Tên đề tài : "Một số giải pháp quản lý việc
thực hiện giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trong trường
Tiểu học tỉnh Hoà Bình"
HOÀ BÌNH – NĂM.
MỤC LỤC Trang
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
- Lý do chọn đề tài.
-Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Mục tiêu nghiên cứu.
- Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
- Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu.
– Cấu trúc luận văn
Chương I: Cơ sở lý luận của quản lý việc thực hiện GDHN trẻ KT trong trường tiểu học
1.1. Một số vấn đề chung về trẻ khuyết tật
1.1.1. Khái niệm khuyết tật, trẻ khuyết tật
1.1.2. Phân loại trẻ khuyết tật
1.1.3.Đặc điểm phát triển và tâm lý của trẻ khuyết tật
1.2. Giáo dục hòa nhậpvà lợi ích của giáo dục hòa nhập
1.2.1. Khái niệm giáo dục hòa nhập
1.2.2. Lợi ích của giáo dục hòa nhập
1.3. Cơ sở lý luận về Quản lý việc thực hiện GDHN trẻ KT trong trường tiểu học
1.3.1. Một số khái niệm
1.3.2. Quy trình quản lý việc thực hiện GDHN trẻ KT trong trường tiểu học
1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý việc thực hiện GDHN trong trường tiểu học
3.3. Khảo sát ý kiến chuyên gia về các giải phá p
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
GDHN Giáo dục hòa nhập
KT Khuyết tật
NKT Người khuyết tật
CH XHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
THCS Trung học cơ sở
Bộ GD&ĐT Bộ giáo dục và đào tạo
TS Tiến sĩ
THPT Trung học phổ thông
HTCĐ Hỗ trợ cộng đồng
CBQL Cán bộ quản lý
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Thống kê số lượng CBQL và giáo viên đã được tập huấn về GDHN
Bảng 2: Đánh giá nhu cầu được tập huấn về GDHN của cán bộ quản lý và giáo
viên
Bảng 3: Số lượng học sinh KT học hoà nhập. Năm học 2012 – 2013
Bảng 4: Số lượng học sinh KT học hoà nhập tính theo khối lớp.
Bảng 5: Đánh giá của CBQL và giáo viên về chương trình, nội dung và
phương pháp dạy hoà nhập
Bảng 6: Đánh giá của CBQL và giáo viên về cơ sở vật chất, thiết bị - đồ
dùng dạy học hoà nhập
Bảng 7: Đánh giá, xếp loại học sinh KT học hoà nhập qua các năm
Bảng 8: Đánh giá hạnh kiểm học sinh KT học hoà nhập qua các năm
Bảng 9: Tình hình học sinh KT sau khi học tiểu học trong 3 năm
đó, có cả trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa và đặc
biệt là trẻ khuyết tật. Hiện nay ở Việt Nam, theo ước tính từ Chương trình Phục hồi
chức năng dựa vào cộng đồng, Việt Nam có khoảng một triệu trẻ em khuyết tật độ tuổi
0-17 tuổi (chiếm 3,1% trẻ trong độ tuổi này), trong đó trẻ dưới 6 tuổi có tỷ lệ khuyết tật
là 1,39% số trẻ cùng độ tuổi. Loại khuyết tật phổ biến nhất ở trẻ em trong điều tra tại
cộng đồng là khuyết tật về vận động (chiếm 22,4%) và khuyết tật về nói (chiếm 21,4%
tổng số trẻ khuyết tật). Trẻ em khuyết tật là nhóm ít có khả năng được chăm sóc y tế
hoặc được đi học nhất. Đây là một trong những nhóm trẻ em dễ bị tổn thương nhất bởi
bạo lực, xâm hại, bóc lột và xao nhãng, đặc biệt là khi trẻ bị dấu diếm hoặc bị gửi vào
các trung tâm.
