vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế ở việt nam - Pdf 24

Đề án kinh tế chính trị
ĐỀ TÀI: VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN
CỦA CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở VIỆT NAM
Mục lục

Lời mở đầu 2
Bối cảnh và các khái niệm 3
1. Kinh tế nhà nước 3
2. Kinh tế tập thể 4
3. Kinh tế cá thể 4
4. Kinh tế tư bản tư nhân 4
5. Kinh tế tư bản nhà nước 5
6. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 5
Đánh giá vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế 7
Xu hướng và định hướng phát triển 14
Kết luận 16
Tài liệu tham khảo 17
SV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
1
Đề án kinh tế chính trị
Lời mở đầu
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, để có thể cạnh tranh và đứng
vững trên thị trường, Việt Nam đã và đang phát huy sức mạnh tổng hợp của các
thành phần kinh tế, kết hợp nội lực với ngoại lực để phát triển nhanh hơn. Tuy
nhiên, trong giới nghiên cứu và lý luận hiện vẫn còn nhiều tranh luận xung
quanh vị trí, vai trò của từng thành phần trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Bài viết này nhằm mục đích góp thêm tiếng nói vào diễn đàn
tranh luận đó. Bài viết được trình bày theo 4 phần, trong đó: phần 1 điểm lại
những chủ trương chính sách về phát triển các thành phần kinh tế của Nhà nước
ta; phần 2 phân tích và đánh giá vị trí vai trò của từng thành phần kinh tế hiện

phát triển của nền kinh tế. Trước năm 1986 chỉ có hai thành phần kinh tế được
công nhận chính thức, đó là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Đến Đại hội
Đảng lần thứ VI (1986), khi bắt đầu bước vào xây dựng nền kinh tế nhiều thành
phần, Nhà nước chính thức xác nhận các thành phần kinh tế (bao gồm kinh tế xã
hội chủ nghĩa gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể cùng với bộ phận
kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó và các thành phần kinh tế khác gồm:
kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc tiểu số ở Tây
Nguyên và các vùng núi cao khác). Cũng những thành phần kinh tế đó, Đại hội
Đảng VII (1991) và VIII (1996) đã phân định thành 5 thành phần (bao gồm: kinh
tế quốc doanh/kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể/HTX, kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân). Đại hội Đảng IX (2001) đã bổ
sung thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Văn kiện của Đại hội IX đã
khẳng định rõ "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận
cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng
trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân".
Bài viết này sử dụng cách phân loại của Đại hội IX. Theo đó, Nhà nước
đã xác định, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể phải từng bước trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, trong đó, kinh tế nhà
nước đóng vai trò chủ đạo.
1. Kinh tế nhà nước
Thành phần kinh tế nhà nước bao gồm các tổ chức kinh tế thuộc các ngành
kinh tế quốc dân do Nhà nước đầu tư vốn và quản lý và phần vốn nhà nước trong
các liên doanh hoặc công ty cổ phần. Cụ thể là doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước, doanh nghiệp nhà nước đã khoán, cho thuê (sở hữu vẫn thuộc nhà nước);
liên doanh mà các bên tham gia đều là doanh nghiệp nhà nước; quỹ dự trữ quốc
gia, quỹ bảo hiểm nhà nước, tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng
chu chuyển kinh tế; ngân hàng nhà nước; liên doanh mà nhà nước chiếm cổ phần

hiệu quả hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn và đưa ra nhiều ưu đãi dành riêng cho
các HTX về đất đai, về thuế, về tín dụng, hỗ trợ thông tin tiếp thị và nghiên cứu
thị trường. Hội nghị Trung ương 5 khoá IX cũng đã ban hành Nghị quyết số 13
năm 2002 đưa ra các biện pháp hỗ trợ khác về vốn, đào tạo nhân lực, quản lý nhà
nước đối với kinh tế tập thể.
3. Kinh tế cá thể
Thành phần kinh tế cá thể thực chất là kinh tế tư nhân có qui mô nhỏ, bao
gồm hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tiểu chủ trực tiếp sản xuất kinh doanh, có
thuê mướn lao động nhưng chưa thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp
(ví dụ như các trang trại, chủ thầu xây dựng loại nhỏ, chủ cửa hàng, xưởng sản
xuất), các liên doanh trong đó cá thể, tiểu chủ chiếm tỷ trọng vốn lớn. Đây là khu
vực kinh tế tồn tại nh một tất yếu và mang tính đặc thù của nền kinh tế nhỏ lẻ,
đang phát triển ở trình độ thấp bắt nguồn từ nông nghiệp nh nước ta.
SV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
4
Đề án kinh tế chính trị
4. Kinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm những doanh nghiệp do các nhà đầu tư
trong nước bỏ vốn thành lập, thuê mướn lao động và hưởng lợi nhuận. Đó là
những doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp (doanh nghiệp tư nhân,
công ty TNHH, công ty cổ phần không có vốn nhà nước), liên doanh với thành
phần kinh tế tập thể và tiểu chủ trong đó thành phần kinh tế tư bản tư nhân chiếm
nguồn vốn lớn nhất.
Về chủ trương chính sách, kinh tế tư bản tư nhân được chính thức công
nhận từ năm 1986. Những năm gần đây, khu vực tư bản tư nhân được huy động
phát triển. Nghị quyết trung ương 4 khoá VIII nêu lên chủ trương phát huy tối đa
và sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong nước; tháo gỡ khó khăn tạo thuận lợi cho
kinh tế tư nhân phát triển. Năm 2002, Hội nghị Trung ương 5 đã ban hành Nghị
quyết số 14 về phát triển kinh tế tư nhân bằng cách tạo điều kiện thuận lợi hơn

tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm qua, Nhà nước
đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích sự phát triển của kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài. Tháng 12 năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã
được Quốc hội thông qua, và sau đó đã qua 4 lần sửa đổi (1990, 1992, 1996 và
2000). Những qui định luật pháp đó đã tạo hành lang pháp lý, cam kết bảo vệ lợi
Ých hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài. Gần đây, Nhà nước ta đã tiếp tục
bổ sung nhiều chính sách, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước
ngoài như: mở rộng phạm vi đầu tư về quy mô, về lĩnh vực hoạt động, về hình
thức đầu tư.
SV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
6
Đề án kinh tế chính trịSV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
7
Đề án kinh tế chính trị
Đánh giá vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế
Đồ thị: Tỷ trọng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế theo một số chỉ
tiêu chủ yếu năm 2002
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%

Kinh tế ngoài quốc doanh 48,20 47,84 47,86 46,45 45,61 45,68
Kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài 13,27 13,76 13,76 14,47 15,17 15,89
Tốc độ tăng GDP (giá so
sánh) 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,43
Kinh tế nhà nước 7,72 7,44 7,11 7,65 7,75 7,36
Kinh tế ngoài quốc doanh 5,04 6,36 7,04 6,36 6,95 8,19
Kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài 11,44 7,21 7,16 10,52 11,51 13,20
SV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
8
Đề án kinh tế chính trị
Chú thích: (*) Tương đương với khái niệm về kinh tế tư bản nhà nước; **: tổng
của 3 khu vực kinh tế: tư nhân, cá thể, hỗn hợp.
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Bảng 1 cho thấy kinh tế nhà nước chiếm vị trí quan trọng và có ảnh hưởng
lớn đến sự phát triển của nền kinh tế. Khu vực kinh tế nhà nước chiếm giữ phần
lớn các nguồn lực từ tài sản, đất đai đến nguồn vốn tài chính, vốn con người
đồng thời có những đóng góp nhiều nhất cho tăng trưởng kinh tế. Trong năm
2003, khu vực kinh tế nhà nước hiện có khoảng 5175 doanh nghiệp chiếm giữ
56,5% tổng vốn đầu tư phát triển và đóng góp hơn 38% GDP (xem bảng 2).
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo, thậm chí độc quyền trong nhiều
ngành kinh tế, nhất là những ngành có vị trí then chốt như bưu chính viễn thông,
hàng không, v.v. Doanh nghiệp nhà nước góp phần đẩy mạnh quá trình công
nghiệp hoá đất nước theo hướng xuất khẩu. Khu vực này đã sản xuất ra 39,5%
giá trị sản lượng công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu và 23,7% tổng thu
ngân sách nhà nước. Hầu hết các hoạt động sản xuất và dịch vụ công Ých đều do
doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm (Phương Ngọc Thạch, 2003).
Năm 2005, tỷ trọng trong GDP của khu vực kinh tế nhà nước rất ít thay

