Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN HOÀI THU ẢNH HƢỞNG CỦA NGÔN NGỮ NÓI
ĐẾN NGÔN NGỮ VIẾT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(TRÊN CỨ LIỆU NHỮNG BÀI LÀM VĂN CỦA HỌC SINH TRƢỜNG
THPT LƢƠNG THẾ VINH - THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN VĂN KHANG
Thái Nguyên, 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả các thầy, cô
giáo, những người đã trực tiếp giúp tác giả nâng cao vốn kiến thức ngôn ngữ
trong thời gian theo học chương trình thạc sĩ ngôn ngữ khoá 2007 - 2009 tại
trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp, các em học sinh,
những người đã động viên, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này. Tác giả luận văn Nguyễn Hoài Thu
1
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 6
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT 7
1.1 Khái quát về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 7
1.1.1 Ngôn ngữ nói 7
1.1.2 Ngôn ngữ viết 11
1.1.3 Những khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 14
1.1.4 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói và viết 16
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ giao tiếp của con người tồn tại ở hai dạng cơ bản là nói và
viết. Về mặt thuật ngữ, trước đây chúng ta vẫn thường gặp các tên gọi “phong
cách nói” hoặc “phong cách khẩu ngữ” đặt trong thế đối lập với “phong cách
viết” hoặc “phong cách sách vở”. Xét về mặt lịch sử, tình hình nghiên cứu về
ngôn ngữ nói bắt đầu có sự chuyển biến tích cực từ thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, một số nhà ngôn ngữ học đã đạt được sự nhất trí rằng, lời nói mới là sự
hoạt động chính của ngôn ngữ còn dạng viết chỉ là thứ cấp. Trên thực tế, ngôn
ngữ nói cũng từng bị xếp ở vị trí thứ yếu do bị quy vào bản chất không cố
định, không có hệ thống và không có cấu trúc.
Từ những tồn tại trong nghiên cứu ngôn ngữ cần thiết phải có cái nhìn
đầy đủ, toàn diện không thể áp đặt cái nhìn phiến diện đối với ngôn ngữ nói
hoặc ngôn ngữ viết. Việc nghiên cứu về ngôn ngữ nói và viết không chỉ giúp
xác định lại một cách đúng đắn những nhận định đã có về ngôn ngữ nói và
viết trong phạm vi ngôn ngữ học cơ bản và phân tích diễn ngôn, mà còn có ý
nghĩa thiết thực đối những bộ môn khoa học khác như phong cách khoa học
ngôn ngữ, lý thuyết dạy và học tiếng.
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, dù nói hay viết con người không chỉ
cần xác định nội dung giao tiếp tức nói, viết cái gì mà còn quan tâm đến việc
nói như thế nào, viết như thế nào. Sự lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ của
chủ thể giao tiếp không ngừng bị chi phối bởi các nhân tố như: mục đích giao
tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp và đối tượng giao tiếp hoặc kênh
giao tiếp. Sự lựa chọn này thể hiện năng lực giao tiếp ở mỗi người.
Nghiên cứu về ngôn ngữ nói và viết còn có ý nghĩa quan trọng đối với
ảnh hưởng của tiếng Việt nói tới tiếng Việt viết ở một trường học cụ thể - nơi
5
mà chúng tôi đang làm công tác giảng dạy, đó là trường trung học phổ thông
Lương Thế Vinh, thành phố Thái Nguyên.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Thông qua khảo sát việc sử dụng tiếng Việt của
học sinh trường THPT Lương Thế Vinh, Thành Phố Thái Nguyên, luân văn
mong muốn góp phần vào làm rõ thêm mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói và
ngôn ngữ viết, đặc biệt là những ảnh hưởng của ngôn ngữ nói tới ngôn ngữ
viết của học sinh phổ thông. Qua đó, luận văn đưa ra những ý kiến đóng góp
vào việc giảng dạy môn ngữ văn nói chung, tiếng Việt nói riêng trong nhà
trường nhằm nâng cao khả năng nói và viết tiếng Việt của học sinh.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận văn đề ra
những nhiệm vụ như sau:
1). Nêu được cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài, cụ thể là liên quan
đến ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
2). Giới thiệu những nét cơ bản về môi trường dạy học của trường
THPT Lương Thế Vinh, Thành Phố Thái Nguyên (Có tác động đến tiếng Việt
của học sinh).