Đảng và Nhà nươc ta đã đưa ra rất nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ rõ đường
lối của ngành Giáo dục cần phải hỗ trợ trẻ em khuyết tật nhằm thúc đẩy các điều kiện
sống cho NKT trong đó có trẻ em KT với các chính sách xã hội, văn bản pháp lý như
Hiến pháp nước CH XHCN Việt Nam năm 1992; Luật Phổ cập giáo dục tiểu học 1991;
Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 (Điều 16 – chương 3) … Trên cơ sở đó, các
chương trình can thiệp sớm, các chương trình giáo dục hòa nhập, hội nhập, các trường
dạy chuyên biệt đã được thành lập cùng chung tay giúp đỡ trẻ em khuyết tật Việt Nam.
Hoà Bình là một tỉnh miền núi, trước năm 1999 cũng đã có khoảng 25% trẻ
khuyết tật học trong trường tiểu học và THCS song còn mang tính tự phát và chất
lượng học tập kém. Dưới sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, sự hỗ trợ chuyên môn của Trung
tâm nghiên cứu và phát triển chương trình giáo dục chuyên biệt thuộc Viện Chiến lược
và Chương trình giáo dục, ngành giáo dục đã tập trung chủ yếu vào cấp tiểu học tổ chức
triển khai nhiều hoạt động và thực sự đã đạt được một số hiệu quả trong công tác giáo
dục hoà nhập trẻ khuyết tật trong trường tiểu học. Tuy nhiên, giáo dục hoà nhập trẻ
khuyết tật còn nhiều hạn chế rất cơ bản trong công tác quản lý, việc tiến hành còn lúng
túng và hiệu quả chưa cao, chất lượng giáo dục hoà nhập còn thấp, thiếu bền vững, cơ
sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, nhận thức của người dân về GDHN trẻ KT chưa cao
nên chất lượng giáo dục ở đây còn nhiều hạn chế. Vì vậy, quá trình GDHN trẻ KT cần
tiếp tục nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành liên quan. Hơn nữa vấn đề quản
lý việc thực hiện giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật trong trường tiểu học đến nay vẫn
hiện như:
Th.s. Huỳnh Ngọc Trà thực hiện nghiên cứu Các biện pháp quản lý GDHN trẻ
KT ở bậc tiểu học tỉnh Quảng Nam năm 2006. Tác giả đã đề cập đến các vấn đề về
quản lý, quản lý GDHN cho trẻ KT ở cấp tiểu học trên địa bàn một tỉnh. Từ đó đề xuất
sáu giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng, hiệu quả GDHN trẻ KT cấp tiểu học tại
tỉnh Quảng Nam [24].
Cũng trong năm 2006, Hà Thanh Vân thực hiện nghiên cứu có tên: “Một số biện
pháp quản lý GDHN học sinh khiếm thị của hiệu trưởng các trường tiểu học ở TP Hồ
Chí Minh”. Trong phần trình bày của mình, tác giả dành sự quan tâm và tập trung
nghiên cứu vào đối tượng trẻ khiếm thị. Thực trạng về nhận thức; điều kiện cơ sở vật
chất cơ sở thiết bị; hoàn cảnh; biện pháp quản lý đối với GDHN trẻ khiếm thị cấp tiểu
học. Đề xuất được các giải pháp quản lý GDHN trẻ khiếm thị của hiệu trưởng các
trường tiểu học tại Tp. Hồ Chí Minh[28].
Tác giả Nguyễn Xuân Hải năm 2008 thực hiện nghiên cứu khoa học cấp trường
tại DH SP Hà Nội với đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý giáo
dục trẻ em thiệt thòi ở Việt Nam”. Nghiên cứu chỉ ra những hạn chế trong việc quản lý
hỗ trợ trẻ em thiệt thòi bao gồm trẻ em đường phố, trẻ em lao động sớm và các nhóm
trẻ em thiệt thòi có nguy cơ cao trong đó có trẻ em khuyết tật. Nghiên cứu chỉ ra những
khó khăn trong việc tiếp cận cơ hội giáo dục do đặc thù tính chất đối tượng trẻ và sự kết
hợp chưa hợp lý của gia đình và xã hội tạo nên những rào cản trong công tác hỗ trợ trẻ
mặc dù hệ thống pháp lý đã được quy định cụ thể. Mặc dù những đề xuất trong quản lý
giáo dục cũng được đưa ra nhưng không tập trung vào đối với đối tượng giáo dục hòa
nhập.
