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước
sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt.
13
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc
phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn tới
lạm phát.
Gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ làm tăng nợ quốc gia, khiến sự tăng
trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại.
Thâm hụt còn làm cho các nhà hoạt động chính sách không thể hoặc
không sẵn sàng sử dụng các gói kích thích tài chính đúng thời điểm.
Để bù lại các khoản thâm hụt chính phủ buộc phải tăng thuế hoặc vay
nợ thông qua phát hành trái phiếu. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn
thất vô ích về phúc lợi xã hội và các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớn hơn,
200
5
40.746 4,86%
200
6
48.500 5%
200
7
56.500 5%
200
8
66.200 4,95%
200
9
142.355 6,9%
201
0
119.700 6,2%
Giảm một cách đáng kế thâm hụt ngân sách Nhà nước được coi là thành
tựu đáng kể của quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta. Thành tựu này đă góp phần
to lớn vào quá trình đẩy lùi lạm phát ở nước ta cuối những năm 80. Giảm thâm
hụt ngân sách đạt được là do kết quả của những biện pháp cứng rắn như cắt
giảm chi tiêu chính phủ, xóa bỏ dần các loại trợ cấp qua giá, lương, trợ cấp cho
xí nghiệp quốc doanh… Nhiều năm thâm hụt giảm xuống dưới 5% so với GDP
– một kết quả đáng khích lệ.
15
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tình hình thâm hụt ngân sách của Việt Nam từ 2000 đến 2008
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
20
+trong giai đoạn 2000-2008, tổng chi luôn lớn hơn tổng thu, khoảng
chênh lệch thu – chi ngày càng tăng.
+ tốc độ tăng thâm hụt diễn ra liên tục và ngày càng nhanh, đặc biệt là
giai đoạn 2007 – 2008.
+ tỷ trọng tăng thâm hụt trong GDP cao, hầu hết trên 5%.
+tốc độ tăng thâm hụt chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: thiên tai,
suy giảm kinh tế, kích cầu dẫn tới tốc độ tăng thâm hụt đột biến năm
2007- 2008; tình hình thế giới ( giá dầu, suy thoái).
Năm 2007: tổng cục Thống kê cho biết, tổng thiệt hại do thiên tai, chủ yếu là do
sạt lở đất, mưa to và bão lũ gây ra ở 50 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm
2007 ước tính lên tới trên 11.600 tỷ đồng, bằng khoảng 1% GDP; giá dầu thô
trên thị trường thế giới năm 2007 giảm->giảm thu ngân sách,giảm thếu nhập
khẩu xăng dầu, trợ giá cho xăng dầu_>tăng mức thâm hụt
16
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Năm 2008: chính phủ kích cầu nền kinh tế, trị giá gói kích thích lên tới … tỷ
USD->tăng thâm hụt 8-12%GDP, giảm thu từ thuế
Năm 2009:
Riêng IMF đã yêu cầu Chính phủ Việt Nam giám sát chặt chẽ các khoản chi tiêu
công. Theo đại diện của IMF, thì thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong năm
2009 đã lên tới 9% GDP, theo cách tính của IMF. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so
với mức Việt Nam công bố chỉ là 6,9% GDP.
Năm 2010:
Bội chi ngân sách năm 2010 ở mức 6.2% GDP, giảm đáng kể so với năm
2009(6,9% GDP).
II – BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ MỐI LIÊN HỆ ĐẾN LẠM PHÁT VÀ MẤT CÂN
ĐỐI VĨ MÔ
Bội chi ngân sách nhà nước (hay còn gọi là thâm hụt ngân sách nhà nước)
có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy theo tỉ lệ
thâm hụt và thời gian thâm hụt. Nói chung nếu tình trạng bội chi ngân sách nhà
Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối với
năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm phát
kỳ vọng của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ
trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt.
Thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc
phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn
tới lạm phát.
Gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ làm tăng nợ quốc gia, khiến sự tăng
trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại.
Thâm hụt còn làm cho các nhà hoạt động chính sách không thể hoặc
không sẵn sàng sử dụng các gói kích thích tài chính đúng thời điểm.
Để bù lại các khoản thâm hụt chính phủ buộc phải tăng thuế hoặc vay nợ
thông qua phát hành trái phiếu. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn
thất vô ích về phúc lợi xã hội và các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớn
hơn, làm giảm động lực sản xuất và khả năng cạnh tranh. Đồng thời mức
tiêu dùng cũng giảm->giảm tổng cầu.
Tóm lại: Thâm hụt ngân sách cao, kéo dài đe dọa sự ổn định vĩ mô.
18
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
C. GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH VIỆT NAM
I – CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THÂM HỤT NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách ngân sách (hay chính
sách tài khóa) của Chính phủ trong thời gian qua chỉ hướng đến mục đích giảm
chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên) và qua đó giảm tổng cầu.
