Tiểu luận triết ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC ARISTOTLE ĐẾN NỀN CHÍNH TRỊ HY LẠP CỔ ĐẠI - Pdf 24


ĐỀ TÀI TRIẾT HỌC:






 !"#
$
%&'()*'+,'-*./0*1203/0
45%67)1*89
5)*'):*7*.
50;<'=2;
>?5.@ABC'=900
Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị của Hy Lạp cổ đại
DEFGH4I



Thuyết nguyên nhân – cơ sở của Siêu Hình học 3
Thuyết vận động – cơ sở của Vật lý học 4
Quan niệm về sinh thể, con người và linh hồn 4
Quan niệm về nhận thức 5
Quan niệm về đạo đức 5
Quan niệm về chính trị- xã hội 6
3. Phần II: Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị Hy Lạp cổ đại 7
2.1. Lý thuyết về gia đình 7
2.2. Các nhà nước lý tưởng trên lý thuyết 8
2.3. Bản chất công dân trong xã hội Hy Lạp 9
2.4. Thành phần nắm quyền trong xã hội 10
2.5. Các dạng khác nhau của mô hình hiến pháp trong thực thế 10
2.6. Nguyên nhân của cách mạng và sự thay đổi chế độ 11
2.7. Các phương thức thiết lập Dân chủ 13
2.8. Các lý tưởng chính trị 14
4. Kết luận 15

Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị của Hy Lạp cổ đại
5
1. TS. Bùi Văn Mưa ( 2012) , Đại cương về lịch sử triết học, dành cho học viên cao học và
nghiên cứu sinh không thuộc ngành triết học.
2. TS. Bùi Văn Mưa (2012), TP.HCM, Triết học và Bức tranh Vật lý học về thế giới, NXB
Đại học Quốc gia TP . Hồ Chí Minh.
3.Nguyễn Văn Vĩnh ( 2007), Lý luận chính trị, Aristotle và Hàn Phi Từ - Con người chính
trị và thể chế chính trị.
4. Nguyễn Văn Dũng ( 1994), Học thuyết phạm trù của Aristotle và ý nghĩa của nó trong
triết học Hy Lạp cổ đại, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia.
JJ5
[ 1 ] Ernest Barker, The Politics of Aristotle, Oxford University Press, 1956.
[ 2 ] Sđd., trang 14 .

và khoa học nhìn lại những mặt hạn chế của tư tưởng triết học Aristotle và khẳng định lại
những giá trị mà Aristotle đã cống hiến cho nhân loại để từ đó có thể tiếp thu những nét
tinh hoa và cố gắng loại bỏ dần những mặt hạn chế để có thể xây dựng được nền văn hóa
tiên tiến nhất. Chính vì lý do này nên em đã chọn đề tài P*''8Q*.RS9,N):,'TR
N)U,V,WXY:**Z*R'(*',N[A\?R]Y\)^.
Do kiến thức còn hạn hẹp nên trong bài viết còn nhiều thiếu sót mong thầy giúp đỡ
em hoàn thành đề tài tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị của Hy Lạp cổ đại
_5`abc
/%/% d'e*','@*'f@?'-,,N)g*RS9,N):,'TRN)U,V,WX%
- Cơ sở đặt nền móng cho việc hình thành tư tưởng Triết học Aristotle:
Aristotle không những là một trong những triết gia vĩ đại của Cổ Hy Lạp mà còn của
thế giới Tây phương. Ông sinh năm 384 và mất năm 322 (BC) tại Stagira, một thị trấn nhỏ
phía đông thành phố Salonica, sát biên giới vương quốc Macedonia. Xuất thân từ một gia
đình trí thức, cha của Aristotle là ngự y của vua Macedonia nên từ nhỏ, Aristotle đã được
học về thiên nhiên và sinh vật qua quan sát cũng như qua các tài liệu y học của phụ thân.
Mười bảy tuổi, Aristotle tới Athens du học, đúng vào thời điểm Athens vừa được hồi
sinh sau cuộc chiến với Sparta và mau chóng trở thành trung tâm văn hóa của toàn khu
vực nói tiếng Hy Lạp. Athens được coi là quê hương của kịch nghệ, của ngôn ngữ thời
thượng, trung tâm buôn bán và trao đổi sách vở của toàn cõi Hy Lạp. Ngoài văn chương
và thương mại, Athens cũng là trung tâm của học thuật . Tại đây, Aistotle theo học tại Học
Viện dưới sự hướng dẫn của Plato trong suốt 20 năm và nghiên cứu đủ mọi ngành học
thuật từ toán học, văn học, sinh vật học cho đến triết học. Có thể nói Aristotle không chỉ là
một sinh viên mà đã trở thành trợ giáo của Plato tại Học Viện.[1] Aristotle chú trọng đặc
biệt đến siêu hình học -môn học nghiên cứu về "ý tưởng," những gì bên ngoài và ở bên kia
thực tại, không phụ thuộc vào giác quan- cùng thiên văn học và chính trị học.
Đối với Aristotle, Plato là một người thầy vĩ đại, và xứng đáng là một vĩ nhân, như
trong những vần thơ ai điếu do Aristotle viết cho thầy: "Ông (Plato) là một người mà kẻ
xấu cũng không được quyền ca tụng, người duy nhất và có lẽ là người đầu tiên đã chứng