GDHN trẻ KT ở nước ta đã được thực hiện gần 20 năm và đạt được những kết
quả ban đầu như huy động được nhiều số trẻ em khuyết tật đến lớp, bồi dưỡng năng lực
GDHN trẻ KT cho cán bộ quản lý, giáo viên. Đặc biệt, các nghiên cứu về lý luận, thực
hiện GDHN đã thu được những kết quả có ý nghĩa khoa học làm cơ sở cho Bộ GD&DT
trong việc định hướng phát triển GDHN. Nhìn chung các tác giả nêu trên đã nghiên cứu
và đề cập đến việc tổ chức và quản lý GDHN cho trẻ KT trong trường tiểu học từ nhiều
khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên tất cả các công trình nghiên cứu trên chưa có công trình
tiểu học tại tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất và lấy ý kiến đánh giá một số giải pháp quản lý thực hiện GDHN
trong trường tiểu học tại tỉnh Hòa Bình
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu về lý luận quản lý giáo dục, giáo dục học, tâm lý học, khoa học quản
lý thông qua các tài liệu trong nước và Quốc tế về giáo dục trẻ khuyết tật. Phân tích,
tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu và thực tiễn DGHN trẻ KT.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Sử dụng các phiếu quan sát để quan sát các hoạt động trong nhà trường, dự giờ
một số tiết học nhằm tìm hiểu công tác tổ chức lớp học, quản lý lớp học, phương pháp
giảng dạy của giáo viên, khả năng học tập của học sinh và việc quản lý giáo dục hòa
nhập trẻ khuyết tật của cán bộ quản lý trường tiểu học.
7.2.2. Phương pháp sử dụng phiếu hỏi
Sử dụng hệ thống bảng câu hỏi trưng cầu ý kiến đối với lãnh đạo, chuyên viên
phòng Giáo dục – Đào tạo, cán bộ quản lý và giáo viên, học sinh các trường tiểu học,
các ban ngành đoàn thể thị xã, các cán bộ ban ngành xã, thôn và phụ huynh trẻ KT tại
Tỉnh Hòa Bình nhằm thu thập số liệu để tìm hiểu thực trạng công tác GDHN. Tổng số
lượng phiếu phát ra 235 người gồm: 2 lãnh đạo phòng và 8 chuyên viên phòng giáo
dục, 56 CBQL và 62 giáo viên dạy hoà nhập các trường tiểu học; 32 em học sinh và
75 phụ huynh.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Sử dụng hệ thống bảng câu hỏi phỏng vấn sâu đối với phụ huynh, giáo viên và
chuyên viên phòng giáo dục. Số ca phỏng vấn sâu là 5 đối với phụ huynh, 3 với giáo
viên và 2 với chuyên viên phòng giáo dục.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Thông qua các hình thức hội thảo, hội nghị, trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên
cứu lý luận và thực tiễn để phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp.
7.2.5. Phương pháp xử lý số liệu thống kê
Tác giả Irine Lopez, Trường đại học Gotenborgs Thụy Điển, nhìn nhận giáo dục
hoà nhập theo tiến trình lịch sử phát triển của giáo dục và không chỉ dành riêng cho đối
tượng trẻ khuyết tật. Theo đó, sau giai đoạn giáo dục tách biệt, trẻ khuyết tật trong các
trường đặc biệt cần được tái hội nhập vào hệ thống giáo dục chính quy. Điều này được
gọi là giáo dục hội nhập. Hội nhập được hiểu theo hai nghĩa, thứ nhất đó là quá trình
phối hợp hoặc đưa một hoặc nhiều phần khác nhau hợp lại thành một. Với nghĩa này,
thuật ngữ hội nhập được dùng ở Thụy Điển để chỉ sự giải thể của các cơ sở nuôi dạy trẻ
khuyết tật lớn tuổi và đưa trẻ gần với xã hội. Thứ hai, đó là quá trình đưa đến các hoặc
tham gia các thành viên cộng đồng. Hai nghĩa này chỉ ra mục đích cuối cùng của hội
nhập là tạo điều kiện cho mỗi người sống trong một cộng đồng đóng góp phần bình
đẳng vào mọi hoạt động và công tác cộng đồng.
