Số hóa bởi trung tâm học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM ĐINH THẾ HIỆP
CUỘC VẬN ĐỘNG TIỄU PHỈ Ở HÀ GIANG
GIAI ĐOẠN 1947- 1962 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1947- 1962 Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60.22.03.13 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HÀ THỊ THU THỦY
Thái Nguyên, 2013
i
LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn
TS. Hà Thị Thu Thủy, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
q trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cơ giáo khoa Lịch sử, khoa Sau đại học,
cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái
Ngun đã tạo điều kiện thuận lợi cho tơi trong suốt q trình học tập, nghiên
cứu tại trường.
Tơi xin trân thành cảm ơn Phòng Lưu trữ Tỉnh uỷ Hà Giang, Chi cục
Lưu trữ tỉnh Hà Giang, Ban nghiên cứu khoa học Lịch sử Bộ Chỉ huy Qn sự
Đinh Thế Hiệp Xác nhận
của trƣởng khoa chun mơn
Xác nhận
của Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Hà Thị Thu Thủy Số hóa bởi trung tâm học liệu />
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết là Đọc là
HĐND Hội đồng nhân dân
NXB Nhà xuất bản
Tr Trang
TS Tiến sĩ
UBHCKC Uỷ ban hành chính kháng chiến
UBND Uỷ ban nhân dân
Xb Xuất bản
1.2.2. Giai đoạn 1954-1962 25
Chƣơng 2. HOẠT ĐỘNG TIỄU PHỈ Ở HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 1947- 1962 33
2.1. Các hoạt động vũ trang 33
2.1.1. Tiễu phỉ ở Tiên Ngun (Bắc Quang) 34
2.1.2. Từng bước đánh bại âm mưu lập “xứ Nùng tự trị” ở Hồng Su
Phì của thực dân Pháp 35
2.1.3. Chiến dịch Đơng - Tây tập đồn 44
2.1.4. Tiễu phỉ ở Bắc Mê (Vị Xun), Đồng Văn và dập tắt các tổ chức
phản động 48
2.1.5. Truy qt tàn qn phỉ, dập tắt âm mưu nổi cờ trắng 50
2.1.6. Dập tắt vụ bạo loạn ở Đồng Văn 55
2.1.7. Tiễu trừ tàn qn phỉ ở núi Tây Cơn Lĩnh 58
2.2. Các hoạt động chính trị, kinh tế-văn hóa và giáo dục 59
2.2.1. Xây dựng chính quyền nhân dân, phát triển các tổ chức đồn thể
và cơ sở đảng 59
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
v
2.2.2. Phát triển kinh tế, văn hóa-giáo dục, y tế 63
Chƣơng 3. ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ, VAI TRỊ VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CỦA HOẠT ĐỘNG TIỄU PHỈ Ở HÀ GIANG GIAI ĐOẠN
1947-1962 67
3.1. Đặc điểm của hoạt động tiễu phỉ ở Hà Giang 67
3.1.1. Lực lượng phỉ hình thành chủ yếu ở vùng núi cao, ở khu vực giáp
biên giới và có quan hệ chặt chẽ với thực dân đế quốc 67
3.1.2. Hoạt động tiễu phỉ diễn ra gay go, phức tạp và kéo dài 70
3.1.3. Hoạt động tiễu phỉ ở Hà Giang có mối quan hệ với hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ 71
3.2.Vị trí, vai trò của hoạt động tiễu phỉ 73
3.3. Bài học kinh nghiệm của hoạt động tiễu phỉ 77
KẾT LUẬN 90
chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực
phản động ngày càng tinh vi và phức tạp. Chúng thường đưa ra các chiêu bài
“nhân quyền”, “tự do tơn giáo, tín ngưỡng” nhằm vào các khu vực trọng yếu,
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
2
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nhất là khu vực có nền kinh tế kém phát
triển và trình độ dân trí thấp để tun truyền xun tạc chủ trương, đường lối
của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm lơi kéo, kích động, xúi
giục quần chúng nổi dậy chống phá chính quyền cách mạng. Đặc biệt những
khu vực trước đây ở Hà Giang đã hình thành phỉ, đến nay chủ yếu có nền kinh
tế kém phát triển, nằm trong những huyện nghèo nhất cả nước, đời sống nhân
dân gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó vấn đề di dân tự do (chủ yếu của đồng
bào người Mơng di cư vào khu vực Tây Ngun), việc truyền đạo trái phép
(Xín Mần, n Minh, Mèo Vạc…), việc bắt cóc bn bán phụ nữ qua biên
giới, vấn đề an ninh biên giới… diễn ra hết sức phức tạp.
