MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I) TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) 3
1. Khái niệm 3
2. Đặc điểm và phân loại FDI 3
3. Vai trò của FDI 4
II) THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG NGÀNH SẢN
XUẤT Ô TÔ Ở VIỆT NAM 5
1. Tình hình chung: 5
2. Tình hình thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào ngành công nghiệp sản xuất ô tô ở Việt
Nam: 10
III) CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NGUỒN VỐN FDI TRONG CÔNG
NGHIỆP ÔTÔ VIỆT NAM 15
1) Giải pháp về luật pháp, chính sách 15
2) Giải pháp về quy hoạch 16
3) Giải pháp về cải thiện hạ tầng giao thông 17
4) Giải pháp về nguồn nhân lực 18
5) Giải pháp về xúc tiến đầu tư 18
6) Các giải pháp khác 19
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
1
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang ngày càng khẳng định tiếng nói của mình trên thị trường
thương mại quốc tế đặc biệt kể từ khi gia nhập Tổ chức thương mại mậu dịch
quốc tế WTO. Việc mở cửa-hội nhập đã tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội mới
phát triển nhiều lĩnh vực: kinh tế, giáo dục, giao lưu văn hóa và được các nhà
đầu tư nước ngoài quan tâm hơn. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng phải đương
đầu với không ít thách thức. Là một nước đang phát triển, nguồn lực vốn còn
hạn chế, trình độ kĩ thuật tiên tiến còn chưa đồng đều, Chính phủ và các doanh
nghiệp Việt Nam đã rất khó khăn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới
nước ngoài”. Có thể hiều FDI là hình thức đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lí
hoạt động đầu tư ở một chủ thể bên ngoài lãnh thổ quốc gia.
2. Đặc điểm và phân loại FDI
Đặc điểm
Tìm kiếm lợi nhuận: FDI là đầu tư tư nhân. Do chủ thể là tư nhân nên FDI
có mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Các chủ đầu tư nước ngoài phải
đóng góp một tỉ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo
qui định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm
soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ
hoặc vốn pháp định sẽ qui định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi
nhuận và rủi ro cũng được phân chia dựa vào tỉ lệ này.
Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ
không phải là lợi tức.
Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự
chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Điều này làm cho các nhà đầu tư chủ động hơn trong
3
việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư để có lợi nhất. Hơn nữa, hình
thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, tránh được những ràng buộc
chính trị và không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế các nước nhận đầu
tư. FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư.
Phân loại:
Theo qui định của pháp luật Việt Nam: Các hình thức FDI ở Việt Nam
1) Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn nhà đầu tư nước ngoài.
2) Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong
nước và nhà đầu tư nước ngoài,
3) Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, BOT, BTO BT
4) Đầu tư phát triển kinh doanh.
5) Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lí hoạt động đầu
tư.
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và an ninh quốc phòng.
Theo các chuyên gia công nghiệp ôtô vốn được coi là xương sống của
ngành công nghiệp. Bởi công nghiệp ôtô hàm chứa rất nhiều những công nghệ
cơ bản như chế tạo máy, luyện kim, đúc, khuôn mẫu, vật liệu và điện tử
Những công nghệ này hoàn toàn có thể áp dụng sang các lĩnh vực sản xuất khác
và công nghiệp ôtô phát triển sẽ thúc đẩy những ngành công nghiệp như điện tử,
luyện kim, hoá chất, nhựa cùng phát triển theo.
Bên cạnh đó, ngành công nghiệp ôtô phát triển sẽ tạo ra hàng triệu việc làm
với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp. Theo tính toán với quy mô thị trường
khoảng 500.000 xe/năm thì công nghiệp ôtô sẽ tạo ra khoảng hơn 1 triệu việc
làm với sự tham gia của hàng nghìn doanh nghiệp.