Giáo dục hoà nhập được tiến hành với các tiền đề mà theo dó nhà trường sẽ tốt
đối với mọi người nếu nhà trường thu nhận mọi trẻ em trong cộng đồng. Giáo viên sẽ
tốt hơn khi họ có trách nhiệm với trẻ em. Đảm đương được trách nhiệm này, giáo viên
sẽ trở nên tích cực hơn, sáng tạo hơn, hiểu được nhu cầu của từng trẻ.
Theo những nghiên cứu của các chuyên gia giáo dục trẻ khuyết tật nước ta, thuật
ngữ giáo dục hoà nhập được xuất phát từ Canada và được hiểu là những trẻ ngoại lệ
được hoà nhập, quy thuộc vào trường phổ thông. Giáo dục hoà nhập là giáo dục mọi trẻ
em, trong đó có trẻ khuyết tật, trong lớp học bình thường có trường phổ thông. Trẻ KT
là trẻ em có khiếm khuyết về cấu tạo thể chất, sai lệch trong phát triển các chức năng
hoặc hành vi nhưng có những khả năng và nhu cầu cá nhân cơ bản, do đó cần có những
hỗ trợ phù hợp để tham gia các hoạt động, phát triển và hoà nhập cộng đồng. Trẻ
khuyết tật có những trường hợp sau:
- Trẻ khiếm thính: Trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm sức nghe ở những
mức độ khác nhau dẫn tới khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp, ảnh hưởng đến
quá trình nhận thức, và các chức năng tâm lý khác.
- Khiếm thị: Trẻ khiếm thị là trẻ dưới 18 tuổi có KT về thị giác, sau khi đã có các
phương tiện trợ giúp vẫn gặp khó khăn trong các hoạt động học tập và sinh hoạt
cần sử dụng mắt.
- Trẻ chậm phát triển trí tuệ: Là những trẻ có các biểu hiện sau Khó tiếp thu
Giáo dục cho mọi đối tượng trẻ em, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn
giáo, điều kiện kinh tế, thành phần xã hội;
Trẻ đi học ở cơ sở giáo dục tại nơi trẻ đang sinh sống;
không đánh đồng mọi trẻ, mỗi trẻ là khác nhau;
điều chỉnh phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ về mục tiêu, nội dung,
phương pháp, đánh giá kết quả giáo dục.
1.1.2. Lợi ích của giáo dục hòa nhập
Có rất nhiều lợi ích của việc giáo dục hòa nhập – những lợi ích ảnh hưởng đến
cả trẻ khuyết tật và trẻ bình thường trong lớp học chung với trẻ khuyết tật.
Lợi ích của giáo dục hòa nhập đối với trẻ khuyết tật
Việc tham gia lớp hòa nhập như một thành viên được tiếp đón ân cần dạy cho trẻ có
những nhu cầu đặc biệt tính tự lực và giúp chúng nắm vững những kỹ năng mới. Đối
với một số trẻ, đó có thể là lần đầu tiên trong đời được mong đợi và khuyến khích là
những điều trẻ có thể làm cho bản thân. Làm việc và vui chơi với những trẻ khác
khuyến khích trẻ khuyết tật phán đấu để đạt được những thành tích lớn hơn. Do đó trẻ
phát triển được ý thức cái tôi khỏe mạnh và tích cực.