Các tác phẩm của Aristotle viết về hiến pháp và lịch sử hiến pháp của Athens cho thấy ông
cũng theo sát những diễn biến chính trị của Athens do Lycurgus, một chính trị gia lỗi lạc
của Athens và cũng đồng thời là bạn đồng song với Aristotle, tiến hành tại Athens.
Lycurgus là lãnh tụ của đảng dân chủ theo chủ trương của Demosthenes là khôi phục lại vị
thế của Athens trước khi bị Alexander thống trị.
Sau khi Aristotle qua đời, có hai sự kiện chứng tỏ ảnh hưởng của Aristotle trên nền
chính trị của Athens. Sự kiện thứ nhất là Bản Hiến pháp của Athens do Antipater soạn
thảo năm 321 sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy của Athens 2 năm trước đó. Bản Hiến pháp
Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị của Hy Lạp cổ đại
này phản ảnh tư tưởng chính trị của Aristotle và tiếp nối chính sách của Lycurgus như sau:
quyền đầu phiếu giới hạn trong số dân Athens có tài sản từ 2000 drachmas trở lên, nghĩa là
giới hạn trong giới trung lưu; những người có một số tài sản vừa phải và còn trẻ để làm
nghĩa vụ quân sự. Sự kiện thứ hai là việc Demetrius, học trò của Aristotle, lên cai trị
Athens và biến những gì Aristotle đã dạy tại Lyceum thành luật.
/%; 'h*.,8,8Q*.,N):,'TRRijk*RS9,N):,'TR*'[*.MAl*N)U,V,WX%
- Thuyết nguyên nhân – cơ sở của Siêu Hình học: Aristotle cho rằng, tồn tại nói
chung phải xuất phát từ bốn nguyên nhân cơ bản : vật chất ( vật liệu ) , hình thức
(hình dạng), vận động (thao tác) và mục đích (cứu cánh) ; trong đó, hình thức và
vật chất giữ vai trò quan trọng nhất (nhị nguyên luận). Tuy nhiên, ông lại cho rằng,
hình thức có vai trò quyết định hơn so với vật chất ( nhất nguyên luận duy tâm); bởi
vì, nếu không có hình thức thì vật chất chỉ là khả năng thụ động chứ không phải là
hiện thực. Hình thức là thực chất của tồn tại, là bản chất tích cực của sự vật; nó
chứa trong mình vận động được, còn vận động của sự vật là một quá trình khách
quan diễn ra theo những trình tự xếp đặt trước, tức có mục đích của Thượng dế.
- Thuyết vận động – cơ sở của Vật lý học: Aristotle cho rằng, giới tự nhiên là toàn bộ
các sự vật, quá trình luôn vận động có liên hệ với nhau và được cấu thành từ một
bản thể vật chất. Vận động không thể bị tiêu diệt và cũng không thể tách ra khỏi sự
vật, quá trình tự nhiên. Có sáu hình thức vận động là phát sinh, tiêu diệt, thay đổi
trạng thái, tăng, giảm, di chuyển vị trí. Aristotle cho rằng, vũ trụ là hữu hạn, liên
tục và khép kín trong không gian nhưng vĩnh viễn về thời gian. Vạn vật trong vũ trụ

