LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi với sự giúp đỡ tận
tình của cô giáo hướng dẫn, của tập thể trong và ngoài trường.
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được sử
dụng. Các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc và tôi xin chịu trách nhiệm về
những số liệu trong bài luận văn này.
Hà Nội, ngày 3 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Lê Vũ Nguyệt Anh
i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Khoa
Kinh tế và PTNT, Bộ môn Phát triển nông thôn cùng toàn thể các thầy cô giáo trường
Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá trình học tập cũng như hoàn
thành khóa luận này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến ThS. Trần Mạnh Hải, người thầy đã
trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt
nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn UBND, HTXDVTH xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm,
thành phố Hà Nội và các hộ nông dân trên địa bàn xã Đa Tốn đã giúp đỡ, tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập tại địa phương.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè
đã luôn bên em trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Tuy có nhiều cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót
nhất định khi thực hiện đề tài. Kính mong thầy, cô giáo tiếp tục giúp đỡ, chỉ bảo em
hoàn thiện và phát triển đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 3 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Lê Vũ Nguyệt Anh
ii
NTM ở nước ta; Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan.
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu đó là:
phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp xử lý
và tổng hợp dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu. Để thực hiện nghiên cứu tôi tiến
hành điều tra 60 hộ nông dân trên địa bàn xã Đa Tốn và Ban quản lý xây dựng NTM.
Phần kết quả nghiên cứu đã nêu khái quát Chương trình xây dựng NTM trên địa
bàn xã Đa Tốn; Đánh giá của người dân về tình hình tổ chức thực hiện Chương trình
xây dựng NTM trên địa bàn xã. Từ đó nêu ra những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức
thực hiện CHương trình xây dựng NTM và giải pháp nhằm tăng cường thực hiện có
hiệu quả Chương trình trên địa bàn xã.
Trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng NTM, xã Đa Tốn đã
đạt được rất nhiều thành tựu, nhận được sự ủng hộ và đánh giá cao của nhân dân trong
xã. Tuy nhiên quá trình tổ chức thực hiện Chương trình của xã còn nhiều nội dung
thực hiện chưa tốt. Bằng cách phân tích những điểm mạnh yếu từ những ý kiến đánh
giá của người dân, đề tài đã đưa ra những kiến nghị và đề xuất với các cấp lãnh đạo và
nhân dân trong xã nhằm tăng cường thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng
NTM tại xã Đa Tốn trong thời gian tới.
iv
MỤC LỤC
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu đánh giá công tác tuyên truyền của xã Đa Tốn 57
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCĐ Ban chỉ đạo
BPT Ban phát triển
BQL Ban quản lý
BTV Ban thường vụ
BVTV Bảo vệ thực vật
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
GPMB Giải phóng mặt bằng
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
khủng hoảng năm 2008 và giữ được mức tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2006 -
2010 đạt 3,36%/năm, vượt mục tiêu đại hội Đảng X đề ra. Cơ cấu kinh tế nông thôn có
bước chuyển dịch tích cực. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn tiếp tục được
nâng cấp và phát triển đồng bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển, nhất là
về thủy lợi, giao thông, điện, thông tin truyền thông, hạ tầng ý tế, giáo dục, thương
mại, nước sinh hoạt, văn hóa thể thao. Xây dựng nông thôn mới được tích cực triển
khai, đã trở thành phong trào rộng khắp cả nước. (Thông báo số 179/TB - VPCP ngày
29 tháng 7 năm 2011).
Xây dựng nông thôn mới liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và là một
vấn đề mới được triển khai trên phạm vi cả nước nhưng lại chưa có tiền lệ, chưa có
quy trình cụ thể, hoàn chỉnh nên trong tổ chức, thực hiện gặp nhiều khó khăn vừa làm
vừa rút kinh nghiệm. Vì thế, tuy quá trình triển khai chương trình này đã đạt được một
số kết quả bước đầu quan trọng, nhưng việc thực hiện chương trình này ở nhiều nơi
vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong đợi.