Nếu cứ sống và học tập mãi với bạn bè khuyết tật trong môi trường chuyên biệt, trẻ
sẽ không bao giờ khám phá ra những khả năng tiềm tàng mà chúng có. Vì vậy, việc học
tập trong một lớp hòa nhập với trẻ bình thường giúp cho trẻ hiểu đúng về năng lực của
mình, từ đó có thể tìm được cách phát huy những tiềm năng này và tự phát triển. Điển
hình: một trẻ khiếm thính sẽ rất khó phát hiện ra khả năng nhận biết từ ngữ diễn đạt
bằng việc mấp máy môi, hay mình có thể không làm giàu được vốn ngôn ngữ ký hiệu
của bản thân nếu không sinh hoạt với trẻ bình thường cùng tuổi. Việc hòa nhập trẻ
khuyết tật giống như một thứ nhớt làm trơn quá trình lĩnh hội kỹ năng sống của trẻ. Khi
trẻ gia nhập trường tiểu học, Giáo viên có thể quan sát và so sánh nhiều trẻ cùng độ
tuổi, cùng lớp học. Điều này làm cho việc phát hiện những vấn đề cho thấy khả năng
nào đó trở nên dễ dàng hơn. Đó có thể là cơ hội mà một só trẻ nhận được để phát triển
những khả năng mà trẻ cần.
Lợi ích của giáo dục hòa nhập đối với trẻ bình thường:
Việc hòa nhập giúp đỡ cả trẻ không khuyết tật.Thái độ của trẻ bình thường đối với
để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở" [22;75].
Như vậy, quản lý việc thực hiện GDHN trẻ KT trong trường tiểu học là phối
hợp, huy động và điều hành mọi nguồn lực trong xã hội đảm bảo cho GDHN đạt hiệu
quả; là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện
GDHN nhằm đảm bảo cho giáo dục tiểu học nói chung và GDHN nói riêng trong
trường tiểu học đạt mục tiêu đề ra.
Nhà trường tiểu học là đầu mối thiết lập các mối quan hệ với các ngành, các lực
lượng trong cộng đồng cho mục đíchh thực hiện việc giáo dục hòa nhập tại địa phương.
Nhà trường làm tham mưu, đề xuất chủ trương, chế độ chính sách về giáo dục hòa nhập
cho chính quyền địa phương. Để thực hiện chức năng này, vai trò của Hiệu trưởng của
nhà trường rất quan trọng. Không những hiệu trưởng nhận thức đúng mà còn nắm vững
qui trình triển khai và biết cách khai thác sức mạnh của cộng đồng để cùng ban giám
hiệu lãnh đạo tập thể giáo viên thực hiện giáo dục hòa nhập. Cũng như chỉ đạo các nội
dung giáo dục khác, Hiệu trưởng phải tổ chức bộ máy quản lý giáo dục hòa nhập trong
nhà trường để việc thực hiện giáo dục hòa nhập có kế hoạch, nội dung, phương pháp và
được giám sát đôn đốc, tổng kết đánh giá kịp thời. Ngoài ra còn có những cấp quản lý
cấp cao hơn cho việc thực hiện GDHN bao gồm sở giáo dục, Bộ giáo dục.
1.13.2. Nội dung quản lý việc thực hiện GDHN trẻ KT
Do đặc điểm, bản chất của GDHN trong trường tiểu học là được tiến hành và thực
hiện ngay trong trường tiểu học và theo chương trình tiểu học hiện hành nên quản lý việc
thực hiện GDHN trẻ KT thực chất là thực hiện bản chất và chức năng quản lý giáo dục nói
chung, quản lý nhà trường tiểu học nói riêng.