càng có nhiều tri thức hay tư tưởng phù hợp với hiện thực khách quan; còn thực
tiễn, cuộc sống là tiêu chuẩn để xác định sự phù hợp đó… Muốn đạt được chân lý,
tránh sai lầm trong quá trình tìm hiểu bản chất, khám phá quy luật của hiện thực
khách quan thì linh hồn lý tính phải được trang bị các phương pháp suy nghĩ đúng
đắn, phải tuân thủ những yêu cầu của logic học. Đó là tuân theo yêu cầu của quy
luật đồng nhất, quy luật phi mâu thuẫn, quy luật triệt tam; hướng tư duy theo các
quy tắc tam đoạn luận… Bộ Organon của Aristotle đã đặt nền móng vững chắc cho
bộ môn logic hình thức.
- Quan niệm về đạo đức : Aristotle coi đạo đức học là sự mở rộng nhận thức vào
lĩnh vực hành vi con người. Khi phủ nhận quan điểm Platon coi hạnh phúc của con
người gắn liền với thế giới ý niệm, Aristotle cho rằng : Ngu dốt, sai lầm là nguồn
gốc của cái ác; lý trí và lẽ phải đời thường là cơ sở của điều thiện, là nền tảng của
Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị của Hy Lạp cổ đại
phẩm hạnh của con người. Phẩm hạnh của con người nếu có được nhờ vào việc
hiểu thấu và làm theo chân lý thì đó là phẩm hạnh lý tính; còn phẩm hạnh của con
người có được nhờ vào thói quen làm theo lẽ phải đời thường thì đó là phẩm hạnh
luân lý. Con người cảm thấy khoái lạc khi bản thân sống có đức hạnh, khi mình làm
điều thiện một cách tự nhiên. Khoái lạc chỉ là một cơ sở của cuộc sống trần gian,
gắn liền với bản tính tự nhiên của mình. Hạnh phúc của con người không chỉ bị chi
phối bởi các yếu tố chủ quan như sự không ngoan của lý trí, đức hạnh trong hành
vi, sự khoái lạc trong trạng thái… mà còn bị chi phối bởi các điều kiện khách quan
như tiền bạc, sức khỏe, tình bạn, xã hội công bằng… Vậy theo Aristotle, đời sống
đạo đức, hạnh phúc của con người không nằm trong thế giới ý niệm trên trời mà
nằm trong thế giới hiện thực dưới đất, nơi trần gian; đồng thời chúng phụ thuộc và
điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của từng người trong cộng đồng xã hội.
- Quan niệm về chính trị- xã hội: Aristotle coi chính trị học là sự khai triển đạo đức
học vào trong đời sống xã hội. Aristotle vận dụng thuyết trung dung xây dựng lý
luận về nhà nước. Theo Aristotle , con người không chỉ là sinh thể biết nhận thức,
biết sống có đạo đức mà còn là một động vật chính trị. Con người không thể sống
ngoài cộng đồng, bên ngoài sự giao tiếp. Nhà nước là một hình thức giao tiếp cộng