Cụ thể là Chính phủ chỉ thị: (i) Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng
nhà nước; (ii) Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của doanh
nghiệp nhà nước(Doanh nghiệp nhà nước); (iii) Cắt giảm chi thường xuyên của
bộ máy nhà nước các cấp.
Tổng đầu tư của Nhà nước (từ ngân sách, tín dụng nhà nước và thông qua
Doanh nghiệp nhà nước) luôn chiếm trên dưới 50% tổng đầu tư của toàn xã hội.
Chính sách giảm tổng cầu thông qua thắt chặt chi tiêu công là đúng đắn, cần
thiết nhưng chưa đủ. Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ thực sự có
hiệu lực nếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo những khoản đầu
tư còn lại có hiệu quả. Đầu tiên là phải có cơ chế quản lý đầu tư công sao cho
những dự án kém hiệu quả (như chương trình 5 triệu tấn đường hay đánh bắt xa
bờ) bị loại bỏ ngay từ đầu. Sau đó, phải đảm bảo dự án được tiến hành đúng tiến
độ và không bị thất thoát, lãng phí (như dự án 112 và các dự án đầu tư xây dựng
cơ bản - được ước lượng là thất thoát trung bình 30%).
Một trong những biện pháp có thể được sử dụng để cải thiện cơ chế quản lý đầu
tư công là thành lập một hội đồng thẩm định đầu tư công độc lập. Một nguyên
nhân quan trọng của tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công là do quá
trình ra quyết định đầu tư của chính quyền địa phương và các bộ ngành chủ
quản chịu ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và do vậy thiếu khách quan. Vì vậy,
nhiệm vụ của ủy ban độc lập này là đánh giá, thẩm định một cách toàn diện và
khách quan các dự án có quy mô vượt quá một quy mô đầu tư nhất định nào đó.
Kết luận của Hội đồng thẩm định này sau đó được công bố rộng rãi. Tương tự
như vậy, báo cáo kiểm toán cácdoanh nghiệp nhà nướcvà dự án đầu tư công lớn
cũng phải được công khai.
Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi tiêu, Chính phủ
cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngân sách phụ
thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và
thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân
(hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi con số này ở các nền
kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản. Thật bất công và kém
hiệu quả khi nhiều người sau một đêm trở thành triệu phú nhờ vào việc Nhà
nước đầu tư cơ sở hạ tầng (Cơ sở hạ tầng) tại nơi họ có bất động sản, trong khi
20
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
lại không phải đóng góp gì cho ngân sách nhà nước. Áp dụng thuế bất động sản
đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững cho ngân sách nhà nước, đồng thời
ngược lại. Do đó, cơ hội tăng thuế đối với Chính phủ chủ yếu đến từ việc tăng
thuế thu nhập cá nhân. Đây là đối tượng còn dư địa cho chính sách thuế, nhưng
cũng chưa cải thiện được về quy mô trong ngắn và trung hạn vì đối tượng thu
thuế và số thu thuế hiện không đáng kể (chỉ khoảng 8.000 – 10.000 tỷ
21
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
đồng/năm). Do đó, việc tăng thuế để cải thiện nguồn thu có tính khả thi thấp
trong điều kiện hiện nay.
Vì thế, Chính phủ sẽ buộc phải tài trợ cho ngân sách bị thâm hụt trong
thời gian tới chủ yếu thông qua vay nợ. Có 2 nguồn vay nợ: trong nước và nước
ngoài.
Đối với nguồn thứ nhất thì hậu quả là khiến lãi suất chung bị ghìm giữ ở
mức cao. Do đó, việc vay nợ nội địa quy mô lớn khiến cho mặt bằng lãi suất cao
hoặc không duy trì được mức thấp để hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi kinh tế.
Đối với nguồn thứ hai thì việc vay nợ thành công từ nước ngoài đồng thời
có thể tài trợ cho thâm hụt trên cán cân thanh toán. Tuy nhiên, việc vay nợ nước
ngoài thường xuyên và quy mô ngày càng tăng có thể dẫn tới những rủi ro rất
cao như từng thấy ở các nước Mỹ La tinh những năm 1980 – 1990.
*Đến nay Việt Nam vẫn chưa có chiến lược thực hiện giảm thâm hụt
ngân sách trung và dài hạn, việc dự toán ngân sách hàng năm vẫn mang tính
đối phó cấp thời, không có lộ trình thực hiện giảm thâm hụt ngân sách.
Các mục tiêu chính sách của các bộ ngành, địa phương bị đẩy vào ngân
sách một cách ồ ạt, thiếu sự lựa chọn hợp lý. Ngành nào, địa phương nào cũng
kêu ngân sách chưa đáp ứng nhu cầu nhưng đầu tư, phát triển thì phân tán, chỗ
nào cũng đầu tư nhưng không đủ vốn nên hiệu quả rất thấp, lãng phí diễn ra
khắp nơi.