Nội dung và mối liên hệ cơ bản được mô tả qua sơ đồ sau đây
Sơ đồ 1: Nội dung quản lý việc thực hiện GDHN trẻ KT
Xây dựng chiến lược và lập
kế hoạch
Kiểm tra, đánh giá
Tổ chức thực hiện: Xây
dựng tài liệu và chuẩn bị
nhân lực
học, bước đánh giá tìm hiểu nhu cầu và năng lực của trẻ hay đánh giá đầu vào đối với
trẻ KT là rất quan trọng.Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người, là đòi hỏi,
mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát
triển. Bản thân trẻ KT cũng có những nhu cầu cơ bản về sinh lý, thân thể, nhu cầu được
an toàn, nhu cầu xã hội tình cảm, nhu cầu tự trọng và được người khác tôn trọng. Đặc
biệt đối với trẻ KT, có những nhu cầu rất đặc biệt. Do trẻ gặp phải những khó khăn thể
chất nên nhu cầu về thể chất, thức ăn, nơi ở, nước uống, đủ ấm sẽ là những điều cơ bản
nhất. Sau đó là nhu cầu đảm bảo được sự an toàn. Đối với trẻ có chứng động kinh,
phong hay trẻ tăng động cần có thuốc và những chăm sóc y tế kịp thời. Trong môi
trường học chung, trẻ cần nhận được sự chấp nhận và sự yêu thương của gia đình, bạn
bè, thày cô, giúp trẻ hoàn thiện được tính sáng tạo và phát triển bản thân.
Khi trẻ KT nộp hồ sơ theo học tại nhà trường tiểu học, năng lực của trẻ cần được
đánh giá sơ bộ để xem xét những đặc điểm cá nhân đáp ứng được các đòi hỏi của một
hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để đạt được kết quả cho hành động nào đó.
Bất cứ hoạt động nào cũng đòi hỏi con người một loại năng lực và các năng lực đó liên
quan với nhau. Đối với trẻ KT cần đánh giá về năng lực giao tiếp ngôn ngữ, năng lực tư
duy logic và toán học, năng lực tưởng tượng, năng lực âm nhạc, năng lực nội tâm, năng
lực quan hệ tương tác, quan hệ xã hội, năng lực thể thao, vận động, năng lực tìm hiểu
thiên nhiên, cảm thụ cái đẹp. Ngoài ra trẻ KT cần được tìm hiểu về sự phát triển thể
chất, khả năng ngôn ngữ - giao tiếp, khả năng nhận thức, các mối quan hệ xã hội và môi
trường phát triển của trẻ.
Mục đích của hoạt động đánh giá này nhằm xây dựng hệ thống thông tin cơ sở
về trẻ nhằm đánh giá xếp loại đúng về tình trạng sức khỏe, năng lực, dạng tật của trẻ.
Các phương pháp chính để đánh giá bao gồm quan sát và phỏng vấn với đối tượng trẻ
và người nhà của trẻ.
Để thuận lợi cho việc thực hiện GDHN trong trường tiểu học, công việc này nên
được thực hiện vào tháng 7 hàng năm nhằm chuẩn bị cho việc huy động trẻ KT vào
năm học mới. Số liệu sơ bộ về trẻ KT được thu thập từ ba nguồn chính: Trung tâm y tế
xã, Uỷ ban dân số gia đình và trẻ em, từ công tác điều tra tổng hợp phổ cập giáo dục
của các nhà trường. Bước tiếp theo có tính chất phức tạp, đòi hỏi phải tổ chức tốt và có
ứng những nhu cầu của trẻ. Trong bản kế hoạch phải nêu rõ cụ thể từng nội dung, từng
phần, biện pháp, người thực hiện, thời gian và đánh giá kết quả. Kế hoạch GDHN cần
được xây dựng dựa vào điểm mạnh của trẻ vì trẻ chỉ phát triển tốt khi sử dụng thế mạnh
của mình.
Với mỗi trẻ KT cần phải được lập kế hoạch giáo dục cá nhân (vấn đề này cũng
đã được quy định tại Điều 12, Quyết định số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT của Bộ GD&ĐT),
đó là một bản kế hoạch/ văn bản được thiết kế cho mỗi trẻ KT giúp giáo viên có thể
định hướng được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động chăm sóc,
giáo dục trẻ KT trong môi trường hoà nhập tại gia đình, cộng đồng và nhà trường nhằm
đạt được các mục tiêu cụ thể.