Tìm hiểu q hình thành và các biện pháp của ta trong cuộc vận động
tiễu phỉ giai đoạn 1947-1962 có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm
giúp các cơ quan, ban ngành có liên quan có những chính sách phát triển, hỗ trợ
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí vùng miền và dân tộc thiểu số; có những bước
đi vững chắc trong cơng tác dân vận và xây dựng khối đại đồn kết tồn dân.
Mặt khác để nhìn nhận lại một cách khách quan, chi tiết và có hệ thống về
những chiến cơng trong cuộc vận động tiễu phỉ mà nhân dân các dân tộc Hà
Giang lập được qua đó khơi dậy tinh thần tự hào dân tộc trong các thế hệ trẻ
của tỉnh nhà. Từ đó giáo dục giới trẻ có ý thức hơn trong việc học tập, rèn
luyện để chung tay xây dựng Hà Giang ngày càng phát triển vững mạnh.
Vì những lí do trên tơi chọn đề tài Cuộc vận động tiễu phỉ ở Hà Giang
giai đoạn 1947-1962 làm luận văn nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
Trong q trình thực hiện luận văn chúng tơi được tham khảo nhiều sách,
Cuốn “Hà Giang lịch sử kháng chiến chống Pháp 1945- 1954” của Bộ
Chỉ huy Qn sự tỉnh Hà Giang xuất bản năm 1994 và cuốn “Hà Giang lịch sử
kháng chiến chống Mĩ 1955- 1975” của Bộ Chỉ huy Qn sự tỉnh Hà Giang
xuất bản năm 1997 là cơng trình khoa học ghi lại sự kiện và tổng kết tồn bộ
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược trên địa bàn
tỉnh Hà Giang của nhân dân Hà Giang nói chung và của lực lượng vũ trang tỉnh
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
4
Hà Giang nói riêng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ địa phương. Tuy
nhiên, cuốn sách chưa đi sâu tìm hiểu về hoạt động tiễu phỉ tỉnh Hà Giang.
Cuốn “Tổng kết cơng tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Hà Giang (1947-
1962)” của Bộ Chỉ huy Qn sự tỉnh Hà Giang xuất bản năm 2001 đã viết một
cách khái qt về cơng tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Hà Giang (1947-1962)
nhưng chủ yếu là diễn biến trên mặt trận qn sự.
Cuốn “Những trận đánh điển hình của lực lượng vũ trang Hà Giang (1945-
1986)” của Bộ Chỉ huy Qn sự tỉnh Hà Giang xuất bản năm 2006 đã khái qt
và thể hiện diễn biến chính của những trận đánh tiêu biểu ở Hà Giang.
Cuốn "Lịch sử lực lượng vũ trang qn khu 2" của Bộ tư lệnh qn khu 2,
Nxb Qn đội nhân dân xuất bản năm 2006 là cơng trình đã dựng lại một cách
tương đối tồn diện, có hệ thống về sự ra đời phát triển cùng với những thành tựu
trong xây dựng, chiến đấu trưởng thành của lực lượng vũ trang qn khu 2.
Cuốn “Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Hà Giang 1945-2005” của Bộ
Chỉ huy Qn sự tỉnh Hà Giang xuất bản năm 2008 đã khái qt q trình hình
thành và phát triển của lực lượng vũ trang Hà Giang từ năm 1945 đến năm 2005.