3). Khảo sát đặc điểm sử dụng tiếng Việt của học sinh Trường THPT
Lương Thế Vinh khi viết, chú trọng tác động của ngôn ngữ nói tới ngôn
ngữ viết.
4) Chỉ ra những nhân tố tạo ra những ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đến
ngôn ngữ viết và đề ra cách khắc phục.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là tiếng Việt học sinh sử dụng ở trường THPT
Lương Thế Vinh – nơi mà chúng tôi đang tham gia giảng dạy .
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong các bài kiểm tra, các bài thi
của học sinh và quan sát tiếng Việt các em học sinh sử dụng khi phát biểu
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày đặc điểm cơ bản của ngôn
ngữ nói và viết như: tính tự nhiên và tính nhất thời, tính trực tiếp và tính
không gọt giũa của ngôn ngữ nói; tính hoàn chỉnh và tính cố định, tính không
đối mặt và vững bền, tính gọt giũa của ngôn ngữ viết.
1.1 Khái quát về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
1.1.1 Ngôn ngữ nói
Ngôn ngữ nói có vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân và cộng
đồng. Cuộc sống của các cá thể là một chuỗi nối tiếp của những hành động có
chủ ý (và không có chủ ý), với một hoặc một số người nghe xác định, nhằm
thỏa mãn nhu cầu giao tiếp trước mắt hoặc để đạt một mục đích nào đó.
1.1.1.1 Tính tự nhiên và tính nhất thời
Lời nói thường trải ra một cách tự nhiên, ít gò bó. Người nói có khả
năng phát ra một tràng dài, thường là các ngữ đoạn ngắn hơn một câu, và các
ngữ đoạn này dường như thiếu liên kết bề mặt như cách tổ chức một văn bản
viết. Tính tự nhiên cũng có nguyên nhân từ tính tức thời, từ tính chất không
dàn dựng trước, hoặc không được lập trình trước. Cho rằng người nói có thể
chuẩn bị trước một số ý cơ bản trước khi gặp gỡ, trò chuyện với đối tượng mà
mình quan tâm, nhưng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày không ai có thể
chuẩn bị đến từng chi tiết như khi soạn thảo văn bản trên giấy hoặc bằng máy
vi tính. Trong tương tác mặt đối mặt, người nói và người nghe thường luân
phiên đưa ra và chấp nhận các lượt lời, luân phiên đổi vai cho nhau. Phát
ngôn kế tiếp của người nói thứ nhất không hoàn phụ thuộc vào ý chủ định của
người ấy, mà trái lại, phụ thuộc rất lớn vào hồi đáp tức thời của người nghe,
tức là người sẽ luân phiên đảm nhận vị trí người nói thứ hai. Nếu cuộc thoại
1.1.1.2 Tính trực tiếp
Khi người nói quyết định nói điều gì thì cũng là lúc người ấy phát đi
các tín hiệu ngôn ngữ bằng một chuỗi âm thanh. Đồng thời người nghe cũng
lập tức tiếp nhận và giải mã các tín hiệu âm thanh ấy. Khác với giao tiếp bằng
chữ viết, trong giao tiếp bằng lời nói người nghe có cơ hội để hỏi lại và có thể
được giải thích ngay tại chỗ. Điều này cũng có đóng góp đáng kể đến mức độ
thành công trong việc truyền đạt và nhận hiểu nội dung giao tiếp.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ nói khó có thể đạt hiệu quả nếu giữa hai phía
đối thoại không có hiểu biết chung, hoặc giả định chung về nhau. Điều này
cũng có nghĩa là trong những tình huống giao tiếp mặt đối mặt, các bên tham
gia hội thoại có được những thuận lợi nhất định như biết được khi nào nên nói
hay nên dừng, đều nhận thức được về môi trường vật lý xung quanh, về các
mối quan hệ xã hội và văn hoá giữa họ với nhau và do đó có thể điều chỉnh
được tác động của những điều họ nói ra đối với người nghe.