Kế hoạch giáo dục cá nhân có vai trò:
- Giúp cho mỗi cá nhân có thể được kiểm soát, điều chỉnh được hành vi của
mình và luôn luôn biết hướng tới mục đích đã đề ra.
- Là cơ sở để giúp các nhà quản lý đề ra và thực hiện chính sách hỗ trợ trẻ KT,
gia đình trẻ KT, giáo viên trực tiếp dạy trẻ KT.
- Là cơ sở để giáo viên, các thành viên của nhóm hợp tác thực hiện các hoạt
động chăm sóc, giáo dục trẻ KT trong các môi trường hoà nhập khác nhau
như gia đình, nhà trường và cộng đồng.
- Giúp cho Ban giám hiệu nhà trường quản lý được những hoạt động đã và
đang diễn ra đối với giáo viên và trẻ, là cơ sở quan trọng cho việc kiểm tra
đánh giá hiệu quả của quá trình giáo dục.
Việc xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu tham gia các
hoạt động, đạt được sự tiến bộ của trẻ trong chương trình giáo dục tiểu học. Đồng thời,
việc xác định các mục tiêu cụ thể trong bản kế hoạch giáo dục cá nhân và cách thực hiện
để đạt được mục tiêu là phương thức lượng hoá sự tiến bộ của trẻ, giúp giáo viên, cha mẹ
và các thành viên khác có được thông tin thường xuyên về trẻ.
b. Tổ chức thực hiện GDHN
Đây là bước hiện thực hóa sau khi nhà trường đã có chiến lược, đường lối, kế
hoạch, mục tiêu hoạt động. Quá trình phát triển đội ngũ sư phạm nhà trường và cơ sở
vật chất, thiết bị để đơn vị hoàn thành ở mức độ cao nhất nhiệm vụ được giao sẽ tạo sự
GDHN của các nhà trường.
Tổ chức các hoạt động tạo điều kiện và cơ hội để trẻ KT được tham gia như các
hoạt động ngoại khoá, các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm. Qua những hoạt động và
giao tiếp này giúp cho trẻ hình thành và phát triển nhân cách, đặc biệt là rèn luyện các
kỹ năng xã hội và khả năng hoà nhập .
Do những khó khăn khác nhau dẫn đến việc trẻ KT ra lớp sẽ gặp rất nhiều trở
ngại, nhiều trường hợp sẽ không thể đến trường và không thể học hoà nhập được nếu
không có sự hỗ trợ, giúp đỡ. Để khắc phục được những vấn đề này nhà trường cần tính
đến việc tổ chức "nhóm hỗ trợ cộng đồng" và "vòng bạn bè".
Nhóm hỗ trợ cộng đồng gồm từ 3 - 5 người (những người họ hàng và làng xóm
gần với gia đình trẻ KT là tốt nhất) những người này trên tinh thần tự nguyện với mục
đích: động viên tinh thần; hỗ trợ nhân lực khi gia đình trẻ vào những lúc mùa vụ; hướng
dẫn giúp đỡ trong việc chăm sóc và nuôi dạy trẻ; tìm kiếm bằng cách huy động, tổ chức
quyên góp ủng hộ nhằm tạo thêm nguồn lực hỗ trợ cho gia đình và trẻ KT.
Vòng bạn bè được giáo viên phụ trách lớp xây dựng gồm 2 - 4 em, là những
học sinh ở gần với nhà trẻ KT, có vị trí ngồi gần với chỗ ngồi của trẻ KT trong lớp, có
lực học khá và giỏi. Vòng bạn bè có nhiệm vụ giúp đỡ trẻ KT trong quá trình học tập,
vui chơi, hoạt động trong và ngoài nhà trường, giúp đỡ và đưa bạn trên đường đến lớp
và về nhà
Với mục đích chung là thực hiện hiệu quả GDHN trong nhà trường, cần đặc biệt
chú ý trong việc tạo mối liên kết giữa cá nhân, các bộ phận, các hoạt động của nhà
trường. Trong đó với chức năng tổ chức của mình người hiệu trưởng cần chú trọng và
tập trung cao; dám nghĩ, dám làm và chịu trách nhiệm trong việc tổ chức các hoạt động
GDHN của trường tiểu học.
c. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện GDHN trong trường tiểu học
Trong quá trình quản lý việc thực hiện GDHN cần phải chú trọng đến công tác
kiểm tra bao gồm: kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên. Kiểm
tra để phát hiện cái đúng, cái sai trong quá trình thực hiện và kịp thời điều chỉnh hoặc
có biện pháp bổ sung để thực hiện tốt nhiệm vụ.
