ĐẶT VẤN ĐỀ
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò quan trọng đến tăng trưởng
kinh tế cũng như giải quyết việc làm và ổn định chính trị - xã hội.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, nông nghiệp, nông dân,
nông thôn trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã đạt được những thành tựu đáng
kể: nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng,
vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực; cơ khí hóa có bước tiến bộ; giá trị
xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản tăng nhanh; nông thôn đã có bước khởi sắc, kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung xây dựng, củng cố, nâng cấp; đời
sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn có bước cải thiện; công
tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, xoá nhà tạm thu được một số kết
quả; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, quyền dân chủ được phát huy,
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn được giữ vững.
Tuy nhiên, nông thôn trong quá trình hoà nhập và đổi mới cũng đặt ra rất
nhiều vấn đề cần được giải quyết, đó là quá trình đô thị hoá diễn ra làm thay
đổi bộ mặt nông thôn và tác động đến kiến trúc, kinh tế, đời sống, văn hoá,
xã hội, chất lượng môi trường và sinh thái nông thôn. Kiến trúc nông thôn
đang phát triển tự phát và thiếu định hướng quy hoạch một cách có hệ thống,
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời
sống; chất lượng giáo dục, y tế phát triển chưa tương xứng trước yêu cầu đổi
mới. Lao động nông thôn còn thiếu công ăn việc làm và thu nhập chưa ổn
định, tỷ lệ đói nghèo còn cao, khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp xã hội
có xu hướng gia tăng, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị
ngày càng xa.
1
Nhằm khắc phục tình trạng trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều
chủ trương chính sách nhằm phát triển nông thôn trong tình hình mới. Gồm
Nghị Quyết số 10 của Bộ Chính trị về “Đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp”
(năm 1988), Nghị quyết trung ương lần thứ 5 khóa VII về “Tiếp tục đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp” (năm 1993), Nghị quyết Đại hội Đảng
hội X Đảng Cộng sản Việt Nam, Chương trình mục tiêu quốc gia về nông
thôn mới, Quyết định 21/2007/QĐ-TTg, ngày 08/02/2007 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố
Cần Thơ đến năm 2020 cũng như xuất phát từ thực tiễn; từ đó nêu lên những
giải pháp nhằm từ nay đến năm 2020 đưa sản xuất nông nghiệp tiến lên một
nền nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất hàng hoá hiện đại, có khả năng cạnh
tranh cao; nông thôn hiện đại, văn minh; nông dân có đời sống vật chất và
tinh thần được nâng cao, giảm chênh lệch giữa đô thị với nông thôn, đóng góp
tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố theo hướng
thương mại, dịch vụ, công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một trong nhiều phương pháp
thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Và Quyết định
491/QĐ-TTg năm 2009 về Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới do Thủ
tướng Chính phủ ban hành đã chỉ ra những chỉ tiêu nhằm mục đích hướng
chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt.
Những thành tựu đã đạt được về chương trình xây dựng nông thôn mới,
chương trình nông thôn mới đã làm thay đổi nếp sống, nếp nghĩ và giúp cho
người dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, canh tác nhằm tăng năng
3
suất, chất lượng sản phẩm giúp phát triển kinh tế nông hộ. Bên cạnh đó về
mặt văn hóa - xã hội, đã giúp khôi phục các thuần phong mỹ tục tập quán lễ
hội, vui chơi giải trí khích lệ tinh thần cho nhân dân. Bộ mặt làng, xã cũng
được thay đổi rõ rệt, cảnh quan môi trường được bảo vệ.
Điều quan trọng là mô hình đã khơi dậy được niềm tin của nhân dân vào
sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Nói chung mô hình đã thúc đẩy được sự
tăng trưởng khá mạnh mẽ kinh tế - xã hội nông thôn ở địa phương. Tuy nhiên,
mô hình thí điểm xây dựng nông thôn mới còn nhiều khó khăn và bất cập,
một số tiêu chí về kết cấu cơ sở hạ tầng còn chậm triển khai do thiếu nguốn
vốn; vấn đề khai thác và sử dụng các nguồn tài chính cho chương trình chưa
cụ thể, rõ ràng
tiêu chí cuả chương trình thí điểm XDNTM.