Tóm lại, nhờ vào tính chất trực tiếp của tình huống giao tiếp cụ thể mà
người nói có thể tạo ra những phát ngôn để người nghe có thể hiểu được một
cách dễ dàng. Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ viết, người đọc chỉ có thể có
thêm các tín hiệu ngoài văn bản như tranh ảnh, sơ đồ (nếu có), chữ viết tay
hoặc hình thức của chữ in, hoặc xuất xứ của văn bản (từ sách, tạp chí,…vv ).
Trong khi đó, người nghe với tư cách là người thụ ngôn hoàn toàn có thể dựa
vào nét mặt, ánh mắt, cử chỉ cũng như giọng điệu của người nói để hiểu đúng
ý định chức năng mà người nói muốn thể hiện. Nhờ có thể quan sát trực tiếp
trong giao tiếp mặt đối mặt mà hai phía người nói và người nghe có thể cùng
thương lượng nghĩa, thậm chí họ có thể sửa chữa kịp thời để làm tăng hoặc
giảm tác động phát ngôn đối với bên còn lại, điều mà người viết trong những
điều kiện thông thường khó có thể thực hiện được.
10
1.1.1.3 Tính không gọt giũa
Ngay cả người nói ngôn ngữ thứ nhất đôi khi cũng có một số khó khăn
Có thể nói rằng sự phong phú, đa dạng của trợ từ tình thái xuất phát
từ đặc thù ngữ âm của tiếng Việt và sự phân biệt nghĩa rất tinh tế trong cảm
quan ngôn ngữ của người bản ngữ.
Ngoài ra, cũng như hầu hết các ngôn ngữ khác, “tính thô” trong văn nói
tiếng Việt cũng được thể hiện ở những chỗ ngắt quãng trong lời nói, chỗ
ngập ngừng lúc bắt đầu, những từ ngữ thiếu chính xác, những
từ ngữ có ý nghĩa chung chung không cụ thể như: Hổng chừng, đại khái như,
kiểu như, đại thể là, phải không nào; và ở những điệp từ, điệp ngữ không có
chủ ý.
1.1.2 Ngôn ngữ viết
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết không chỉ khác nhau ở hình thức tồn
tại trong môi trường vật lý (âm thanh – chữ viết), mà còn ở cách chúng tái
hiện thực tại khách quan. Ngôn ngữ viết trình bày sự vật và hiện tượng dưới
dạng những sản phẩm hoàn chỉnh hơn là những quá trình. Trong khi ngôn ngữ
nói xác định lĩnh vực sáng tạo chủ yếu của nó là những quá trình, những hình
ảnh sinh động của hiện thực khách quan, thì ngôn ngữ viết được dàn trải trên
trang giấy hoặc màn ảnh, màn hình.
Ngoài những đặc điểm chung có thể quan sát được ở cả hai biến
thể nói và viết, ngôn ngữ viết còn thể hiện những điểm khác biệt chính
như sau:
1.1.2.1 Tính hoàn chỉnh và tính cố định
Tính cố định được trong không gian là một trong những ưu thế của
hệ thống chữ viết. Bản chất cố định này cho phép các thế hệ sau nghiên
cứu văn bản từ các thế hệ trước một cách thấu đáo và xem xét các ý tưởng
hoặc bình phẩm về các mối quan hệ bên trong và bên ngoài văn bản một
cách dễ dàng.
12
Ngoài ra việc lưu trữ thông tin bằng chữ viết cho phép con người phát
triển cách nhìn phê phán đối với kiến thức và những tư tưởng của các xã hội
đều phải ghi lại bằng văn bản viết. Đó chính là bằng chứng về tính ưu việt và
tính đặc thù của ngôn ngữ viết mà lời nói miệng không thể thay thế được.