Điều quan trọng nữa khi sản xuất đáp ứng được nhu cầu trong nước, thậm
chí là xuất khẩu sẽ làm thay đổi cán cân thương mại. Theo tính toán của các
chuyên gia Nhật Bản thuộc Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản, với
nhu cầu về ôtô tăng mạnh, nếu Việt Nam không có một ngành công nghiệp ôtô
5
thì vào năm 2020 mỗi năm sẽ phải chi khoảng 3 tỷ USD để nhập xe. Như vậy
có thể nói không riêng gì chúng ta mà nhiều quốc gia trên thế giới mong muốn
có một ngành công nghiệp ôtô mạnh.
a, Thuận lợi
Môi trường sản xuất ở Việt Nam chúng ta có những thuận lợi nổi bật để phát
triển ngành công nghiệp ô tô trong nước:
- Thị trường ôtô Việt Nam là một thị trường giàu tiềm năng. Việt Nam,
đất nước của hơn 83 triệu dân với mức tăng trưởng cao về kinh tế thì một viễn
cảnh tươi sáng của ngành công nghiệp ôtô là có thể. Phát triển ngành công
nghiệp này sẽ cho phép đất nước tiết kiệm được những khoản ngoại tệ đáng kể
dành cho nhập khẩu, cũng như phát huy được một số thế mạnh nổi trội hiện nay,
như chi phí cạnh tranh của nguồn nhân lực. Đặc biệt, sẽ có những tác động trực
tiếp mang tính tích cực lên một số ngành công nghiệp và dịch vụ mà Việt Nam
đang rất cần như hóa dầu, thép, phân phối… Là một nước công nghiệp đang
• Đầu tiên, đó là một thị trường nội địa quá nhỏ, mức sống thấp, sức mua
hạn hẹp: theo số liệu của Diễn đàn Kinh tế thế giới, thu nhập của người
Việt Nam chỉ đạt 1.050 USD trong năm 2009 vì vậy một chiếc xe ô tô
hạng trung bình giá đến vài nghìn USD vẫn là một món hàng xa xỉ đối
với phần lớn người dân Việt Nam…
• Mặc dù thị trường nhỏ nhưng trong nước ta lại có quá nhiều nhà lắp ráp:
bao gồm 11 liên doanh và hơn 160 doanh nghiệp trong nước.Thị phần của
các liên doanh chiếm đa số, chủ yếu là dòng xe cao cấp, còn doanh nghiệp
Việt Nam bước đầu chỉ hướng vào dòng xe chuyên dụng, xe phổ thông.
Về mặt lý thuyết, khi có nhiều nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ cùng tham
gia vào thị trường, tất yếu sẽ tạo ra sức cạnh tranh, nhưng với ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam thì ngược lại: nếu nhà sản xuất không thể tăng sản
lượng bán hàng thì tìm mọi cách tăng giá sản phẩm để vẫn đạt tổng mức
8
lợi nhuận cao nhất hoặc tìm cách làm cho khan hiếm hàng để thu hút
khách (Điều tra cho thấy các nhà máy phần lớn chưa khai thác hết công
suất của mình. Thực tế hiện nay, 11 liên doanh chỉ khai thác được 30%
công suất (tổng công suất đăng ký là 146.000 xe/năm).
• Công nghiệp phụ trợ chưa phát triển mạnh cũng là một nỗi lo đối với các
nhà sản xuất ôtô tại Việt Nam. Cam kết nội địa hóa 30-40% sau 10 năm
hoạt động của các liên doanh ôtô Việt Nam đến nay vẫn chưa đạt được,
trong khi giá sản phẩm lại quá cao. Không ít chuyên gia đã cho rằng, khả
năng làm tốt nhất của Việt Nam chính là công nghiệp phụ trợ, song đây
cũng là điểm yếu nhất hiện nay. Chính sự yếu kém của công nghiệp phụ
trợ cũng đã gây khó rất nhiều cho các doanh nghiệp lắp ráp. Mỗi chiếc xe
bất kỳ đều cần khoảng 20.000-30.000 chi tiết với hàng nghìn linh kiện
trong khi đó số doanh nghiệp sản xuất linh kiện hiện còn quá ít với
khoảng 60 doanh nghiệp, chưa kể là các doanh nghiệp đó chỉ làm được
một số loại sản phẩm như săm, lốp, dây điện…Ai cũng biết Thái Lan và
Indonesia là những đại bản doanh của Toyota tại khu vực Đông Nam Á.
đang có chiến lược sản xuất ra các dòng xe mini chạy hoàn toàn bằng
điện. Toàn bộ hệ thống taxi Bangkok, Thái Lan sử dụng nhiên liệu khí
hoá lỏng. Malaysia dùng dầu cọ làm nhiên liệu cho xe hơi. Tại Mỹ và các
nước châu Âu việc dùng xe công nghệ hybrid và xe “sạch” ngày càng
nhiều và phổ biến… Điều này đã ngày càng làm gia tăng khoảng cách của
công nghiệp ô tô của Việt Nam và thế giới.