Những tác phẩm sử học nói trên đã ghi lại cuộc đấu tranh bảo vệ chính
quyền trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của qn dân tỉnh Hà Giang
một cách tồn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh là những tài liệu rất bổ
ích cho tơi trong q trình tìm hiểu và nghiên cứu, là nguồn tài liệu chung để
đối chiếu so sánh khi giải quyết vấn đề. Nhưng để nghiên cứu một cách đầy đủ,
tồn diện và hệ thống về cuộc vận động tiễu phỉ ở Hà Giang giai đoạn 1947-
Nguồn tài liệu lưu trữ: gồm các báo cáo, chỉ thị, nghị quyết của Đảng
bộ tỉnh Hà Giang; các báo cáo của UBHCKC tỉnh Hà Giang và các huyện, của
lực lượng cơng an và qn đội tỉnh Hà Giang Đây là nguồn tài liệu gốc đáng
tin cậy, để có cái nhìn cụ thể, chân thực vấn đề mà đề tài quan tâm. Đồng thời
tác giả cũng sưu tầm nghiên cứu nhiều bài báo, bài phỏng vấn các đồng chí lão
thành cách mạng trực tiếp tham gia hoạt động tiễu phỉ. Đây là nguồn tài liệu
giúp bổ sung hồn thiện đề tài.
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
6
Ngồi ra, đề tài còn sử dụng các tài liệu đã cơng bố trên các tạp chí
Trung ương và địa phương, các tác phẩm, cơng trình đã xuất bản của các nhà
khoa học, của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng bộ các cấp, của Cơng an tỉnh Hà
Giang, của Bộ chỉ huy qn sự các tỉnh Hà Giang và một số đề tài về tiễu phỉ
của tỉnh Lào Cai, Lai Châu
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong q trình nghiên cứu phương pháp chủ yếu được sử dụng là
phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic. Để khắc phục những hạn
chế của các cơng trình ở địa phương về số liệu, sự kiện, của những tư liệu qua
thời gian khơng còn ngun vẹn, đồng thời tổng hợp các vấn đề liên quan đến
nội dung đề tài tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, điều tra,
phân tích, tổng hợp.
5. Đóng góp của luận văn
Dựa trên các tài liệu khoa học và nhân chứng, đề tài sẽ phân tích, tổng
hợp một cách khách quan, tồn diện về cuộc vận động tiễu phỉ ở Hà Giang giai
đoạn 1947-1962, cung cấp cho người đọc có cái nhìn khoa học đúng đắn về
những thành tựu mà qn và dân Hà Giang đã đạt được trong cơng cuộc xây
dựng và bảo vệ chính quyền, giáo dục người dân đặc biệt là đồng bào dân tộc
thiểu số vùng cao, vùng biên giới cảnh giác với những âm mưu diễn biến hòa
bình của các thế lực thù địch.
6. Cấu trúc của luận văn
Trong tiến trình của lịch sử, vùng đất Hà Giang đã qua nhiều lần thay đổi về
cương vực và tên gọi. Thời Vua Hùng Hà Giang thuộc Bộ Vũ Định (sau đổi thành
Tây Vu), thời Bắc thuộc Hà Giang được gọi là Quận Tân Hưng (220), Quận Tân
Xương (420) Từ thế kỷ X-XIX, Hà Giang được là phủ Phú Lương (năm 1009),
tường Phú Linh (1265), đạo thừa tun Tun Quang (1446)… Thời Pháp thuộc
Hà Giang gồm Phủ Tương n và huyện Vĩnh Tuy thuộc khu qn sự số 2 tỉnh
Tun Quang. Ngày 20-8-1891, tỉnh Hà Giang được thành lập trên cơ sở Phủ
Tương n và huyện Vĩnh Tuy thuộc đạo quan binh số 3, được chia thành 4 châu
gồm Bắc Quang, Hồng Su Phì, Vị Xun, Đồng Văn và thị xã Hà Giang.