1.1.2.2 Tính không đối mặt và tính vững bền
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết không chỉ khác nhau ở hoàn cảnh
và phương thức tạo lập văn bản của người phát ngôn, mà còn khác nhau về
các yêu cầu mà chúng đòi hỏi đối với người thụ ngôn. Trước hết, ngôn
ngữ viết không theo nguyên tắc “ở đây” và “bây giờ”. Điều này cũng góp
phần tạo ra những ý nghĩa khác biệt của giao tiếp bằng chữ viết.
Khi phát triển ngôn từ, hiển nhiên rằng con người đã biết kết hợp với
một số kiểu âm thanh thường xuất hiện trong tự nhiên, với những tiếng kêu do
cảm xúc, biết dùng điệu bộ để diễn tả kèm theo lời nói của họ. Về sau này, khi
xã hội loài người phát triển đến một độ nhất định, con người không chỉ sử
dụng ngôn ngữ âm thanh để thể hiện những mối quan hệ tâm lý, tình cảm,
những đòi hỏi thiết yếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, mà còn có nhu
cầu truyền đạt kiến thức, kỹ năng, thông tin giữa họ với nhau và với các thế
hệ sau. Cuối cùng chữ viết xuất hiện cùng với sự phát triển của các hệ thống
dấu hiệu và văn tự của ngôn ngữ viết và cùng với sự chuyển tiếp từ nói sang
viết, chữ viết đã trở thành phương tiện hữu hiệu để chuyển giao kiến thức và
kinh nghiệm. Trong suốt tiến trình phát triển của xã hội loài người, cũng
chính nhờ vào việc ghi chép, lưu trữ thông tin bằng chữ viết mà thế hệ đi sau
có thể biết được những kinh nghiệm mà các bậc tiền bối của mình đã trải qua
và muốn truyền đạt lại cho họ. Việc ghi chép bằng ngôn ngữ viết giúp con
người lưu trữ những tư tưởng, những kiến thức lâu bền và chính xác. Do bản
chất của giao tiếp là một chiều và không trực tiếp nên người viết có thể tiến
hành giao tiếp với những người ở cách xa cả về không gian và thời gian.
14
Trong những điều kiện thông thường, khi viết, tác giả thường bị tách
biệt khỏi người đọc trong môi trường làm việc của mình. Do không có điều
kiện tương tác trực tiếp với người đọc, do không chịu sức ép về mặt thời gian,
2. Người nói tương tác trực tiếp với người nghe, còn người viết thì
không.
Chafe tìm thấy các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau giữa ngôn ngữ hội
thoại hàng ngày với văn xuôi có tính học thuật trong ngôn ngữ của cùng đối
tượng nghiên cứu. Tác giả cũng thấy rằng các cứ liệu của ngôn ngữ nói mà
ông thu thập được thường bị ngắt quãng do nhịp độ nhanh của ngôn ngữ nói.
Trong khi đó các cứ liệu của ngôn ngữ viết thì được tổ chức chặt chẽ hơn.
Chafe chứng minh rằng ngôn ngữ viết có khuynh hướng không lệ thuộc bởi
tương tác trực tiếp giữa người viết và người đọc nhờ việc sử dụng các cấu trúc
bị động và danh hóa. Trái lại, trong ngôn ngữ nói có thể tìm thấy nhiều cách
thể hiện tương tác liên cá nhân giữa người nói và người nghe bao gồm các
quy chiếu về người nói và các quá trình tạo lập văn bản của người nói, các
phương tiện tổ chức thông tin, việc sử dụng các tiểu từ để nhấn mạnh, và các
lời dẫn trực tiếp.