dịch vụ Ýt có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới,
Thứ hai, so với các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà nước được
nhận nhiều sự hỗ trợ và hưởng những đặc quyền mà các doanh nghiệp khác
không thể có được. Doanh nghiệp nhà nước được vay vốn không cần thế chấp
(khi kinh doanh thua lỗ, vẫn được khoanh nợ, giảm nợ, dãn nợ); được giao đất
mà không phải thuế đất, được giao thực hiện các dự án lớn của Nhà nước mà
nắm chắc là thu lãi lớn, v.v Trong 4 năm 1997-2000, ngân sách nhà nước đã
đầu tư gần 8.200 tỉ đồng cho doanh nghiệp nhà nước (trong đó 2.216 tỉ đồng cấp
bổ sung vốn lưu động, 1.464 tỉ đồng bù lỗ, giúp donh nghiệp giảm bớt khó khăn
về tài chính), miễn giảm thuế 1.351 tỉ đồng, xoá nợ 1.088 tỉ đồng, khoanh nợ
3.392 tỉ đồng, giãn nợ 540 tỉ đồng, giảm trích khấu hao 200 tỉ đồng. Hiện Nhà
nước vẫn đang tiếp tục cấp thêm nhiều tỉ đồng bổ sung vốn cho các doanh
nghiệp nhà nước, để trong 5 năm 2001-2005, cơ bản tạo đủ vốn cho doanh
nghiệp (Đinh Văn Ân, 2003),
Thứ ba, bên cạnh sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước, hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng nhà nước và các dịch vụ công khác, kể cả các dịch
vụ công Ých, cũng thấp. Hệ thống ngân hàng chưa bảo đảm cung cấp nguồn vốn
đầy đủ và thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần. Các dịch vụ công,
nhất là những dịch vụ phục vô khu vực doanh nghiệp còn yếu kém, chi phí cao,
chất lượng thấp.
Khác với khu vực kinh tế nhà nước, vai trò của khu vực kinh tế tập thể đã
giảm đi rất nhiều so với thời kỳ trước đổi mới. Trong 3 năm gần đây, khu vực
kinh tế này trung bình chỉ tạo ra khoảng 7,8% GDP, đóng góp không đáng kể
cho ngân sách nhà nước. Hiện nay, cả nước có khoảng 17.500 HTX, chỉ bằng
20% sè doanh nghiệp thuộc khu vực tư bản tư nhân, với qui mô nhỏ, lượng vốn
Ýt. Các HTX thu hút hơn 7 triệu xã viên và tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao
động (Trương Tấn Sang, 2003). Trong quá trình công nghiệp hoá hiện nay, khu
vực kinh tế tập thể đã có những dấu hiệu chuyển dịch theo hướng gia tăng dần tỉ
trọng các HTX phi nông nghiệp. Hiện nay, HTX nông nghiệp chiếm khoảng
31%, công nghiệp chiếm 23,6%, thuỷ sản 12,7%, giao thông vận tải 11%, xây

nhàn rỗi đó lưu thông trong nền kinh tế thông qua quan hệ họ hàng quen biết. Sự
phát triển của kinh tế cá thể và tiểu chủ tạo ra sự năng động cho nền kinh tế đáp
ứng nhu cầu đa dạng của xã hội. Tuy nhiên, sự lớn mạnh của khu vực kinh tế này
cũng thể hiện sự manh mún và trình độ phát triển thấp của nền kinh tế Việt Nam.
Cùng với các chủ trương chính sách ngày càng cởi mở hơn của Nhà nước,
khu vực kinh tế tư bản tư nhân ở Việt Nam đã dần dần xuất hiện và ngày càng
khẳng định vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế. Hiện nay, Khu vực
này cung cấp tổng vốn khoảng 57,3 nghìn tỉ đồng, chiếm khoảng 26,3% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội (2003). Trong những năm gần đây, khi nguồn vốn đầu tư
nước ngoài bị giảm sút, sự lớn mạnh của khu vực tư nhân đã bổ sung kịp thời
nguồn vốn bị thiếu hụt và giữ vững đà phát triển kinh tế của đất nước. Mặc dù
mới được khuyến khích phát triển, khu vực kinh tế tư bản tư nhân đóng góp
khoảng 4% GDP năm 2003, tạo ra khoảng 1,8 triệu lao động, gần bằng số lao
động làm việc trong khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Kinh tế tư bản tư nhân góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nước thông qua việc nâng cao tỷ lệ tích luỹ và đầu tư, phân phối
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế, tăng sức cạnh canh trong nền kinh
tế, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ để hội nhập kinh
SV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
11
Đề án kinh tế chính trị
tế quốc tế (Nguyễn Thanh Tuyền, 2002, tr.214). Tốc độ tăng trưởng công nghiệp
của khu vực tư bản tư nhân luôn tăng cao hơn so với tốc độ tăng của ngành công
nghiệp trên cả nước. Kinh tế tư bản tư nhân đóng góp khoảng 20-30% tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong nhiều lĩnh vực, kinh tế tư bản tư nhân có
khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Bên cạnh đó, khu vực tư bản tư
nhân đã tạo được sức Ðp cải cách đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Sự
xuất hiện của tư bản tư nhân ở nhiều ngành, lĩnh vực tạo ra môi trường cạnh
tranh buộc doanh nghiệp nhà nước phải nâng cao hiệu quả để có thể tồn tại và