Theo Sắc lệnh ngày 15-10-1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tồn quốc được
phân chia lại thành 9 chiến khu, Hà Giang thuộc Chiến khu I. Ngày 19-10-1946, cả
nước được chia thành 12 Chiến khu, Hà Giang thuộc Chiến khu 10. Ngày 25-01-
1948, theo Sắc lệnh số 120 chính thức sáp nhập Khu 10 và Khu 14 thành Liên khu
10, Hà Giang thuộc Liên khu 10. Ngày 23-3-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc
lệnh giải tán Khu Lao - Hà - n, sáp nhập tỉnh Hà Giang vào Khu tự trị Việt Bắc.
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
8
Ngày 15-12-1962, huyện Đồng Văn đã tách thành 3 huyện gồm n
Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn; huyện Vị Xun tách thành 2 huyện Quản
Bạ và Vị Xun (theo Quyết định số 211 của Hội đồng Chính phủ). Ngày
01-4-1965, huyện Hồng Su Phì tách thành 2 huyện Hồng Su Phì và Xín
Mần (theo theo Quyết định số 49 của Hội đồng Chính phủ). Tháng 4-1976,
tỉnh Hà Tun được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và
Tun Quang. Ngày 18-11-1983, huyện Vị Xun đã tách thành huyện Bắc
Mê và Vị Xun (theo Quyết định số 136 của Hội đồng Bộ trưởng). Ngày
12-8-1991, Quốc hội nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết
định chia tỉnh Hà Tun thành hai tỉnh Hà Giang và Tun Quang. Tỉnh Hà
Giang được tái lập gồm 10 đơn vị hành chính gồm thị xã Hà Giang và 9
huyện, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Hà Giang. Ngày 1-12-2003, huyện Quang Bình
được thành lập trên cơ sở tách 12 xã thuộc huyện Bắc Quang, 02 xã thuộc
lượng trên một triệu tấn với hàm lượng khống chất cao như: Ăngtimon ở các
mỏ: Mậu Duệ, Bó Mới (n Minh); sắt ở Tùng Bá, chì-kẽm ở Na Sơn, Cao Mã
Pờ. Ngồi ra, còn có nhiều khống sản khác như: mănggan, vàng sa khống,
cao lanh
Do địa hình bị cắt xẻ mạnh nên đường xá đi lại hết sức khó khăn, khí hậu
hết sức khắc nghiệt nhất là về mùa đơng, trong khi diện tích rừng tương đối
lớn. Từ các đặc điểm trên Hà Giang trở thành thành lũy tự nhiên, hiểm hóc, án
ngữ một vùng địa đầu Tổ quốc ở phía Bắc và có ý nghĩa quan trọng về an ninh
quốc phòng, thuận lợi cho việc phát triển chiến tranh du kích, ém dấu lực
lượng, xây dựng các khu căn cứ chiến đấu. Do địa hình hiểm trở nên lực lượng
phỉ lợi dụng ẩn nấp xây dựng căn cứ chống phá chính quyền cách mạng.
1.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Giang trƣớc năm 1947
Tháng 9-1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, từ năm 1881
đến năm 1887 Pháp cơ bản chiếm được Hà Giang, nhân dân Hà Giang chịu sự
thống trị của thực dân Pháp. Nhiều cuộc nổi dậy khởi nghĩa chống Pháp đã nổ
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
10
ra như khởi nghĩa của đồng bào Tày do Triệu Tiến Kiên lãnh đạo (1901),
khởi nghĩa của đồng bào Nùng do Triệu Tài Lộc chỉ huy (1905) đều thất
bại. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) tạo bước ngoặt cho cách
mạng Việt Nam nói chung và Hà Giang nói riêng. Từ 1932 đến 1939, nhiều
cán bộ của Đảng đến Hà Giang gây dựng cơ sở cách mạng. Vì đường xá đi
lại khó khăn, đất rộng, người thưa, cán bộ địa phương hầu như khơng có nên
thực dân Pháp và tay sai nhanh chóng phát hiện, trục xuất ra khỏi địa
phương. Tháng 9 -1940, phát xít Nhật nhảy vào Đơng Dương, thực dân Pháp
nhanh chóng đầu hàng. Pháp-Nhật cấu kết với nhau bóc lột nhân dân ta,
nhân dân ta một cổ phải chịu hai tròng.