Nói đến sự khác biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết không thể
không nhắc đến các ý kiến của nhà nghiên cứu M.K.Hallyday. Ông cho rằng
sự khác biệt này không nằm trong bản thân hệ thống ngôn ngữ mà là ở
phương tiện diễn đạt, ở ngữ cảnh và ở cách tổ chức kinh nghiệm. Cụ thể là:
ngôn ngữ viết không thu được vào trong mình những ý nghĩa tiềm tàng của
lời nói miệng, đó là những đóng góp có ngôn điệu và các phương tiện kèm
ngôn ngữ. Còn ngôn ngữ nói thì lại không chỉ ra được đường biên giới của
câu và của đoạn văn.
Theo Halliday, trong ngôn ngữ luôn có những biến thể. Các biến thể
này gồm có biến thể có tính chất xã hội, tức là phương ngữ, và các biến thể
thuộc về chức năng ngôn ngữ, tức là ngữ vực. Biến thể thuộc về chức năng là
16
cái làm cho ngôn ngữ nói và viết không bao giờ bị đồng nhất. Trong khi
phương ngữ là cái mà người nói sử dụng như một thói quen ngôn ngữ, và
được xác định tùy vào người nói là ai, thì biến thể chức năng của ngôn ngữ
ngôn ngữ nói được ghi chép lại. Kể từ bước đầu phát triển, ngôn ngữ viết đã
xây dựng cho mình một hệ thống hoàn chỉnh, và hệ thống này liên tục được
bổ sung bởi các hiện tượng của ngôn ngữ nói. Ngược lại, ngôn ngữ viết cũng
có sự tác động tích cực ngược trở lại đối với ngôn ngữ nói, như nâng cao địa
vị của ngôn ngữ nói theo các chuẩn mực của mình. Trong một nghiên cứu
khác, tác giả D. Biber cho rằng năng lực ngôn ngữ có liên quan đến cấu trúc
ngôn ngữ của các phát ngôn “đúng ngữ pháp”; còn năng lực giao tiếp thì có
quan hệ với hình thức và việc sử dụng của cả hai phương thức nói và viết.
Trong cơ cấu này, không nhất thiết phải xem nói hay viết là dạng nguyên cấp,
là cái chủ đạo và loại bỏ cái còn lại. Cũng theo Biber, cả nói và viết cần được
đầu tư nghiên cứu và việc phân tích đối chiếu về mặt ngôn ngữ của cả hai
phương thức trở thành một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Cách nhìn tiến
bộ của Biber đã góp phần đem lại một hướng đi đúng đắn cho những nghiên
cứu về ngôn ngữ nói và viết.
Xét cho cùng, “Nói miệng và viết là hai cách khác nhau của việc nói
ra”. Nói và viết là hai dạng tồn tại của một ngôn ngữ, trong đó dạng nói là
dạng nguyên cấp, dạng viết là dạng thứ cấp, là cái xuất hiện về sau. Trong quá
trình phát triển, chữ viết đã dần dần hình thành cho mình một hệ thống riêng
có phần khác biệt so với ngôn ngữ nói và ảnh hưởng tích cực đến dạng nói,
nâng ngôn ngữ nói cao dần trên cái thang của văn hóa ngôn ngữ. Mặt khác,
ngôn ngữ nói vẫn sống động và phát triển, là nguồn sinh lực dồi dào cung cấp
“năng lượng” sống và sáng tạo của nhân dân cho ngôn ngữ viết.
18
Như vậy, tuy có nhiều ý kiến thống nhất về sự khác biệt có tính cấu
trúc giữa ngôn ngữ nói và viết, cũng không ít tác giả nhận ra mối liên hệ chặt
chẽ giữa hai biến thể có tính chức năng (nói và viết) của cùng hệ thống ngôn
ngữ. Nhiều khảo sát về mối quan hệ giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết đã
chỉ ra rằng những cái được cho là có liên quan đến phương thức nói có thể tìm
thấy trong diễn ngôn theo phương thức viết và ngược lại. Những đặc trưng
Hòa,…với sự phân biệt giữa các nhóm phong cách chức năng (phong cách
khẩu ngữ và các phong cách ngôn ngữ văn hóa gọt giũa) tồn tại ở hai dạng
thức (dạng nói và dạng viết).