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực hiện chương trình XDNTM trên
địa bàn Huyện Phong Điền từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Mỹ Khánh.
+ Phạm vi về không gian:
Luận văn nghiên cứu trong phạm vi huyện Phong Điền.
+ Phạm vi về thời gian:
Nghiên cứu và thu thập số liệu về quá trình thực hiện chương trình
XDNTM trên địa bàn thí điểm tại xã Mỹ Khánh trong giai đoạn 2010-2011.
5
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lý luận về vấn đề: Xây dựng nông thôn mới;
- Thực trạng và kết quả thực hiện thí điểm xây dựng nông thôn mới tại
xã Mỹ Khánh;
- Các bài học kinh nghiệm từ mô hình thí điểm xã Mỹ Khánh.
- Một số giải pháp đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả thực hiện chương
trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phong Điền thành phố Cần
Thơ.
6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
1.1.1. Nông thôn và vai trò của nông thôn ở nước ta
1.1.1.1. Khái niệm nông thôn
Nông thôn được coi như là khu vực địa lý nơi đó sinh kế cộng đồng gắn
bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên
nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Hiện nay trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn. Có
nhiều quan điểm khác nhau.
Có quan điểm cho rằng chỉ cần dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường,
của quốc gia.
- Thứ ba, nông thôn là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của
khu vực thành thị hiện đại. Trước hết nông thôn là địa bàn quan trọng tiêu thụ
các sản phẩm của công nghiệp. Nếu thị trường rộng lớn ở nông thôn được khai
thông, thu nhập người dân nông thôn được nâng cao, sức mua của người dân
tăng lên, công nghiệp có điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm sản xuất của
toàn ngành không chỉ hàng tiêu dùng mà cả các yếu tố đầu vào của nông
nghiệp. Phát triển nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và
những ngành sản xuất khác trên phạm vi toàn xã hội. Năm 2010, xuất khẩu
8
nông sản của Việt Nam đạt hơn 19 tỷ USD. Và ngành nông, lâm nghiệp và
thủy sản vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế với hơn 20%
GDP và 28% kim ngạch xuất khẩu cả nước trong năm 2010.
- Thứ tư, nông thôn có rất nhiều dân tộc khác nhau sinh sống, bao gồm
nhiều tầng lớp, nhiều thành phần khác nhau. Mỗi sự biến động dù tích cực hay
tiêu cực đều sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và
an ninh quốc phòng của cả nước. Do đó, sự phát triển và ổn định nông thôn sẽ
góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định tình hình của cả nước.
- Thứ năm, nông thôn chiếm đại đa số nguồn tài nguyên, đất đai, khoáng
sản, động thực vật, rừng, biển, nên sự phát triển bền vững nông thôn có ảnh
hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái, việc khai thác sử dụng có
hiệu quả các nguồn tài nguyên khu vực nông thôn bảo đảm cho sự phát triển
lâu dài và bền vững của đất nước.
Với những vai trò quan trọng nêu trên, nông thôn là phần cơ bản và đòi
hỏi tất yếu cần phát triển nông thôn trong quá trình phát triển quốc gia.
1.2. CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA NHÀ
NƯỚC
Hiện nay, chương trình XDNTM được coi là một chương trình quốc gia,
được chỉ đạo thống nhất từ trong ương tới các địa phương.
Mục tiêu của chương trình XD NTM ở nước ta là: “Xây dựng nông thôn
(ĐBSH), Bắc Trung Bộ (BTB), Duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB), Tây
Nguyên (TN), Đông Nam Bộ (ĐNB) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng.