Tỷ trọng xuất khẩu trong tổng giá 5,3 23,4 22,2 24,0 30,0
SV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
12
Đề án kinh tế chính trị
trị xuất khẩu (không kể dầu khí, %)
Tỷ trọng trong tổng lao động (%) 0,4 0,7 0,95 1,17 1,22
Đóng góp vào tổng thu ngân sách
nhà nước( Không kể dầu khí, %)
- 4,8 5,2 6,0 6,0
Nguồn: Dinh Van An, Vo Tri Thanh, Dang Thi Thu Hoai, 2003
SV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
13
Đề án kinh tế chính trị
Bảng 4: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển theo thành phần kinh tế, %
(Giá thực tế)
1996-2000 2001 2002 2003
Kinh tế Nhà nước 54,6 58,1 56,2 56,5
Kinh tế ngoài quốc doanh 23,8 23,5 25,3 26,7
Kinh tế có vốn ĐTNN 21,6 18,4 18,5 16,8
Tổng 100 100 100 100
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2003
Bảng 5 : Đóng góp cho tổng thu nhập ngân sách của các thành phần
kinh tế
2000 2001 2002 2003
Tổng thu ngân sách, tỉ đồng 90749 103888 105200 123700
Thu từ DNNN 19692 23149 24600 29335
Thu từ DN ĐTNN, không kể dầu thô 4735 5702 6400 8600
Thu từ công thương nghiệp dịch vụ

Hà Nội (31,2%), Bà Rịa-Vũng Tàu (17,8%), Đồng Nai (10,7%), thành phố Hồ
Chí Minh (10,2%), và Bình Dương (8,6%). Đây là lần đầu tiên, Hà Nội vươn lên
thứ nhất trong thu hút FDI.
Trong số 43 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam trong năm 2005,
châu Á chiếm 50,6% tổng vốn đăng ký, trong đó: Hàn Quốc đứng thứ 3, chiếm
13,8% tổng vốn đăng ký; Hồng Kụng đứng thứ 4 chiếm 9,6%; Nhật Bản đứng
thứ 5 chiếm 9,4%; Đài Loan đứng thứ 6 chiếm 8,6%. Các nước châu Âu chiếm
21,7% tổng vốn đăng ký, trong đó Luxembourg đứng thứ nhất chiếm 19,2% tổng
vốn đăng ký. Đầu tư từ Hoa Kỳ chỉ đứng thứ 8 chiếm 3,6% tổng vốn đăng ký. So
với năm 2004, Lucxembua đã vươn lên đứng đầu từ vị trí 24, còn Đài Loan đã
tụt xuống đứng thứ 6 từ vị trí số 1.
SV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
15
Đề án kinh tế chính trị
Xu hướng và định hướng phát triển
Theo phân tích trên, các thành phần kinh tế vẫn đang trên đà phát triển.
Tiềm năng của mỗi thành phần kinh tế cũng nh định hướng cải cách và chính
sách của Nhà nước sẽ có ảnh hưởng nhất định đến việc định vị các thành phần
kinh tế trong tương lai.
Trước hết, đối với kinh tế nhà nước, Nhà nước đã có những chủ trương cải
cách khu vực kinh tế nhà nước theo hướng nâng cao hiệu quả của khu vực này.
Chính phủ đã có chương trình cải cách hành chính đối với các cơ quan Chính
phủ và cải cách hệ thống ngân hàng. Nh vậy, tương lai của khu vực này sẽ phụ
thuộc vào sự thành công của các biện pháp cải cách đồng thời nó cũng sẽ quyết
định phần lớn tốc độ phát triển của nền kinh tế. Kịch bản sáng sủa nhất là Chính
phủ thành công trong việc tạo lập được một khu vực kinh tế nhà nước, đặc biệt là
doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo dựa vào thực lực của mình. Khi đó,
vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước gắn liền với tính hiệu quả của khu vực này
và của cả nền kinh tế. Để có được kịch bản này đòi hỏi nỗ lực và sự quyết tâm