Nhiệm vụ cụ thể của công tác kiểm tra: so sánh, đánh giá giữa việc thực hiện
GDTKT Bộ GD&ĐT
Ban chỉ đạo
GDTKT Sở GD&ĐT
CB phụ trách
GDTKT Phòng
TTHTPT GDHN
cấp tỉnh
TTHTPTGD
GDHN cấp
huyện
Hệ thống các trường mầm non và phổ thông
- Quản lý chỉ đạo (lập kế hoạch, triển khai, giám sát, đánh giá), xây dựng và ban hành
các văn bản hướng dẫn thực hiện GDHN
- Quản lý cơ sở dữ liệu về trẻ KT và GDHN của tỉnh. (bao nhiêu em, phân bổ theo
huỵên và loại tật, % đi học)
Phòng GD ĐT:
-Tiếp nhận sự chỉ đạo hướng dẫn của Sở GD ĐT về thực hiện GDHN
- Quản lý việc thực hiện GDHN, theo dõi việc thực hiện các hướng dẫn của Sở và phản
hồi
- Quản lý thông tin về trẻ KT đi học hoà nhập và chưa đi học (bao nhiêu em, học
trường nào, loại tật gì)
- Tổng kết kinh nghiệm dạy trẻ khuyết tật và hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên GDHN
- Thực hiện chuyển giao chuyên môn kỹ thuật về giáo dục trẻ khuyết tật
- Quản lý hoạt động của giáo viên hỗ trợ cấp tỉnh
- Tham gia quản lý cơ sở dữ liệu và thông tin về trẻ khuyết tật đang theo học hòa nhập
của cả tỉnh.
- Tổ chức sinh hoạt chuyên môn cho gv hỗ trợ cấp tỉnh và huyện
- Phát hiện vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện GDHN, đề xuất giải pháp, hoặc
thảo luận để tìm giải pháp.
- Đánh giá nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên GDHN, giáo viên hỗ trợ cấp huyện và các
giáo viên phấn đấu thực hiện), do vậy cần am hiểu sâu sắc về GDHN nói chung và dạy
– học hoà nhập nói riêng.
Hiệu trưởng chỉ đạo GDHN bằng:
+ Mệnh lệnh: tức là thực hiện quyền hạn mà Nhà nước, ngành giao cho được
quy định trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà Luật giáo dục, Điều lệ trường tiểu
học, quy định về GDHN đã quy định. Dùng mệnh lệnh một mặt giúp cho việc chỉ đạo
GDHN diễn ra thuận lợi, kịp thời ứng phó hay điều chỉnh khi có những vấn đề mới nảy
sinh; mặt khác nó đòi hỏi phải có kinh nghiệm, bản lĩnh để có những mệnh lệnh đúng
và hiệu quả.
+ Chỉ thị: là việc sự dụng uy tín, hệ thống biện pháp – giải pháp đã được chuẩn
bị khi xây dựng kế hoạch để tập thể giáo viên và học sinh tự giác thực hiện trách nhiệm
và nghĩa vụ của mình trong việc dạy – học hoà nhập. Việc ra chỉ thị và thực hiện chỉ thị
khi thực hiện GDHN cần chú ý đến vấn đề dân chủ hoá trong nhà trường, có nghĩa là
nếu cấp dưới còn có vấn đề chưa thống nhất với quy định thì phải tạo điều kiện cho họ
được đối thoại, thảo luận, góp ý để tìm ra cách thực hiện tốt nhất nhiệm vụ. Đồng thời