10
Mười chín tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới bao gồm: Quy
hoạch và thực hiện quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở
vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư, thu nhập bình quân
đầu người/năm, tỷ lệ hộ nghèo, cơ cấu lao động, hình thức tổ chức sản xuất,
giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững
mạnh và an ninh, trật tự xã hội.
Mỗi tiêu chí đều được quy định mức chỉ tiêu cụ thể đối với từng xã để
được công nhận đạt xã nông thôn mới
1
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN
1.3.1. Ở nước ngoài
Tình hình thực hiện phát triển nông thôn ở các nước trên Thế giới cũng
được các nước rất chú trọng.
♦ Ở Trung Quốc
Nông thôn Trung Quốc đã có những bước thay đổi lớn từ sau cải cách
mở cửa (1978). Từ 1979, chế độ quản lý kinh tế nông thôn được thay đổi từ
cơ chế quản lý tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường. Qua mười năm thực
hiện chính sách cải cách mở cửa, đời sống nông dân đã thay đổi đáng kể,
nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm giải quyết. Nông thôn
Trung Quốc hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề nổi cộm: Trong xã hội, địa vị
của nông dân và thu nhập của cư dân nông thôn còn thấp, khoảng cách so với
1
- Thủ tướng Chính phủ, 2010, Quyết định 800-QĐ-TTg ngày 4/6/2010 về chương trình mục tiêu quốc gia
về nông thôn mới giai đọan 2010.
- Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2009, Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Hà Nội.
thực thi mọi việc. Saemaul Undong cũng rất chú trọng đến phát huy dân chủ
trong xây dựng NTM với việc dân bầu ra một nam và một nữ lãnh đạo phong
trào. Ngoài ra, Tổng thống còn định kỳ mời 2 lãnh đạo phong trào ở cấp làng
xã tham dự cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để trực tiếp lắng nghe ý kiến từ
các đại diện này. Nhằm tăng thu nhập cho nông dân, Chính phủ Hàn Quốc áp
dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy móc nông nghiệp, giá điện rẻ cho
chế biến nông sản. Ngân hàng Nông nghiệp cho doanh nghiệp vay vốn đầu tư
về nông thôn với lãi suất giảm 2% so với đầu tư vào ngành nghề khác Năm
2005, Nhà nước ban hành đạo luật quy định mọi hoạt động của các bộ, ngành,
chính quyền phải hướng về nông dân. Nhờ hiệu quả của phong trào Saemaul
Undong mà Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trở thành
một quốc gia giàu có, hiện đại bậc nhất châu Á.
♦ Ở Nhật Bản
Từ năm 1979, Tỉnh trưởng Oita-Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi
xướng và phát triển phong trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (One Village, one
Product-OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một
cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản. Phong trào "mỗi
làng một sản phẩm" dựa trên 3 nguyên tắc chính là: địa phương hóa rồi hướng
tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực. Trong
đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ
thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh. Sau 20
năm áp dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá
trị thương mại cao như như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam
Kabosu, giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương.
♦ Ở Thái Lan
13
Thông qua mô hình OVOP, Chính phủ đã xây dựng dự án cấp quốc gia
"mỗi xã, một sản phẩm" (One Tambon one Product-OTOP) nhằm tạo ra sản
phẩm mang tính đặc thù của địa phương có chất lượng, độc đáo, bán được
trên toàn cầu. Sản phẩm của OTOP được phân loại theo 4 tiêu chí: có thể xuất
Thực hiện Nghị quyết trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương khóa X
đã ban hành các Kết luận về một số nội dung trong Nghị quyết, bao gồm Đề
án An ninh lương thực quốc gia, Đề án Chương trình Xây dựng thí điểm mô
hình nông thôn mới cấp xã, Đề án về Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội
Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và
xây dựng giai cấp nông dân. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
24/2008/NQ-CP, ngày 28-10-2008, xác định “Chương trình mục tiêu Quốc
gia xây dựng nông thôn mới”. Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
800/QĐ-TTg, ngày 4-6-2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 gồm 11 nội dung, với 19 tiêu chí.