1
Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò chủ thể của người dân trong việc tham gia
xây dựng Chương trình là rất quan trọng. Đảm bảo phương châm “Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra và dân thụ hưởng”. Chúng ta không thể có nông thôn mới nếu
không đề cao vai trò chủ thể của người dân và người dân không nhiệt tình, tâm huyết
cùng với Đảng và Nhà nước trong cả quá trình xây dựng nông thôn mới. Vì vậy,
những đánh giá, nhìn nhận của người dân cần được quan tâm và xem xét để có những
hướng điều chỉnh phù hợp trong thời gian tới.
Đa Tốn là một xã thuộc huyện Gia Lâm, là một trong số các xã được lựa chọn
thực hiện thí điểm và thành công về xây dựng mô hình nông thôn mới của thành phố
Hà Nội. Cho đến nay, về cơ bản xã đã đạt được hầu hết các tiêu chí của mô hình nông
thôn mới. Do đó, việc xem xét đánh giá tình hình tổ chức thực hiện Chương trình nông
thôn mới hiện nay ở xã Đa Tốn đang như thế nào? Có đúng như những gì đã xây dựng
và những kỳ vọng của chúng ta về Chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa
phương và đặc biệt là người dân trong xã – nơi mà về cơ bản đã đạt và xây dựng thành
công Chương trình này đánh giá, nhìn nhận như thế nào về những mặt đạt được, mặt
Chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
- Phạm vi địa điểm: Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên địa bàn xã Đa Tốn,
huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian:
+ Nguồn số liệu phục vụ đề tài được thu thập từ năm 2010-2014
+ Số liệu sơ cấp được thu thập: 1/2014 - 5/2014
+ Các giải pháp đề xuất áp dụng: 2015 - 2020
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Nông thôn
Chủ thể nông thôn là một tập hợp dân cư với nhiều thành phần, trong đó chủ
yếu là nông dân. Tập hợp dân cư này tồn tại dưới các hình thái: cá nhân, gia đình,
dòng họ, cộng đồng…
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới vẫn chưa có khái niệm chuẩn xác về nông
thôn và còn nhiều quan điểm khác nhau. Khi khái niệm về nông thôn người ta thường
so sánh nông thôn với đô thị. Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối,
thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia
trên thế giới.
Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể
hiều: “Nông thôn là vùng sinh sống của một tập hợp dân cư (gắn với những điều kiện
về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù). Tập hợp dân cư này tham gia vào các
hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất
định và chịu ảnh hưởng bởi các tổ chức khác”. (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
2.1.1.2 Phát triển nông thôn
Quan điểm về phát triển nông thôn ra đời và những năm 1970, trong bối cảnh
quan điểm phát triển nông thôn gắn liền với phát triển nông nghiệp nảy sinh nhiều mặt
hạn chế đặc biệt là đời sống của người dân nông thôn không được cải thiện và môi
trường bị đe dọa. Do đó, nội dung của phát triển nông thôn là bên cạnh việc ưu tiên
Mục tiêu xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; Cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh
công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc
văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; Nâng cao sức mạnh của hệ thống
chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố
5
liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững
chắc, đảm bảo thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định
hướng XHCN. Như vậy, hiểu một cách chung nhất của mục đích xây dựng mô hình
nông thôn mới là hướng đến một nông thôn năng động, có nền sản xuất nông nghiệp
hiện đại, có kết cấu hạ tầng gần giống đô thị.
Do đó, có thể quan niệm: “NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành
một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông
thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông
thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt”. (Phan Xuân Sơn và cộng sự, 2009).
2.1.1.4 Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về
nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa
đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các
chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc
phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí.
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang,
sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp
sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật
chất, tinh thần của người dân được nâng cao. Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp
cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không
chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. Xây dựng nông
thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ
nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
mương đã được kiên cố hóa do xã quản lý còn thấp. Giao thông chất lượng thấp,
không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục vụ
tốt cho sản xuất, lưu chuyển hàng hóa. Hệ thống lưới điện hạ thế chất lượng còn thấp,
quản lý mạng lưới điện ở nông thôn còn yếu, hao tổn điện năng lớn
7
- Hệ thống các trường mầm non, tiểu học, trung học ở nông thôn có tỷ lệ đạt
chuẩn còn thấp. Hầu hết các thôn không có nhà văn hóa, khu thể thao quy định.
• Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống nhân dân còn ở mức thấp
- Kinh tế hộ đóng vai trò chủ yếu nhưng quy mô nhỏ
- Kinh tế trang trại (hình thức sản xuất hiệu quả nhất trong nông nghiệp hiện
nay) còn rất hạn chế
- Đa số HTX hoạt động ở mức trung bình và yếu
- Doanh nghiệp nông nghiệp không đáng kể
- Liên kết tổ chức sản xuất hàng hoá yếu.
- Đời sống người dân nông thôn còn ở mức thấp
• Các vấn đề văn hóa – môi trường – giáo dục – y tế
- Giáo dục mầm non: 45,5% thôn không có lớp mẫu giáo, 84% không có nhà
trẻ.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 16,8%, chất lượng rất thấp, nhất là ở vùng sâu,
vùng xa.
- Tệ nạn xã hội tăng, hủ tục lạc hậu còn dai dẳng.
- Hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển.
- Môi trường sống ô nhiễm
• Hệ thống chính trị còn yếu (nhất là trình độ năng lực và điều hành).
Do yêu cầu nâng cao mức thụ hưởng thành tựu của công cuộc đổi mới đối với
giai cấp nông dân (giai cấp đã cùng với giai cấp công nhân đi suốt chiều dài lịch sử
của Đảng Cộng sản Việt Nam). Trong cuộc kháng chiến, giai cấp nông dân là đội quân
chủ lực của cách mạng nước ta đã đóng góp hi sinh nhiều nhất sức người, sức của cho
công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với tinh thần “thóc không thiếu một cân, quân
không thiếu một người”. Trong hòa bình, giai cấp nông dân là lực lượng đi đầu trong
cấu kinh tế nông thôn theo hướng tích cực, tỷ trọng trong sản xuất nông nghiệp giảm
dần, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn
được củng cố; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
khu vực nông thôn ổn định.
9
Bên cạnh sự phát triển và tiến bộ ở nông thôn trên nhiều lĩnh vực thì trong nông
nghiệp và nông thôn cũng còn nhiều bất cập như: Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ
cấu lao động còn chậm; nhiều sản phẩm nông nghiệp chất lượng chưa cao, năng lực
cạnh tranh thấp. Tốc độ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch
vụ chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển; chất lượng lao động nông
nghiệp, nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Về xây dựng quan hệ sản
xuất trong nông nghiệp, nông thôn còn mang tính phong trào chưa phù hợp với tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Mô hình kinh tế hợp tác kiểu mới chưa đủ sức
thuyết phục, thu hút nông dân tham gia, dù xu thế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp
là một tất yếu khách quan. Một số chính sách xã hội được triển khai thực hiện ở nông
thôn còn chậm và chưa đồng bộ. Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm nhanh nhưng chưa
bền vững. An ninh nông thôn nhiều nơi còn diễn biến phức tạp. Khoảng cách chênh
lệch thu nhập giữa dân cư thành thị với dân cư nông thôn ngày càng giãn ra…
Mặt khác, mục tiêu mà Đảng và Chính phủ đặt ra đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp. Vì vậy, một nước công nghiệp thì không thể có nền nông
nghiệp, vùng nông thôn lạc hậu và những người nông dân nghèo khó. Từ đó, việc xây
dựng nông thôn mới là hết sức cần thiết, nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn
lên vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội bền
vững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, gìn giữ và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. Góp phần phát triển kinh tế - xã
hội nông thôn mang tính bền vững, tăng thu nhập và nâng cao mức sống người dân
nông thôn, giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn.
2.1.3 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Theo thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC, ngày 13
lực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân mà từ đó xác định nội dung xây dựng
11
nông thôn mới cho phù hợp. Xét trên khía cạnh tổng thể thì nội dung chủ yếu trong
xây dựng nông thôn mới bao gồm:
2.1.4.1 Thành lập bộ máy quản lý, thực hiện
Cấp xã, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban Chỉ đạo Chương
trình xây dựng NTM của tỉnh, thành phố (gọi chung là Ban Chỉ đạo tỉnh):
a) Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh - Trưởng Ban chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia cấp tỉnh làm
Trưởng ban, Phó Trưởng ban thường trực là Phó Chủ tịch UBND tỉnh và 01 Phó
Trưởng ban là Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các thành viên Ban
Chỉ đạo là lãnh đạo các sở, ban ngành liên quan. Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh
gồm Trưởng ban, các phó trưởng ban và 3 ủy viên là đại diện lãnh đạo các Sở: Xây
dựng, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính;
Ban Chỉ đạo tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, quản lý, điều hành việc thực hiện các
nội dung của Chương trình xây dựng NTM trên phạm vi địa bàn.
