nghiên cứu thực trạng sản xuất và cung ứng rau an toàn trên địa bàn thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
MỞ ĐẦU, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của
con người trên khắp hành tinh. Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn nhiều
đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về chất lượng, số lượng rau lại càng
gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và tăng
sức đề kháng cho cơ thể và kéo dài tuổi thọ. Chính vì thế, rau xanh trở
thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao và có thị trường tiêu
thụ rộng lớn không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài [1].
Để đáp ứng nhu cầu khách hàng, nhiều nông dân và HTX đã tổ chức
sản xuất rau an toàn cunh ứng cho thị trường. Có không ít dự án chuyển
giao khoa học kỹ thuật đã hỗ trợ nông dân phát triển rau an toàn cấp
vùng, cấp quốc gia được thực hiện. Nhưng hầu hết người trồng rau an
toàn không tiêu thụ hết sản phẩm [2]. Tuy nhiên theo một số đánh giá
một số chuyên gia, lượng rau an toàn hiện nay chỉ cung cấp khoảng
10% nhu cầu trên thị trường. Mặc khác trên thị trường hiện nay có
nhiều siêu thị, cửa hàng bán rau an toàn lại bán rau “bẩn”, và nhiều
vùng sản xuất rau an toàn bị phát hiện rau không đảm bảo tiêu chuẩn an
toàn [3].
Thừa Thiên Huế rất thuận lợi về giao thông, buôn bán hàng hóa, đặc
biệt là rau sạch phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày của người dân
trên địa bàn, chủ yếu là cung cấp cho thành phố. Thành phố Huế là một
trong những trung tâm văn hóa, du lịch, giáo dục lớn của cả nước và là
thành phố Festival của Việt Nam, có nhiều nhà hàng, khách sạn và
trung tâm du lịch, năm 2007 có 1.3 triệu khách du lịch đến Huế, trong
đó khoảng 667,000 khách trong nước và khoảng 636,000 khách quốc tế.
Do đó, việc phát triển rau an toàn đang là một yêu cầu cấp bách của xã
hội vì sự an toàn cho sức khỏe và môi trường [4].
Tuy nhiên, phần lớn lượng rau an toàn (RAT) sản xuất ra vẫn phải tiêu
thụ với giá ngang hoặc thấp hơn giá rau thường, điều này đã gây ảnh hưởng

2.1.1. Khái niệm nông nghiệp sạch
Nông nghiệp sạch (hay còn gọi là nông nghiệp hữu cơ) là một hệ
thống quản lý sản xuất nông nghiệp tránh sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu
tổng hợp, giảm tối đa ô nhiễm không khí, đất và nước, tối ưu về sức khỏe và
hiệu quả của các cộng đồng sống phụ thuộc lẫn nhau giữa cây trồng, vật
nuôi và con người (định nghĩa của Codex Alimentarius, cơ quan Liên hợp
quốc giám sát các tiêu chuẩn về lương thực trên toàn thế giới) [5].
2.1.2 Khái niệm về rau an toàn và những quy định về sản xuất rau an
toàn
a. Khái niệm RAT:
Rau an toàn là rau được sản xuất theo một quy trình nghiêm ngặt,
nhằm sản xuất rau ở mức an toàn cho phép (ít độc khi sử dụng), không gây
hại cho cơ thể.
Được phép bón phân hóa học, dùng thuôc BVTV nhưng phải sử dụng
đúng quy trình. Đảm bảo tiêu chuẩn RAT áp dụng theo quy định [6].
b. Những quy định về sản xuất rau an toàn
Bộ NN&PTNT chính thức công bố các quy định (QĐ số 04/2007/QĐ-
BNN) về quản lý sản xuất và chứng nhận rau an toàn (RAT).
RAT là những sản phẩm rau tươi được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao
gói, bảo quản theo quy trình kỹ thuật, đảm bảo tồn dư về vi sinh vật, hóa
chất độc hại dưới mức giới hạn tối đa cho phép.
Đặc biệt, trong quá trình sản xuất RAT không được phép sử dụng các
loại phân có nguy cơ ô nhiễm cao như phân chuồng tươi, nước giải, phân
chế biến từ rác thải; không sử dụng nước thải công nghiệp chưa qua xử lý,
nước thải từ các bệnh viện, các lò giết mổ, nước phân tươi, nước ao tù đọng
để tưới trực tiếp cho rau [7].
2.1.3. Vai trò và đặc điểm sản xuất của rau an toàn
a. Vai trò của sản xuất rau an toàn
- Bảo vệ sức khỏe con người, cộng đồng.
- Giảm bớt chi phí không đáng có cho xã hội.