quần tụ của con người từ đơn vị nhỏ nhất là gia đình, đến làng mạc, rồi đến quốc gia.
- Vai trò của nô lệ trong xã hội Hy Lạp cổ đại:
Aristotle nhắc đến vai trò của nô lệ khi phân tích các thành phần tạo nên hộ gia đình.
Mối tương quan trong hộ gia đình gồm có quan hệ giữa chủ nhân và nô lệ, giữa chồng và
vợ, giữa cha mẹ với con cái. Lập luận của Aristotle về nô lệ dĩ nhiên là không còn hợp với
thời đại chúng ta, nhưng nô lệ là một thành phần không thể thiếu được trong xã hội Hy lạp
thuở đó. Như đã dẫn trên đoạn bối cảnh lịch sử, người Hy Lạp chuộng xa hoa, không ưa
lao động chân tay, nên nền kinh tế dựa vào sức lao động của nô lệ chính là để sản xuất.
Không có nô lệ để sản xuất và phụ nữ lo việc nhà thì đàn ông Hy lạp không còn thì giờ để
mà suy tưởng những việc cao xa,[4].
Theo Aristotle, có hai loại nô lệ: những kẻ sinh ra đã là nô lệ và những kẻ bị buộc làm
nô lệ. Aristotle lập luận như sau: những kẻ nào mà trời sinh ra kém thông minh, không làm
gì được khác hơn là chỉ làm những việc lao động chân tay, thì những kẻ ấy trời sinh ra làm
Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị của Hy Lạp cổ đại
nô lệ; đó là những kẻ không có đủ trí phán đoán khôn ngoan. Ngoài ra, những kẻ chiến bại
là những kẻ bị buộc làm nô lệ. Người Hy lạp, trong đó có Aristotle, lý luận rằng những kẻ
chiến bại chắc chắn phải "kém" hơn người chiến thắng chứ nếu không thì thua làm sao
được? Như vậy, bị bắt làm nô lệ thì cũng hợp với luận lý mà thôi.
- Aristotle luận về vai trò phụ nữ trong hộ gia đình ở xã hội Hy Lạp cổ đại:
Theo Aristotle quan niệm: "người nam do bản chất tự nhiên, ngoại trừ trường hợp bị
tật bẩm sinh, thích hợp với vai trò chỉ huy hơn là người nữ; cũng tương tự như với tuổi tác
và sự chín chắn thích hợp với vai trò chỉ huy hơn tuổi trẻ thiếu khôn ngoan." Aristotle
không nói "chỉ huy" cái gì, nhưng nhận định thêm rằng vai trò người chồng đối với vợ
cũng giống như vai trò của nhà lãnh đạo chính trị đối với các công dân, và vai trò của
người cha đối với con cái cũng giống như của nhà vua đối với thần dân. Quan niệm của
Aristotle về phụ nữ cũng là quan niệm của Tây phương về vai trò phụ nữ là lo việc quản
trị gia đình.
2.2. Các nhà nước lý tưởng trên lý thuyết.
Aristotle phê bình mô hình nhà nước lý tưởng của Plato, một nhà nước được xây dựng
theo kiểu "cộng sản nguyên thủy," trong đó mọi của cải, vật chất đều được chia sẻ giữa các