b) Ban Chỉ đạo tỉnh thành lập Văn phòng Điều phối Chương trình xây dựng
NTM đặt tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giúp Ban Chỉ đạo tỉnh thực hiện
Chương trình trên địa bàn. Số lượng cán bộ của Văn phòng Điều phối do Trưởng Ban
chỉ đạo tỉnh quyết định, trong đó có cán bộ hoạt động chuyên trách, chủ yếu là cán bộ
Chi cục Phát triển nông thôn và cán bộ hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm là cán bộ
cấp phòng của các Sở, Ngành liên quan cử đến. Chánh Văn phòng Điều phối là Lãnh
đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phó Chánh văn phòng Điều phối nên do
Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn đảm nhiệm.
Cấp huyện, thị xã thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM của
huyện, thị xã (gọi chung là Ban Chỉ đạo huyện).
a) Ban Chỉ đạo huyện do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch
UBND huyện là Phó Trưởng ban. Thành viên gồm lãnh đạo các phòng, ban có liên
quan của huyện;
12
trên địa bàn xã. UBND tỉnh và UBND huyện có trách nhiệm hướng dẫn và tăng cường
cán bộ chuyên môn giúp các Ban quản lý xã thực hiện nhiệm vụ được giao.
+ Tổ chức xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch tổng thể và kế hoạch đầu tư
hàng năm xây dựng NTM của xã, lấy ý kiến các cộng đồng dân cư trong toàn xã và
trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
+ Tổ chức và tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia thực hiện, giám sát các hoạt
động thực thi các dự án đầu tư trên địa bàn xã.
+ Quản lý và triển khai thực hiện các dự án, nội dung bao gồm việc thực hiện
các bước từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, nghiệm thu bàn giao và đưa dự án vào
khai thác, sử dụng.
+ Được ký các hợp đồng kinh tế với các đơn vị có tư cách pháp nhân, cộng
đồng hoặc cá nhân cung cấp các hàng hóa, xây lắp và dịch vụ để thực hiện các công
trình, dự án đầu tư.
Trong trường hợp, đối với các công trình có yêu cầu kỹ thuật cao, đòi hỏi có
trình độ chuyên môn mà Ban quản lý xã không đủ năng lực và không nhận làm chủ
đầu tư, UBND xã có thể thuê một đơn vị/tổ chức có đủ năng lực quản lý để hỗ trợ hoặc
chuyển cho UBND huyện làm chủ đầu tư, có sự tham gia của lãnh đạo Ban quản lý xã.
Việc thuê đơn vị/tổ chức có đủ năng lực thực hiện theo các quy định hiện hành của
Nhà nước.
Cấp thôn, bản, ấp (gọi chung là thôn): Thành lập Ban phát triển thôn, thành
viên là những người có uy tín, trách nhiệm và năng lực tổ chức triển khai do cộng
đồng thôn trực tiếp bầu và Chủ tịch UBND xã có quyết định công nhận (gồm người
đại diện lãnh đạo thôn, đại diện các đoàn thể chính trị và hội ở thôn và một số người
có năng lực chuyên môn khác liên quan đến xây dựng NTM).
Ban phát triển thôn có các nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau đây:
a) Tổ chức họp dân để tuyên truyền, phổ biến cho người dân hiểu rõ về chủ
trương, cơ chế chính sách, phương pháp; các quyền lợi và nghĩa vụ của người dân,
14
cộng đồng thôn trong quá trình xây dựng NTM. Triệu tập các cuộc họp, tập huấn đối
với người dân theo đề nghị của các cơ quan tư vấn, tổ chức hỗ trợ nâng cao năng lực
dân cư” gắn với xây dựng NTM theo hướng dẫn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
2.1.4.3 Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí
quốc gia nông thôn mới
Mục đích: Làm cơ sở cho việc xây dựng nội dung, kế hoạch thực hiện đề án
nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia NTM.