* Cắt giảm chi tiêu nhằm giảm thâm hụt ngân sách.
Cụ thể là Chính phủ chỉ thị: (i) Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín
dụng nhà nước; (ii) Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của
doanh nghiệp nhà nước; (iii) Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước
cần thiết nhưng chưa đủ. Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ thực sự
có hiệu lực nếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo những khoản
đầu tư còn lại có hiệu quả. Đầu tiên là phải có cơ chế quản lý đầu tư công sao
cho những dự án kém hiệu quả (như chương trình 5 triệu tấn đường hay đánh
bắt xa bờ) bị loại bỏ ngay từ đầu. Sau đó, phải đảm bảo dự án được tiến hành
đúng tiến độ và không bị thất thoát, lãng phí (như dự án 112 và các dự án đầu tư
xây dựng cơ bản - được ước lượng là thất thoát trung bình 30%).
Một trong những biện pháp có thể được sử dụng để cải thiện cơ chế quản
lý đầu tư công là thành lập một hội đồng thẩm định đầu tư công độc lập. Một
nguyên nhân quan trọng của tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư công là
do quá trình ra quyết định đầu tư của chính quyền địa phương và các bộ ngành
chủ quản chịu ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và do vậy thiếu khách quan. Vì
vậy, nhiệm vụ của ủy ban độc lập này là đánh giá, thẩm định một cách toàn diện
và khách quan các dự án có quy mô vượt quá một quy mô đầu tư nhất định nào
đó. Kết luận của Hội đồng thẩm định này sau đó được công bố rộng rãi. Tương
tự như vậy, báo cáo kiểm toán các Doanh nghiệp nhà nướcvà dự án đầu tư công
lớn cũng phải được công khai.
Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi tiêu,
Chính phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngân
sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền vững từ
dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập
cá nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi con số này ở
các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản. Thật bất công
và kém hiệu quả khi nhiều người sau một đêm trở thành triệu phú nhờ vào việc
Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng tại nơi họ có bất động sản, trong khi lại
không phải đóng góp gì cho ngân sách nhà nước. Áp dụng thuế bất động sản
đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững cho ngân sách nhà nước, đồng thời
23
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
giúp Nhà nước thực hiện được các chương trình đầu tư Cơ sở hạ tầngvì quốc kế
của Việt Nam, bởi đây là năm đầu tiên thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội 5 năm 2011- 2015 và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-
2020. Đồng thời cũng là năm tiền đề để Việt Nam chuyển sang thực hiện
chương trình tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm nâng cao sức
cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Vì thế, cần có các giải
pháp chính sách không chỉ cho năm 2011 mà còn cả trong những năm tiếp theo.
Thứ nhất, đặt ưu tiên vào ổn định kinh tế vĩ mô. Nhiệm vụ điều hành ổn
định kinh tế vĩ mô trong thời gian tới tiếp tục rất phức tạp và khó khăn, đòi hỏi
24
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Chính phủ và các cơ quan chức năng phải bám sát tình hình, có những chính
sách, giải pháp chỉ đạo điều hành kịp thời và linh hoạt. Các định hướng chính
sách kinh tế vĩ mô của chính phủ trong cả năm cần được công bố ngay từ đầu
năm để cho người dân và doanh nghiệp được biết. Những dự kiến thay đổi cụ
thể về chính sách ở từng thời điểm cụ thể trong năm chỉ nên công bố khi chắc
chắn sẽ thực hiện. Cùng với thông tin về quyết định chính sách, các thông tin
kinh tế vĩ mô (như nhập siêu, bội chi ngân sách, dự trữ ngoại hối, cán cân thanh
toán, nợ quốc gia…) phải được công khai, minh bạch ở mức cần thiết để người
dân và doanh nghiệp tránh bị động trong sản xuất kinh doanh. Cần có cơ chế
phối hợp đồng bộ, toàn diện hơn nữa giữa các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt
là sự phối kết hợp chặt chẽ ngay từ khâu hoạch định chính sách tiền tệ, chính
sách tài khoá, chính sách tỷ giá và các chính sách khác để giải quyết và đạt được
các mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường ngoại tệ. Chính phủ cũng
cần nâng cao năng lực dự báo và tăng cường phối hợp trao đổi thông tin giữa
các cơ quan dự báo và cơ quan giám sát để đảm bảo thống nhất khi công bố.
Thứ hai, đảm bảo ổn định các cân đối vĩ mô. Đối với vấn đề bội chi ngân
sách, chính phủ cần xác định rõ lộ trình và giải pháp cho việc giảm bội chi và
tiến tới cân đối ngân sách một cách tích cực. Cần cải cách lại cơ chế cấp phát
ngân sách và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi nhằm đảm bảo chi ngân sách có
hiệu quả. Chi ngân sách cần gắn liền với công khai, minh bạch và dân chủ. Xây