Tháng 2-1943, một số cán bộ Việt Minh do đồng chí Bàn Văn Tiên phụ
trách được Xứ ủy Bắc Kỳ cử lên Bắc Quang xây dựng cơ sở cách mạng. Sau một
thời gian ngắn, cơ sở cách mạng được xây dựng ở nhiều xã thuộc huyện Bắc
quần chúng nhân dân, binh lính người Việt tham gia cách mạng. Các huyện lỵ
của Hà Giang lần lượt được giải phóng: Bắc Quang (04-11-1945), Hồng Su
Phì (13-11-1945, thực tế ta thu phục hai cha con thổ ty Vương Văn Thịnh,
Vương Văn Đường chuyển hóa thành chính quyền cách mạng), đồn Quản Bạ
(21-11-1945), riêng huyện Đồng Văn cán bộ của ta đã thuyết phục được
Vương Chí Sình (một thổ ty nắm chính quyền ở Đồng Văn) về Hà Nội gặp
Chủ tịch Hồ Chí Minh (11-1945). Người đã gặp gỡ, nói chuyện và giao cho
Vương Chí Sình làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính huyện Đồng Văn, đồng thời
cử cán bộ cùng Vương Chí Sình quay trở lại Đồng Văn mời thêm đại diện các
khu, các dân tộc để thành lập chính quyền huyện. Trên thực tế ta tạm thời thừa
nhận chính quyền thổ ty Vương Chí Sình là Uỷ ban hành chính của cách
mạng. Với chủ trương kiên trì thuyết phục, chuyển hóa bằng mọi biện pháp,
cố gắng khơng để Vương sa vào bẫy của kẻ thù có thể nói đây là một thắng lợi
quan trọng của Chính phủ ta, tiếp đó ta giải phóng thị xã Hà Giang (08-12-
1945). Ngày 25-12-1945, Uỷ ban Hành chính lâm thời của tỉnh Hà Giang do
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
12
đồng chí Thanh Phong làm Chủ tịch đã ra mắt nhân dân Hà Giang. Mở ra cho
nhân dân Hà Giang thời kỳ mới, đó là xây dựng, bảo vệ chính quyền cách
mạng, bảo vệ cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Ngày 6/1/1946, trong tư thế người làm chủ, nhân dân Hà Giang cùng với
nhân dân cả nước, nơ nức tham gia cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Tiếp đó
tỉnh Hà Giang đã thành lập Hội đồng nhân dân tỉnh, xã và Uỷ ban hành chính
các cấp ở những khu vực ta nắm được là huyện Bắc Quang, Vị Xun, khu
Đơng Minh (Đồng Văn). Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và thành lập Hội
đồng nhân dân ở các xã đã biểu dương được sức mạnh của khối đồn kết tồn
dân, phát huy tinh thần u nước, ý thức làm chủ đất nước của nhân dân, mở
rộng ảnh hưởng của ta vào những vùng bị địch và thổ ty đang còn kiểm sốt.
Đến giữa năm 1946, một số cơ quan chun mơn giúp việc cho chính quyền
được thành lập Ty liêm phóng (Ty cơng an), Ty thơng tin, Ty bình dân học vụ.
giữa các dòng họ đẩy một số dân tộc tới nguy cơ diệt vong như Lơ Lơ, Pu
Péo Tầng lớp thổ ty, bang tá, tổng giáp, mã phài chiếm một số lượng nhỏ
nhưng là chỗ dựa của thực dân Pháp nên được dung dưỡng để bóc lột nhân dân.