2. Tình hình thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào ngành
công nghiệp sản xuất ô tô ở Việt Nam:
Để thúc đẩy quá trình phát triển nền công nghiệp sản xuất- lắp ráp ô tô
trong nước, chúng ta không thể chỉ dựa vào những nguồn lực trong nước mà yếu
tố đầu tư của nước ngoài cũng là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định
đến sự thành công của quá trình chiến lược này. Trên thực tế, trong vòng 20 năm
trở lại đây, trên bước đường mở cửa hội nhập, nhờ tận dụng ưu thế sẵn có trong
10
nước đó là nguồn nhân công rẻ, đồng thời, Việt Nam cũng được đánh giá là một
thị trường giàu tiềm năng do có chỉ số tăng trưởng cao và dân số đông, kết hợp
với những chính sách bảo hộ của Đảng và Nhà nước dành cho nền công nghiệp
non trẻ này, chúng ta đã nhận được nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
đáng kể vào khu vực sản xuất ô tô:
Theo số liệu từ Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương), ngành công
nghiệp ôtô Việt Nam được bắt đầu vào năm 1991 với sự xuất hiện của 2 công ty
ôtô có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là Mekong và VMC, cho đến năm 2007
đã có 17 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép đầu tư,
trong đó có 12 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đầu tư đăng ký
khoảng 1 tỷ USD, tổng năng lực sản xuất đạt khoảng 150.000 xe/năm. Tính đến
hết năm 2006, các doanh nghiệp này đã bán được tổng cộng khoảng 270.000
chiếc ô tô, đóng góp cho ngân sách nhà nước gần 1,5 tỷ USD (theo ông Đỗ Hữu
Hào, Thứ trưởng Bộ Công Thương).
Nhìn chung bước đầu Việt Nam đã có được một ngành công nghiệp sản
xuất, lắp ráp các loại xe ôtô cao cấp thông qua hoạt động của các DN này mà từ
ráp ôtô.Tất cả phụ tùng ôtô đều nhập khẩu từ công ty mẹ hoặc bạn hàng của
công ty mẹ. Các nguyên vật liệu dùng để chế tạo phụ tùng NĐH như thép tấm,
thép lá đều phải nhập khẩu do trong nước chưa sản xuất được.
Mặt khác, nếu nhìn vào quy mô đầu tư của các tập đoàn, các hãng ôtô đầu
tư vào các nước xung quanh thì chúng ta lại càng hụt hẫng hơn và từ đó mới biết
rằng việc họ đổ vốn đầu tư vào VN cao hay thấp. Điều này có thể phân biệt
được - nói như một chuyên gia là cao với chúng ta nhưng rất thấp so với khu
vực. Ví dụ như vào năm 2004, tập đoàn Ford đã tìm địa điểm để đầu tư 1 nhà
máy sản xuất động cơ ôtô tại khu vực Đông Nam Á với số vốn là 400 triệu USD
họ đã khảo sát tại nhiều nước trong đó có Việt Nam nhưng sau đó lại quyết định
đầu tư tại Philipines. Mới đây cũng tập đoàn này đã đầu tư 500 triệu USD để sản
xuất xe cỡ nhỏ tại Thái Lan chứ không phải là Việt Nam. Tại Việt Nam họ chỉ
có 1 dây chuyền lắp ráp công suất khoảng 10.000 xe/năm, đến nay có lẽ đã khấu
hao hết. Họ không chọn Việt Nam là vì không hội đủ những điều kiện cần
thiết.Hơn nữa, nếu so sánh giữa việc đầu tư của các hãng vào Thái Lan, Trung
12
Quốc, Ấn Độ có thể thấy luồng vốn đầu tư của lĩnh vực ôtô vào thị trường Việt
Nam (Dù các hãng, các tập đoàn ôtô thế giới luôn khẳng định tiềm năng, lợi thế
của Việt Nam là rất lớn.) quá nhỏ nhoi và đứt đoạn, không đúng với tiến trình,
cam kết.
-Không có chuyển giao công nghệ: Nhìn lại quá trình đầu tư của hầu hết
các tập đoàn, các hãng ôtô trên thế giới trong khoảng 15 năm qua tại thị trường
Việt Nam, chúng ta có thể thấy gần như họ không đầu tư thêm tiền, thêm công
nghệ mà vẫn chủ yếu dựa vào việc đầu tư ban đầu và chỉ đến thế mà thôi. Trong
khi công nghệ lắp ráp, công nghệ sản xuất ôtô trên thế giới liên tục thay đổi,
liên tục tiến triển từng ngày. Vậy thì có thể nói là những công nghệ mới chưa
tồn tại ở Việt Nam chứ chưa nói đến việc chuyển giao công nghệ.