Đó là thành phần nào sẽ nắm quyền tối thượng: dân nghèo, dân giàu, thành phần ưu tú,
một người có tài năng kiệt xuất, hay một bạo chúa? Nếu thành phần đa số-không kể thành
phần đó giàu hay nghèo-tịch thu của cải của thành phần thiểu số để chia cho nhau, thì đất
nước sẽ bị tiêu hủy. Nếu thành phần ưu tú nắm quyền, thì đa số còn lại sẽ không có cơ hội
để tham chính và giữ trọng trách trong chính quyền. Nếu chỉ có một người cai trị, thì tuyệt
đại đa số sẽ chẳng bao giờ có cơ hội tham chính. Và Aristotle đưa ra một đề nghị là
"Pháp Trị," tức là hãy để luật pháp, chứ không phải con người có quyền tối thượng, vì con
người luôn luôn để tư lợi và tình cảm xen vào.
Ngoài ra, Aristotle phân tích sự lợi hại của "Nhân trị" và "Pháp trị." Aristotle ghi nhận
rằng, rất có thể có một người hay một nhóm người siêu tuyệt hơn mọi người, chỉ một mực
chăm lo cho cái tốt chung của quốc gia, và theo luận lý tự nhiên thì người này hay nhóm
người này nắm quyền tối thượng là thuận lý. Tuy nhiên, Aristotle cũng lưu ý: những người
như vậy là "thần thánh chứ không phải là con người".
2.5. Các dạng khác nhau của từng mô hình hiến pháp thực tế.
Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị của Hy Lạp cổ đại
Aristotle cho rằng, chính trị cũng giống như nghệ thuật và khoa học cần được xem xét
không những dưới lăng kính lý tưởng, mà còn trong bản chất thực tế; nghĩa là, nhận định
xem mô hình nào là mô hình tối hảo trong một tình huống đặc thù nào đó; đâu là phương
cách hữu hiệu nhất để duy trì một chế độ; tính theo trung bình giữa các nước,thì mô hình
nào là mô hình tốt nhất; các dạng chế độ chính có những biến thể nào khác nhau; và đặc
biệt chú trọng đến hai chế độ Dân chủ và Quả đầu. Thêm vào đó, Aristotle nhấn mạnh luật
pháp phải tương ứng với hiến pháp, chứ không phải ngược lại. Aristotle định nghĩa hiến
pháp là "cách thức tổ chức cơ cấu chính quyền trong một nước, cách thức phân bố quyền
lực được ấn định, chủ quyền tối thượng được xác định, và mục tiêu tối hậu của quốc gia
mà mọi cơ quan và toàn thể dân chúng nhắm tới". Nói một cách khác, hiến pháp là cơ sở,
trên đó, mọi luật pháp của quốc gia được ban hành.
Aristotle phân tích các chế độ chính trị được thể hiện qua các loại hiến pháp khác nhau.
Một chế độ chính trị là "cách thức tổ chức quốc gia theo các cơ quan cai trị". Vì bản năng
tự nhiên của con người là sống quần tụ với nhau hầu đạt được đời sống tốt đẹp hơn lúc
sống đơn lẻ; do đó, mục đích tối hậu của mọi chế độ là tạo dựng và bảo vệ đời sống tốt

tranh chấp, và các điều kiện dẫn đến tranh chấp. Động cơ tâm lý chính là những cảm xúc
và nhiệt tình đối với sự bình đẳng. Những kẻ thua thiệt đấu tranh để được bình đẳng với
những người khác; những người thuộc thành phần khá giả đấu tranh để bảo vệ địa vị xã
hội của mình. Mục tiêu tranh chấp của cả hai phe không gì khác hơn là "danh" và
"lợi." Danh và lợi cũng là điều kiện đưa đến tranh chấp: khi là mục tiêu, danh-lợi tạo ra
bất mãn vì con người muốn chiếm đoạt các mục tiêu này; khi là điều kiện, danh-lợi dẫn
đến bất mãn vì người ta thấy kẻ khác được hưởng nhiều danh vọng và lợi lộc hơn mình.
- Cách thức thay đổi chế độ chính trị, cùng phương cách bảo vệ chế độ:
Trong chế độ dân chủ, nguyên nhân gây ra sự sụp đổ chế độ là những kẻ mị dân, tức là
những chính khách lợi dụng thành kiến, cảm xúc, sợ hãi, hy vọng, và ngay cả lòng ái quốc
để khích động đám đông cho mưu đồ chính trị (trong thế kỷ 20 ta thấy có rất nhiều chính
trị gia mị dân, điển hình nhất là Hitler).[7] Tất cả những kẻ mị dân khi lên nắm quyền đều
trở thành độc tài, bạo ngược. Chế độ Quả đầu bị sụp đổ vì giai cấp thiểu số thống trị đàn
áp và đối xử bất công với đa số bị trị (các chế độ độc đảng ngày nay là hình thức rõ rệt
nhất của chế độ Quả đầu). Chế độ Quý tộc bị sụp đổ vì giai cấp cai trị đã đi chệch khỏi
nguyên tắc công bình của chế độ, nhất là khi chức vụ được sử dụng như phương tiện để
mưu lợi cho cá nhân.
Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị của Hy Lạp cổ đại
2.7. Các phương thức thiết lập chế độ Dân chủ.
Tư tưởng căn bản của dân chủ là tự do, và đó cũng là mục đích chính của chế độ dân
chủ. Tự do, theo Aristotle gồm 2 phần: thứ nhất là tự do chính trị, nghĩa là mọi người dân
đều có thể tham chính (qua bầu cử vào các chức vụ trong chính quyền), và ý kiến của đa
số được coi là ý kiến chung, được mọi người công nhận (thiểu số phục tùng đa số); thứ hai
là tự do dân sự, qua đó người dân sống theo ý mà mình thích, bao hàm ý nghĩa tự do là
không bị chính quyền xâm phạm. Các đặc tính của chế độ dân chủ gồm có: mọi công dân
đều có quyền tranh cử vào các chức vụ của chính quyền, không ai giữ một chức vụ nào
trong chính quyền quá hai lần; mọi chức vụ trong chính quyền đều được trả lương, và
nhiệm kỳ của chức vụ cũng không kéo dài quá lâu.
Aristotle liệt kê 4 mô hình dân chủ được tạo nên tùy theo thành phần dân chúng. Chế
độ dân chủ tốt nhất là chế độ mà quần chúng gồm đa số là nông dân. Aristotle lý luận