Đại hội XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng nông thôn
mới: “Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với đô thị và bố trí các điểm dân
cư. Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi
trường. Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc
điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể vững chắc trong từng giai đoạn; giữ
gìn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam. Đẩy
mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để khai
thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động…”
5
4
Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2008, tr. 125-126.
5
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 197-
198.
15
Với Nghị quyết của Đảng, những quyết sách của Chính phủ và sự vào
Phát triển nông thôn quy định: “vùng/khu vực nông thôn mới Việt Nam
XHCN là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,
thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã". Như vậy, nông
thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải là thị tứ, thị trấn Nông
thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng nông
dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có những
thuộc tính khác với nông thôn truyền thống. Đó là: làng xã văn minh, sạch
đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng
hoá; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được
nâng cao; giá trị văn hoá truyền thống được bảo tồn, phát triển; xã hội nông
thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Những kết quả bước đầu trong triển khai thực hiện Chương trình xây
dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào của cả nước, các nhiệm
vụ về xây dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội
Đảng các cấp từ tỉnh đến huyện và xã. Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực
tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã
tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền.
Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã
được hình thành từ Trung ương xuống địa phương. 63/63 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương, 84,7% huyện và 52% số xã trên toàn quốc đã thành lập
17
được Ban Chỉ đạo. Các bộ, ngành đã ban hành 25 loại văn bản hướng dẫn địa
phương về tổ chức bộ máy quản lý, điều hành, quy hoạch nông thôn mới. Ủy
ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai cuộc vận động
“Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông
thôn mới”. Ngày 8-6-2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động thi
đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”.
Dự toán hàng năm trình Quốc hội về bảo đảm chi ngân sách nhà nước
ngạch xuất khẩu các loại nông, lâm, thủy sản đạt 19,53 tỉ USD (tăng 3,46 tỉ
USD so với năm 2008).
Giao thông nông thôn được coi là khâu đột phá trong xây dựng hạ tầng
nông thôn. Trong 2 năm, 2009 và 2010 đã huy động gần 33 ngàn tỉ đồng,
trong đó nhân dân đóng góp khoảng 11,2% và trên 24 triệu ngày công lao
động; các nguồn khác chiếm 14,4%; ngân sách nhà nước hỗ trợ 74,4% mở
mới và nâng cấp hơn 40 nghìn ki-lô-mét đường; xây dựng khoảng 4.200 cầu
bê tông, cầu liên hợp, cầu dầm sắt, cầu treo, cầu gỗ và gần 50 nghìn cống. Hạ
tầng thương mại ở nông thôn mở rộng, tăng nhịp độ và tần suất giao thương.
Nâng cấp và mở rộng hệ thống điện, nâng tỷ lệ số xã lên 97,8% với 95,4% hộ
sử dụng điện. Hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin về cơ bản đã phát triển
đến các xã vùng sâu, vùng xa. Khoảng 70% số xã có điểm truy cập in-tơ-nét
công cộng và 97% số xã có điện thoại công cộng.
Cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển biến tích cực. Công nghiệp và
dịch vụ đã chiếm xấp xỉ 60% cơ cấu kinh tế nông thôn. Trên 40 tỉnh hoàn
thành việc xây dựng quy hoạch phát triển làng nghề nông thôn. Số lượng làng
19
nghề tăng lên, hiện có trên 2.971 làng nghề theo tiêu chí của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn.
Có thể khẳng định, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung
ương (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn là Nghị quyết mang tính
toàn diện và đầy đủ nhất để giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông
thôn nước ta từ trước đến nay. Vì vậy, được nhân dân cả nước, nhất là cư dân
nông thôn tích cực đón nhận, kỳ vọng về một thời kỳ với tương lai phát triển
mạnh mẽ.