Yêu cầu và tổ chức thực hiện:
a) Thành lập tổ khảo sát đánh giá: Thành phần gồm đại diện lãnh đạo UBND
xã, cán bộ chuyên môn, đại diện một số thôn trong xã; mỗi thôn thành lập nhóm khảo
sát (khoảng 5 - 6 người) để hỗ trợ cho tổ khảo sát xã thực hiện nhiệm vụ khảo sát,
đánh giá thực trạng tại thôn đó.
b) Tổ chức nghiên cứu các văn bản hướng dẫn về đánh giá thực trạng nông
thôn, lập kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ của tổ khảo sát đánh giá.
c) Tiến hành đánh giá thực trạng: Tổ khảo sát phối hợp với các nhóm ở các
thôn, bản tiến hành đo đạc, ước tính hoặc tính toán từng nội dung các tiêu chí.
d) Tổng hợp kết quả và xác định rõ thực trạng của xã so với yêu cầu của Bộ tiêu
chí quốc gia NTM như: Số tiêu chí đạt, mức đạt; những tiêu chí chưa đạt, mức đạt cụ
thể từng chỉ tiêu của tiêu chí.
2.1.4.4 Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã
Nội dung quy hoạch NTM gồm:
a) Quy hoạch sử dụng đất bố trí dân cư và hạ tầng công cộng theo chuẩn NTM.
b) Quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp (bao gồm: Trồng trọt, chăn
nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp), đất cho sản xuất công nghiệp - dịch vụ và hạ tầng phục
vụ sản xuất kèm theo.
2.1.4.5 Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã
16
Đề án xây dựng NTM của xã phải thể hiện được các nội dung cơ bản sau:
a) Kết quả khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu
chí quốc gia NTM, quy hoạch NTM của xã, …
b) Mục tiêu đề án: Đạt được các tiêu chí quốc gia của xã NTM.
c) Danh mục các công trình, dự án nhằm đạt được từng tiêu chí quốc gia xã
Đề án xây dựng NTM sau khi được UBND huyện phê duyệt phải được công bố
công khai cho nhân dân trong xã biết để thực hiện.
2.1.4.6 Tổ chức thực hiện đề án
Để thực hiện 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới sẽ căn cứ theo:
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/82009 của bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn
mới.
Các tiêu chí được chia thành 5 nhóm:
- Quy hoạch (1 tiêu chí)
- Hạ tầng kinh tế xã hội (8 tiêu chí)
- Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí)
- Văn hóa – xã hội và môi trường (4 tiêu chí)
- Hệ thống chính trị (2 tiêu chí)
19 tiêu chí của Chương trình xây dựng nông thôn mới gồm 11 nội dung như
sau:
• Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
• Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội
• Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
18
• Giảm nghèo và an sinh xã hội
• Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông
thôn
• Phát triển giáo dục đào tạo
• Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
• Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông
• Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
• Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội
trên địa bàn
các cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy hoàn thiện xây dựng. Các cơ chế, chính sách này
có ảnh hưởng lớn đến tình hình thực hiện trong xây dựng NTM của các địa phương.
Nó đem lại các tác động về kinh tế, xã hội và môi trường ở nơi thực hiện xây dựng
NTM. Quá trình triển khai thực hiện xây dựng NTM cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của
mô hình. Cách thức tiến hành đúng tiến độ, thời điểm tạo động lực đẩy mạnh hoàn
thiện, tuy nhiên nếu chủ quan, nóng vội sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của mô hình.
2.1.5.2 Trình độ và năng lực của cán bộ thực hiện
Đội ngũ cán bộ là khâu quan trọng, đóng vai trò quyết định đến chất lượng,
hiệu quả của công tác thực hiện xây dựng NTM. “Cán bộ là gốc của mọi việc”, do đó
năng lực quản lý, điều hành thực hiện xây dựng NTM cũng như năng lực chuyên môn
của từng cán bộ cơ sở ảnh hưởng tới mức độ hoàn thiện các tiêu chí. Cán bộ có năng
lực tốt, chuyên môn giỏi sẽ đưa ra được các mục tiêu, nội dung thực hiện phù hợp, tạo
động lực phấn đấu hoàn thiện các tiêu chí và ngược lại sẽ làm mất lòng tin của nhân
dân.
2.1.5.3 Nhận thức và sự tham gia của người dân
20