gia".
Trong một nhà nước "lý tưởng" theo quan niệm của Aristotle, công dân là những người
tự do, có cùng gốc gác ưu tú mới là thành phần được tham gia vào chính sự; thành phần
lao động bình dân, vì không có thì giờ nhàn rỗi để học hành thành người có đức hạnh, nên
không thể tham gia chính sự. Tuy nhiên, thành phần này cũng là công dân và trên nguyên
tắc phải được tham gia chính sự. Đây là một vấn nạn cho mô hình nhà nước lý tưởng của
Aristotle, cho nên, ông chủ trương rằng thành phần lao động sẽ gồm những nô lệ. Mô hình
nhà nước lý tưởng của Aristotle, như vậy, sẽ gồm hai thành phần: công dân thuộc giai cấp
ưu tú quý tộc và lao động là nô lệ. Những công dân trẻ tuổi lo việc quốc phòng, trung niên
lo việc cai trị và lão niên lo việc tế tự. Theo cách sắp xếp này, công dân sẽ tuần tự theo lứa
tuổi của mình mà phục vụ quốc gia.
D
Aristotle là một trong những nhà triết học lớn nhất, có bộ óc bách khoa của triết học
Hy Lạp cổ đại, là người đầu tiên không chỉ đặt nền móng vững chắc cho lâu đài triết học,
logic học và khoa học hiện đại, mà còn là người đầu tiên đặt nền móng cho lịch sử triết
học. Cho đến ngày nay những giá trị của tư tưởng triết học của Aristotle vẫn còn tồn tại
trong nền văn hóa và chính trị của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc trên thế giới. Triết học
Ảnh hưởng của triết học Aristotle đến nền chính trị của Hy Lạp cổ đại
Aristotle đã góp phần xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý xã hội bao gồm
những hệ thống trị thức với những điều kiện cần thiết cho một quốc gia như : dân số, bản
chất của dân chúng, cấu trúc xã hội, và lãnh thổ cùng vị thế địa lý của quốc gia. Bên cạnh
những giá trị mà triết học Aristotle mang lại, chúng ta cần phải đánh giá lại những mặt hạn
chế để có thể dần dần loại bỏ trong hệ tư tưởng, đặc biệt là cách nhìn nhận vai trò của phụ
nữ trong xã hội ngày nay. Ngày nay chúng ta đang phấn đấu cho một thế giới hoà bình,
cho sự bình đẳng cho mọi dân tộc trên thế giới và sự bình đẳng giới tính, vì vậy chúng ta
cần ngăn chặn các tệ nạn xã hội, thảm hoạ chiến tranh chống lại nạn khủng bố trên thế
giới. Do đó kế thừa tư tưởng nhân đạo của triết học Aristotle để hoàn thiện bộ máy nhà
nước, thiết lập chế độ Dân chủ và xây dựng một nền giáo dục toàn diện cả về thể chất lẫn
tinh thần. Với những giá trị của triết học Aristotle, chúng ta có thể sử dụng những lời
khuyên răn quý báu của Aristotle khi bàn về giáo dục trong việc rèn luyện ý chí, về không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status