nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học ô nhiễm môi trường - Pdf 24


Nhóm thực hiện:
1. Nguyễn Thành Cương.
2. Nguyễn Thị Lưu.
3. Nguyễn Văn Thuần.

Sự suy giảm đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay
bao gồm nhiều nguyên nhân như sự phá vỡ và mất
nơi cư trú, sự xâm lấn của các sinh vật nhập nội, sự
khai thác quá mức các nguồn tài nguyên sống, sự ô
nhiễm môi trường, sự biến đổi khí hậu toàn cầu và
các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp.
Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng
một cách trực tiếp do việc phá hủy hay chia cắt,
nhưng các quần xã và các sinh vật sống trong
đó có thể bị ảnh hưởng sâu sắc do các hoạt động
khác của con người. Dạng nguy hiểm nhất của
phá hủy môi trường và suy giảm đa dạng sinh
học là sự ô nhiễm.


Sự tác động của ô nhiễm môi trường đến sự
suy thoái đa dạng sinh học là rất lớn. Ô nhiễm
môi trường kéo theo sự suy giảm, nghèo kiệt
đa dạng sinh học ở các hệ sinh thái bị ô nhiễm.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do
thuốc trừ sâu, hóa chất và các chất thải công
nghiệp, chất thải sinh hoạt của con người và
các ô nhiễm gây ra bởi các nhà máy, ô tô, cũng
như các trầm tích lắng đọng do sự xói mòn đất
từ các vùng cao, sườn núi.

động vật biển khác. Trên các khu vực canh tác
nông nghiệp, các loài côn trùng có ích hay các
loài có nguy cơ bị tuyệt chủng cũng đều bị tiêu
diệt cùng với các côn trùng gây hại.
2. Ô nhiễm nước:

Ô nhiễm nước gây hậu quả xấu cho loài người như
hủy hoại các nguồn thực phẩm thủy sản như cá, ốc,
hến và làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt. Tương tự
như vậy, ô nhiễm nước còn gây tác hại to lớn cho các
quần xã sống dưới nước. Sông, hồ và đại dương
thường xuyên được sử dụng như một bãi thải các chất
thải công nghiệp, chất thải dân dụng. Thuốc trừ sâu,
thuốc trừ cỏ dầu thải, dầu bị rò rỉ, kim loại nặng, các
chất tẩy rửa có thể làm tổn thương hay giết chết các
sinh vật thủy sinh sống trong môi trường nước.
Ô nhiễm nguồn nước.
Ô nhiễm nặng gây chết cá ở sông hồ.

Nếu như các chất thải được chôn lấp vào khu vực của
hệ sinh thái trên cạn chỉ gây tác động cục bộ tại một
địa điểm nhất định, thì các chất thải độc hại vào môi
trường nước lan toả đi xa theo dòng chảy và lan rộng
trên một diện tích lớn. Các hóa chất độc, dù chỉ với
một liều lượng rất thấp thì dư lượng của chúng vẫn có
thể tồn đọng, tích luỹ dần vào trong cơ thể sinh vật
thủy sinh đến nồng độ gây chết do chúng phải lọc một
lượng lớn nước khi ăn. Các loài chim và thú ăn thịt
các sinh vật này sẽ là đối tượng tích luỹ các hóa chất
độc vào cơ thể của chúng.

than hay dầu đa thải ra một lượng lớn các khí
NOx, SOx vào không khí, các khí này khi gặp
hơi nước trong không khí sẽ tạo ra axit nitric
và axit sulfuric. Các axit này liên kết với
những đám mây và khi tạo thành mưa làm
giảm độ pH của nước mưa xuống rất thấp.
Mưa axit sẽ làm giảm độ pH của đất và của
nước trong các hồ, ao, sông suối trên lục địa.
Rừng cây bị tàn phá bởi mưa axit
cá chết do độ axit trong hồ tăng
Mưa axit đã tiêu diệt nhiều loài động và thực
vật. Do độ axit của các hồ ao tăng lên, nhiều
cá con của nhiều loài cá và cả những con cá
trưởng thành cũng bị chết.
Độ axit tăng và nước bị ô nhiễm là nguyên
nhân chính làm suy giảm đáng kể các quần thể
động vật lưỡng cư trên thế giới. Đối với phần
lớn các loài động vật lưỡng cư, ít nhất một
phần trong chu kỳ sống của chúng phụ thuộc
vào môi trường nước, độ pH của nước giảm
làm cho tỷ lệ trứng và ấu trùng bị chết tăng
cao.

Sương mù quang hoá: Xe ô tô, các nhà máy
điện và các hoạt động công nghiệp thải ra các
khí hydrocacbon, khí NO. Dưới ánh sáng mặt
trời, các chất này tác dụng với khí quyển và
tạo ra khí ozon và các chất phụ phẩm khác, tất
cả khí này được gọi chung là sương mù quang
hóa (photo-chemical smog).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status