Ngồi ra chúng khuyến khích các hủ tục về cưới xin, ma chay, các tệ nạn xã hội
cờ bạc, rượu chè, nghiện hút, mê tín như ma gà, ma ngũ hải, ốm đau thực hiện
cúng bái
Với quyết tâm cướp nước ta một lần nữa, thực dân Pháp có hàng loạt các
hành động qn sự phá hoại Hiệp định sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-
1946). Ngày 18-12-1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư đòi ta giao quyền kiểm
sốt thủ đơ Hà Nội nếu khơng chúng sẽ hành động. Trước tình hình đó với
quyết tâm thà hy sinh tất cả nhất định khơng chịu mất nước, khơng chịu làm nơ
lệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho quyền lợi của tồn thể quần chúng nhân
dân lao động, Người đã thay mặt Chính phủ phát động tồn quốc kháng chiến
chống thực dân Pháp (19-12-1946). Cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Hà
Giang đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Thực dân Pháp chống phá ta trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, qn
sự chúng còn đẩy mạnh mua chuộc tay sai, tun truyền kích động nhân dân
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
14
nổi phỉ chống chính quyền cách mạng đặc biệt là khu vực miền núi. Do đó để
chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta thực hiện đường lối kháng chiến tồn
dân, tồn diện, trường kỳ, tự lực các sinh, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Ở
khu vực miền núi trong đó có Hà Giang hoạt động chống nổi phỉ của thực dân
Pháp được Đảng ta đặc biệt quan tâm.
1.2. Sự hình thành lực lƣợng phỉ ở Hà Giang
“Phỉ gọi chung các nhóm vũ trang và bán vũ trang bất hợp pháp
chun hoạt động lén lút, quấy phá, cướp bóc ở địa bàn rừng núi đặc biệt là
ven các trục giao thơng, gây mất an ninh ổn định nhằm chống chính quyền,
chống nhân dân. Phương thức hoạt động chủ yếu tập kích, đột kích, pháo
kích, bẫy mìn … Qn phỉ thường dùng lực lượng nhỏ đánh nhanh, rút
sống được”[115, tr.37]; nêu khẩu hiệu “Giết người Tày lấy ruộng, giết người
Kinh lấy muối, giết người Nùng lấy bạc già” [115, tr.37]. Nhiều đồng bào
người Dao đã bị lơi kéo tham gia đi cướp bóc, chém giết rất dã man đồng bào
các dân tộc khác.
Ở khu vực biên giới Việt-Trung giáp huyện Hồng Su Phì lực lượng phỉ
Hạng Sào Chúng (Múng Tủng-Trung Quốc) đưa qn sang khu vực Hồng Su
Phì hoạt động, cung cấp vũ khí cho lực lượng cờ trắng. Lực lượng phỉ đã phát
triển nhanh, đến cuối tháng 10-1947 phỉ đã có tới hơn 500 người. Thực dân
Pháp tìm cách liên lạc với lực lượng cờ trắng để chống phá cách mạng " biết
Phú có ý đồ nổi loạn, ngày 24/9/1947 hai tên việt gian của phong nhì (B2) Pháp
từ Lào Cai đến gặp Phú bàn mưu hành động chống chính phủ Hồ Chí Minh"
[115, tr.45]. Đến cuối tháng 10-1947, phỉ cờ trắng đã đốt 261 nóc nhà, giết hại
69 người trong đó có cả trẻ em, người già và phụ nữ có thai, đặc biệt ở Tiên
Ngun (Bắc Quang) có gia đình có 12 người đều bị phỉ thiêu sống, giết một
gia đình khác gồm 14 người, đồng thời cướp trâu bò và nhiều tài sản khác.
Cùng thời điểm này, thực dân Pháp huy động 12.000 qn tấn cơng lên
Việt Bắc thực hiện kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” nhằm tiêu diệt cơ quan
đầu não kháng chiến, tiêu diệt chủ lực của ta để nhanh chóng kết thúc chiến
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
16
tranh. Phối hợp với cuộc tiến cơng Việt Bắc thu - đơng 1947, thực dân Pháp
tiến cơng lên Tây Bắc nhằm chiếm đất giành dân, mở rộng vùng chiếm đóng,
bịt kín biên giới giữa ta và Trung Quốc.