Thực tế thì cũng có một vài tập đoàn, doanh nghiệp vẫn tiếp tục đầu tư
vào Việt Nam, nhưng chỉ mới ở dạng hình thức nâng cao và mở rộng dây
chuyền sản xuất, lắp ráp theo dạng “nhỏ giọt” chứ hầu như không có gì mới,
xe nguyên chiếc như vừa qua, tới đây hãng này sẽ tính toán việc có nên tiếp tục
sản xuất xe tại Việt Nam, hay sẽ chuyển sang nhập khẩu xe nguyên chiếc để cân
đối lợi ích cho người tiêu dùng. Hơn nữa, các chính sách thuế lại luôn thay đổi
(riêng vào năm 2007 chính phủ đã cho thay đổi thuế suất đối với ô tô đến 3 lần)
khiến cho các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn: Đại diện Công ty GM
Daewoo cho hay: chỉ trong một năm mà thuế suất đối với ô tô tại Việt Nam
được thay đổi tới ba lần là quá nhanh. Cũng đại diện này cho biết việc giảm thuế
nhập khẩu thêm 10% đối với xe nguyên chiếc sẽ tác động rất lớn đến các doanh
nghiệp sản xuất ô tô trong nước… Còn theo ông Bùi Ngọc Huyên, Giám đốc
Công ty ô tô Xuân Kiên thì chính sách thuế là vấn đề cực kỳ quan trọng nằm
trong tổng thể của ngành ô tô Việt Nam. Bộ Tài chính phải cho người xuống tận
doanh nghiệp để biết mức thuế như vậy đã hợp lý chưa để điều chỉnh cho đúng
Vì vậy, để có thể sử dụng một cách hợp lý và thu hút được nguồn vốn FDI
vào ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam, chúng ta cần phải xem xét và sửa đổi
những khiếm khuyết này, làm cho ngành công nghiệp ô tô của Việt Nam phải có
được những bước tiến rõ rệt, tương xứng với những quan tâm và kì vọng mà
chúng ta vẫn dành cho ngành công nghiệp chiến lược này.
14
III) CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ NGUỒN
VỐN FDI TRONG CÔNG NGHIỆP ÔTÔ VIỆT NAM
Việc thu hút nguồn vốn FDI đối với các nước đang phát triển, bao gồm cả
Việt Nam là một điều không cần bàn cãi về tính đúng đắn bởi lẽ những gì mà
các nước này đang rất cần hầu như đều có thể tìm thấy trong dòng chảy này. Đặc
biệt, với ngành công nghiệp ô tô, một ngành mà việc sản xuất đòi hỏi không chỉ
là vốn đầu tư mà còn là những công nghệ rất hiện đại, thì vấn đề thu hút FDI lại
càng trở nên quan trọng. Vì vậy, để tiếp tục thu hút, thúc đẩy giải ngân và nâng
cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI vào ngành công nghiệp sản xuất ô tô ở
Việt Nam, chúng ta nên chú trọng triển khai các nhóm giải pháp như sau:
1) Giải pháp về luật pháp, chính sách.
Tiếp tục rà soát lại luật pháp và các chính sách về đầu tư, kinh doanh để
ro”. Và trên thực tế có một điều chắc chắn là không một doanh nghiệp nước
ngoài nào muốn đầu tư vào một quốc gia có hệ thống pháp lí bất ổn định. Vì
vậy, giải pháp về luật pháp, chính sách là vấn đề tiên quyết trong việc thu hút
FDI vào Việt Nam nói chung và công nghiệp ô tô ở Việt Nam nói riêng. Do đó
Nhà nước ta cần đưa ra một khung pháp lý rõ ràng, minh bạch để tạo sự yên tâm
cho các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực ô tô tại Việt Nam,
đồng thời với những chính sách ưu tiên đó là những quy định cụ thể về nghĩa vụ,
trách nhiệm của các doanh nghiệp có vốn FDI về thuế, môi trường, chính sách
lương, bảo hiểm v.v Ngoài ra Việt Nam cũng cần phải không ngừng tiến hành
cải cách thủ tục hành chính theo hướng nhanh chóng và minh bạch và an toàn.