Trong “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt”, tác giả đã trình bày vấn
đề phân biệt ngôn ngữ nói và viết dưới dạng thức: hình thức thứ nhất là hình
thức cụ thể, trực quan đối lập với hình thức thứ hai là hình thức khái quát.
Hình thức cụ thể phân biệt ngôn ngữ nói theo nghĩa kép (ngôn ngữ âm thanh
dùng trong hội thoại tự nhiên và ngôn ngữ viết bao gồm cả lời phát biểu trên
cơ sở bài viết sẵn), còn hình thức khái quát thì phân biệt ngôn ngữ viết trong
mọi lĩnh vực xã hội (trong mọi phong cách chức năng). Tác giả cũng cho rằng
nói và viết là hai dạng tồn tại của ngôn ngữ, trong đó dạng nói là dạng nguyên
cấp, dạng viết là dạng thứ cấp, là cái xuất hiện về sau. Trong quá trình phát
triển, chữ viết đã dần dần hình thành cho mình mộ hệ thống riêng có phần
khác biệt so với ngôn ngữ nói và ảnh hưởng tích cực đến dạng nói, nâng ngôn
ngữ nói cao dần trên từng bậc thang của văn hóa ngôn ngữ. Mặt khác ngôn
ngữ nói sống động và phát triền là nguồn sinh lực dồi dào cung cấp “năng
lượng” sống và sáng tạo của nhân dân cho ngôn ngữ viết. Nhận định này góp
phần khẳng định một cách nhìn đúng đắn về vị trí, chức năng của ngôn ngữ
nói và viết, tránh được xu hướng cực đoan chỉ đề cao ngôn ngữ nói hoặc ngôn
ngữ viết đã từng tồn tại một thời gian dài trong lịch sử.
20
1.2 Giới thiệu cảnh huống ngôn ngữ của trƣờng THPT Lƣơng
Thế Vinh
Như đã biết, ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết không chỉ tồn tại những
điểm khác biệt mà giữa chúng còn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ở luận
văn này, chúng tôi đi tìm hiểu mối quan hệ ấy, cụ thể là những tác động của
ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết của học sinh phổ thông ở một địa chỉ cụ thể,
đó là trường trung học phổ thông Lương Thế Vinh, Thành phố Thái Nguyên.
Trường Trung học phổ thông Lương Thế Vinh Từ khi ra đời đến nay đã
ngôn ngữ, cần chú ý cung cấp những tri thức này cho các em.
Về thái độ của học sinh đối với tiếng Việt, cấp học trung học phổ
thông là cấp học mang tính hướng nghiệp cao, hầu hết học sinh đều đã có
định hướng nghề nghiệp cho mình sau này. Xu thế chung là các em thường
chọn các ngành học như kinh tế, ngân hàng, tài chính, kế toán… cho nên học
sinh chỉ chú trọng các môn liên quan đến khối thi của mình còn đối với môn
văn cũng như tiếng Việt, các em thường không mấy hào hứng và chỉ học với
mục đích để thi đỗ tốt nghiệp. Điều này lí giải vì sao kết quả học tập của môn
học này không cao.
Đội ngũ giáo viên dạy ngữ văn của trường gồm 8 thầy cô giáo trong đó
có 4 người là giáo viên thỉnh giảng. Các thầy cô đều được đào tạo bài bản
trong các trường sư phạm, đều rất yêu thích môn văn và nhiệt tình trong giảng
dạy. Tuy nhiên có thể nhận thấy do đặc thù của trường, đội ngũ giáo viên
thỉnh giang thiếu sự quan tâm sát sao đối với học sinh (có thể do đây không
phải là trường chính của họ). Điều này phần nào ảnh hưởng đến việc dạy –
học tiếng Việt của học sinh.
Tiểu kết
Chương 1 cho thấy sự khác biệt lớn giữa ngôn ngữ nói và viết, cũng
như mối liên hệ không tách rời giữa hai mặt nói và viết. Như đã phân tích ở
trên, sự khác biệt giữa các sản phẩm nói và viết không chỉ giới hạn ở những