Ở Hà Giang, thực dân Pháp tiến cơng vào Hồng Su Phì âm mưu lập
“xứ Nùng tự trị”. Trong khi ở Hồng Su Phì chính quyền cách mạng được
thành lập (15-11-1945) nhưng lại do cha con thổ ty Vương Văn Thịnh,
Vương Văn Đường được cách mạng cảm hóa nắm giữ. Các cơ sở cách mạng
mới hình thành, đồng bào hiểu chưa nhiều về phong trào cách mạng và
Chính phủ Hồ Chí Minh.
Cùng với việc tấn cơng Hồng Su Phì, thực dân Pháp tun truyền, lơi
Tính đến 26-4-1948, sau gần 2 tháng liên tục mở các cuộc tiến cơng lực
lượng phỉ có khoảng gần 2000 tên (trong đó có 30 sĩ quan Pháp và lính khố
đỏ), đóng giữ trên 20 vị trí đồn bốt kéo dài từ Lao Chải, Thanh Thủy (Vị
Xun), Hồng Su Phì và Khn Lùng, n Bình (Bắc Quang) tạo thành một
vòng cung uy hiếp thị xã Hà Giang và huyện Bắc Quang. Bước đầu thực dân
Pháp đã thực hiện được âm mưu lập “xứ Nùng tự trị” tại Hồng Su Phì.
Trong vùng tạm chiếm, với chiến thuật “vết dầu loang” thực dân Pháp hỗ
trợ phỉ đẩy mạnh các hoạt động qn sự, tăng cường phá hoại ta về cả kinh tế,
văn hóa chính trị, cho máy bay bắn phá thị xã Hà Giang, Bắc Quang… đánh
chiếm nhiều khu vực của ta. Chúng tun truyền dụ dỗ, mua chuộc nhân dân để
thành lập các hội tề và lơi kéo nhân dân chống lại sự có mặt của bộ đội, củng cố
tổ chức chính quyền bù nhìn tay sai, đẩy mạnh thực hiện chính sách chia rẽ dân
tộc. Gây thành kiến, thù hằn dân tộc, ra sức lợi dụng các mối quan hệ xã hội,
tập tục cổ truyền trong các dân tộc.
Chúng dùng tiền, muối, vải…làm phần thưởng mua chuộc đồng bào,
cấp gạo cho những gia đình có người đi phỉ, cho phỉ cướp phá tàn sát các cơ sở
cách mạng, tăng cường khủng bố, cướp phá vùng tự do. Để lừa bịp, lơi kéo
quần chúng, địch đưa ra các luận điệu "Chính phủ Hồ Chí Minh khơng còn
Số hóa bởi trung tâm học liệu />
18
nữa, chỉ còn lại một số Việt Minh, chúng ta phải cùng người Pháp đánh tan
Việt Minh để cho các dân tộc thiểu số được tự trị"[118, tr.75]; “Chính phủ Hồ
Chí Minh tốt nhưng khơng trường kỳ kháng chiến được. Bây giờ Pháp cho dân
Nùng được lập nước Nùng. Vệ quốc đồn bị Pháp đánh thua to mất hết súng
rồi” [112, tr30]…
Nhiều đồng bào đã mắc mưu chiêu bài “xứ Nùng tự trị”, địch đã lơi kéo
thầy mo, thầy cúng, những người thuộc tầng lớp trên như thổ ty Vương Văn
Thịnh, Vương Văn Đường… tổ chức được bộ máy ngụy quyền, buộc dân qn
du kích trở thành lính dõng. Thực dân Pháp còn cung cấp lương thực cho Hạng
Sào Chúng (Múng Tủng-Trung Quốc) để chúng tham gia đánh Việt Minh.