Đây là điều rất cần thiết cho việc thu hút FDI nói chung vào Việt Nam chứ
không chỉ cho ngành công nghiệp ôtô.
2) Giải pháp về quy hoạch.
Theo các chuyên gia công nghiệp, Sản xuất ôtô vốn được coi là một trong
những mũi nhọn của ngành công nghiệp. Bởi công nghiệp ôtô hàm chứa rất
nhiều những công nghệ cơ bản như chế tạo máy, luyện kim, đúc, khuôn mẫu, vật
16
liệu và điện tử Những công nghệ này hoàn toàn có thể áp dụng sang các lĩnh
vực sản xuất khác và công nghiệp ôtô phát triển sẽ thúc đẩy những ngành công
nghiệp như điện tử, luyện kim, hoá chất, cùng phát triển theo. Vì vậy, cần đẩy
nhanh tiến độ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch còn thiếu; thường xuyên rà
soát kiểm tra các quy hoạch dự án, nghiêm khắc đình chỉ, xử phạt các dự án
chậm tiến độ hay không không có khả năng hoàn thành để chuyển giao cho các
cá nhân tổ chức đủ năng lực. Thêm vào đó cần hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng
đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều kiện để đẩy nhanh tiến độ giải phóng
mặt bằng cho các dự án đầu tư vào công nghiệp ô tô cùng với các ngành công
nghiệp phụ trợ. Một vấn đề cực kỳ cần được quan tâm đó là phải làm sao để
chuyển giao vốn phải đi cùng chuyển giao công nghệ. Nói thế này không có
nghĩa là chúng ta chỉ việc đặt ra kế hoạch này kế hoạch nọ mà điều tất yếu là
phải có những dự án cụ thể hỗ trợ và các văn bản hướng dẫn kèm theo.
được từ những chi tiết rất nhỏ mang tính chính xác cao đến các chi tiết lớn có
tính chịu lực và các khâu xử lí vật liệu. Vì vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra là để phát
triển, thu hút nguồn vốn FDI vào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chúng ta
phải đào tạo được đội ngũ nhân lực có trình độ, tay nghề cao. Để làm được điều
đó, ngoài việc đầu tư nâng cấp hệ thống các trường đào tạo lên ngang tầm khu
vực và thế giới, Nhà nước cần phát triển thêm các trường đào tạo nghề, có
những chính sách ưu đãi, khuyến khích học viên : trao học bổng, cử đi học ở
nước ngoài… để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
5) Giải pháp về xúc tiến đầu tư.
Để làm tốt nhiệm vụ này, Cục xúc tiến đầu tư cùng với Hiệp hội các nhà
sản xuất ôtô Việt Nam cần tăng cường các cuộc tiếp xúc song, đa phương với
các đối tác nước ngoài để quảng bá rộng rãi tiềm năng phát triển của ngành công
nghiệp ôtô Viêt Nam hay cụ thể hơn là tìm kiếm cơ hội hợp tác (liên doanh) và
thu hút vốn. Hiện nay, với việc tham gia vào nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế như
WTO, ASEAN, APEC, AFTA… các doanh nghiệp VN sẽ có nhiều cơ hội để
18
đối thoại hợp tác, chuyển giao vốn cũng như công nghệ từ các nước tiên tiến
trên thế giới. Đó là những lợi thế mà các doanh nghiệp SX ôtô Việt Nam nên tận
dụng để đưa nền công nghiệp ôtô Việt Nam phát triển.
6) Các giải pháp khác.
Thực hiện chống tham nhũng, tiêu cực, tham ô lãng phí, sử dụng vốn FDI
vào các dự án ngoài phạm vi cấp phép. Ngăn chặn và xử phạt nghiêm khắc các
doanh nghiệp làm ảnh hưởng xấu đến môi trường. Duy trì các cuộc tiếp xúc, đối
thoại giữa Cơ quan chức năng và các doanh nghiệp ôtô có vốn FDI để có thể có
những điều chỉnh kịp thời và hiệu quả có lợi cho các bên…
Toàn bộ trên là những giải pháp mà chúng tôi đề xuất hy vọng sẽ góp
phần tạo nên những bước tiến đáng kể cho nền công nghiệp ôtô Việt Nam trong
tương lai gần.
KẾT LUẬN
Từ việc nghiên cứu thực trạng sản xuất ôtô và việc thu hút FDI cho ngành