Có thể coi đây là một cuộc vận động cách mạng to lớn và quan trọng
nhằm tập trung xác định rõ vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về
các hình thức tổ chức sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, có hiệu quả ở
nông thôn; mối quan hệ giữa đô thị - nông thôn, công nghiệp - nông nghiệp và
giữa trí thức - nông dân để bảo đảm phát triển bền vững.
sông, kênh trục là đấu mối giao thông thủy quan trọng của TP Cần Thơ cũng
21
như của Khu vực ĐBSCL, đây là yếu tố thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
và phát triển lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn.
Mang tính chất đặc thù của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nền nhiệt cao -
đều và phân làm hai mùa rõ rệt trong năm, Mùa mưa bắt đầu từ tháng 05 - 11;
mùa nắng từ tháng 12 - 04.
Nhiệt độ bình quân 27,6
o
C; nhiệt độ bình quân thấp nhất 21,1
o
C; nhiệt độ
bình quân cao nhất 36,7
o
C; tổng giờ nắng trong năm 2.613 giờ.
Lượng mưa trung bình/năm 2.134mm; lượng mưa cao nhất/năm
2.587mm; lượng mưa thấp nhất/năm 1.723mm; tổng số ngày mưa trung bình
cả năm 145 ngày.
Độ ẩm không khí trung bình cả năm : từ 82%
Độ ẩm trung bình cao nhất 86% (tháng 07); độ ẩm trung bình thấp nhất 79%
(tháng 12).
* Cơ cấu đất đai
Đơn vị hành chính gồm 06 xã và 01 thị trấn với 79 ấp: Thị trấn Phong
Điền (5 ấp), xã Nhơn Ái (7 ấp), xã Giai Xuân (14 ấp), xã Tân Thới (11 ấp), xã
Trường Long (20 ấp), xã Mỹ Khánh (8 ấp), xã Nhơn Nghĩa (14 ấp).
Qua Bảng 2.1 [Phụ lục 1a] nhận thấy diện tích đất nông nghiệp trong
huyện chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã. Trong
đó, diện tích đất nông nghiệp là 10.586,98 ha chiếm tỷ lệ 84,5% so với tổng
diện tích đất tự nhiên của toàn huyện. Đất nuôi trồng thủy sản có diện tích là
0,99 ha chiếm tỷ lệ 0.93% so với tổng diện tích đất nông nghiệp. Và đất trồng
giới thiệu cho 267 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, mặt bằng
chung về tay nghề, trình độ lao động nông thôn của huyện còn thấp, lao động
phổ thông và lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, việc làm trong
các ngành nghề chưa đa dạng, bấp bênh, thu nhập thấp và thiếu ổn định.
Bảng 2.3. Thống kê diện tích - dân số huyện Phong Điền (năm 2011)
STT Đơn vị Diện tích
(km2)
Dân số
(người)
Mật độ dân
số
(người/km2)
01 Thị trấn Phong Điền 8,14 10.787 1.326
02 Xã Nhơn Ái 16,32 14.075 862
03 Xã Giai Xuân 19,69 15.370 781
04 Xã Tân Thới 17,73 13.726 774
05 Xã Trường Long 31,00 18.350 592
06 Xã Mỹ Khánh 10,59 10.478 990
07 Xã Nhơn Nghĩa 21,79 17.180 788
Cộng 125.26 99.966 6.103
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Phong Điền
2.1.2.2. Đặc điểm Y Tế, Văn hoá - Giáo dục
- Về y tế: Công tác chăm sóc sức khỏe được quan tâm, nâng cao chất
lượng phục vụ, công tác phòng ngừa dịch bệnh, chương trình y tế quốc gia, vệ
sinh an toàn thực phẩm được triển khai sâu rộng, đồng bộ đáp ứng nhu cầu
chăm sóc sức khỏe nhân dân, huyện đã xây dựng hoàn thành Bệnh viện đa
khoa (200 giường), 7/7 xã, thị trấn có trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia, các
công trình đã và đang hoàn thành sẽ mở ra tiềm năng cho phát triển kinh tế -
xã hội địa phương.
24