hình tổ chức và quản lý HTX.
Khu vực kinh tế cá thể mặc dù hiện nay rất phổ biến trong nền kinh tế,
nhưng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhất là trên qui mô toàn cầu
thì khu vực này khó có thể cạnh tranh được với các công ty lớn và sẽ phải có
những bước phát triển mới. Về bản chất, đây là khu vực kinh tế sở hữu tư nhân
có qui mô nhỏ. Như vậy, trong tương lai, khi Việt Nam trở thành một nước công
nghiệp hiện đại cạnh tranh toàn cầu, một bộ phận của khu vực kinh tế cá thể đầy
tiềm năng này sẽ là nguồn lực dồi dào, mở rộng qui mô khu vực kinh tế tư bản tư
nhân. Nền kinh tế có môi trường kinh doanh lành mạnh là tạo điều kiện cho khu
vực kinh tế này phát triển chuyển đổi từ khu vực kinh tế cá thể tiểu chủ thành
kinh tế tư bản tư nhân.
Bản thân khu vực kinh tế tư bản tư nhân hiện cũng đang còn nhiều tiềm
năng và trên đà phát triển. Bằng chứng rõ nhất là chỉ trong gần 4 năm thực hiện
Luật Doanh nghiệp (2000-7/2003), số vốn tư bản tư nhân đã tăng lên 145.000 tỉ
đồng, cao hơn vốn đầu tư nước ngoài cùng kỳ và tăng gấp 4 lần số vốn đăng ký
của khu vực tư bản tư nhân giai đoạn 1991-1999 và tăng gần gấp đôi về số doanh
nghiệp đăng ký (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2003). Tiềm năng này còn lớn hơn khi
nhìn vào khu vực kinh tế cá thể khá đồ sộ mà rất có khả năng sẽ chuyển thành
kinh tế tư bản tư nhân nếu có môi trường kinh doanh thuận lợi. Tuy nhiên, sự
phát triển của kinh tế tư bản tư nhân hiện nay còn bị cản trở và hạn chế bởi
những nhận thức chưa rõ ràng về vai trò của kinh tế tư bản tư nhân nói riêng và
khu vực tư nhân nói chung trong phát triển kinh tế thị trường định hướng
XHCN. Những vấn đề lý luận chưa được sáng tỏ về kinh tế thị trường định
hướng XHCN dẫn đến tâm lý chưa yên tâm để tư bản tư nhân phát triển hết tiềm
năng.
Có nghiên cứu cho rằng, trong tương lai thành phần kinh tế TBNN sẽ phát
triển mạnh hơn do: (i) các thành phần kinh tế khác muốn liên doanh với kinh tế
nhà nước để tìm chỗ dựa cho phát triển để yên tâm phát triển lâu dài; (ii) Nhà
nước có thể định hướng phát triển khu vực tư nhân thông qua liên doanh và liên
kết với khu vực này (Nguyễn Thanh Tuyền, 2002, tr.264). Trường hợp này rất có

khu vực kinh tế tư nhân và tập thể có thể phát huy khả năng trong những khu vực
nông nghiệp nông thôn và những vùng miền núi khó khăn. Trong nền kinh tế hội
nhập toàn cầu, doanh nghiệp nhà nước, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài là những trụ cột giúp nền kinh tế cạnh tranh trên thị
trường thế giới và giúp nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Các
thành phần kinh tế khác vẫn tồn tại như một thực tế khách quan, xuất phát từ đặc
trưng của nền kinh tế Việt Nam cũng như văn hoá Việt nam, đáp ứng nhu cầu đa
dạng của xã hội, bổ sung và phối kết hợp với các trụ cột trên tạo thành một nền
kinh tế phát triển lành mạnh và đa dạng.
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là chủ trương đúng đắn
và phù hợp với qui luật và xu hướng phát triển hiện nay. Các thành phần kinh tế
đều có những vai trò nhất định với những ưu thế riêng, tạo dựng nên một nền
kinh tế có sức mạnh. Tuy nhiên, phân tích trên chỉ ra rõ ràng rằng để kinh tế Việt
Nam có thể phát triển cao và bền vững, việc xây dựng các chính sách không nên
phân chia theo các thành phần kinh tế. Hơn thế nữa, tới đây, chúng ta đang có
chủ trương xây dựng Luật Doanh nghiệp chung cho các loại hình doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế và Luật Đầu tư chung cho cả đầu tư trong nước và
đầu tư nước ngoài thì giới hạn về sở hữu sẽ không còn là cơ sở trong hoạch định
SV: Nguyễn Ngọc Anh
Líp: KTC - K9
18
Đề án kinh tế chính trị
chính sách kinh tế. Việc tạo lập một nền kinh tế mà mọi thành phần đều khẳng
định vai trò của chúng thông qua kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh với nhau
sẽ mang lại chất lượng tăng trưởng và hiệu quả cao hơn cho toàn bộ nền kinh
tế./.
Tài liệu tham khảo

1. Văn kiện Đại Hội Đảng IX
2. Kinh tế chính trị – nxb Giáo Dục 2005


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status