Nitrat (NO
3
-
) vào cơ thể ở mức độ bình thường thì không gây độc, chỉ khi
hàm lượng vượt chỉ tiêu cho phép mới nguy hiểm. Trong hệ thống tiêu hóa
(NO
3
-
) bị khử thành (NO
2
) hoặc Nitrodamin. Nitrit là một chất chuyển biến
Oxyhemoglobin thành chất không hoạt động là Mêthmoglobin. Ở mức độ
cao sẽ làm giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng đến sự hoạt động của tuyến
giáp, gây đột biến và phát triển khối u. Trong cơ thể người, lượng Nitrit ở
mức độ cao có thể gây phản ứng với amin thành chất gây ung thư gọi là
Nitrosamin.
- Tồn dư thuốc hoá học trong sản phẩm
Sự lạm dụng hóa chất BVTV cùng với phân bón hóa học các loại đã làm
cho một lượng lớn N, P, K và hóa chất BVTV trên bề mặt rau và đất trồng.
Cùng với các chất dinh dưỡng các chất kim loại nặng như: Fe, Cu, Zn, As,
Hg, Mn,…được cây hấp thụ. Kết quả là tồn dư kim loại nặng trong sản phẩm
rau tươi tăng lên.
- Sử dụng nước tưới không sạch
4
Những vi sinh vật gây hại trên rau đó là: E.coli, Salmonella, trứng giun,

Việc sử dụng nước phân tưới cho rau đã trở thành một tập quán canh tác
của người nông dân. Đặc biệt là thói quen sử dụng phân tươi, phân bắc, phân
chưa qua xử lí,…đã làm cho số lượng vi sinh vật gây hại tăng lên, ảnh
hưởng đến chất lượng của rau [9].

vị giữa các chủ thể kinh tế [10].
2.2.2. Vai trò tiêu thụ RAT: Sản phảm được chuyển từ hình thái vật
chất sang hình thái tiền tệ, vòng quay chu chuyển vốn của đơn vị sản
xuất, kinh doanh được hoàn thành. Cung ứng sản phẩm, dịch vụ, hàng
5
hóa tạo điều kiện thu hồi chi phí sản xuất, kinh doanh và tích lũy để thực
hiện tái sản xuất, kinh doanh mở rộng [10].
2.2.3. Kênh cung ứng: Là luồng các sản phẩm, hàng hóa đi từ sản xuất
đến người sử dụng cuối cùng, qua mỗi tác nhân giá trị của nó lại tăng lên.
Các thành viên tham gia kênh cung ứng: Người sản xuất, người thu gom,
người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dùng [10].
2.2.4. Nhân tố ảnh hưởng tới tiêu thụ rau an toàn
a. Nhóm nhân tố thị trường: Có ảnh hưởng rất lớn, chi phối quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có thể xem xét 3 yếu tố sau:
- Nhu cầu thị trường: Chính là sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng.
Nhu cầu này của người tiêu dùng có liên quan đến thu nhập, quá trình đô thị
hoá, thông tin và giáo dục. Những thông tin và giáo dục về vấn đề sức khoẻ
đã ảnh hưởng tới ưu tiên trong tiêu dùng đối với rau an toàn của người dân.
Rất nhiều chiến dịch khác nhau đã cung cấp cho người tiêu dùng những
thông tin về lợi ích đối với sức khoẻ từ việc ăn rau an toàn. Các nghiên cứu
khoa học, các chiến dịch thông tin cộng đồng đều khẳng định vai trò của rau,
khuyến khích tiêu thụ các sản phẩm rau an toàn.
- Cung sản phẩm rau an toàn: có tính đa dạng cả về chủng loại, số lượng,
chất lượng, vệ sinh an toàn và về đối tượng tiêu dùng. Vì vậy tính không
hoàn hảo của thị trường rau thể hiện đặc trưng của sản phẩm nông nghiệp.
Khi số lượng cung của một sản phẩm tăng lên sẽ làm cho cầu sản phẩm đó
giảm xuống và ngược lại. Để tổ chức tốt tiêu thụ sản phẩm rau an toàn, các
nhà sản xuất kinh doanh phải hiểu rõ được các đối thủ cạnh tranh của mình
về số lượng, chất lượng và về đối tượng khách hàng.
- Giá cả là yếu tố quan trọng, là thước đo sự điều hoà cung cầu trong nền

nhật, họ có cơ sở chủ động sản xuất cho từng loại rau vào các thời điểm
thích hợp cung cấp cho thị trường. Chất lượng sản phẩm được đặt lên hàng
đầu cùng với các dịch vụ phục vụ người tiêu dùng [10].
2.3.2. Đối với Việt Nam
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, diện tích trồng rau cả nước đến năm
2005 là 644 nghìn ha, năng suất đạt 150 tạ/ha và sản lượng trên 9,5 triệu tấn.
Đã hình thành nên các vùng chuyên canh rau lớn ở Đồng bằng sông Hồng,
Đồng bằng Sông cửu Long và Đông Nam Bộ.
Nhu cầu đối với rau an toàn và khả năng sản xuất rau an toàn là rất lớn.
Nói đúng hơn, về lâu dài, trên thị trường chỉ được phép cung ứng và tiêu thụ
rau an toàn, tất cả diện tích trồng rau cần phải chuyển sang sản xuất rau an
toàn.
Các biện pháp dù đơn lẻ hay đồng bộ cũng đều nằm trong khuyến cáo
của quy trình sản xuất rau an toàn trong nhà lưới với 2 dạng:
- Sản xuất rau trong nhà lưới không sử dụng các hoá chất, chỉ sử dụng
nông dược hữu cơ.
- Sản xuất trong nhà lưới có sử dụng hạn chế các hoá chất bảo vệ thực vật
và phân khoáng [12].
7
PHẦN 3
NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung
- Điều tra tình hình sản xuất rau của các vùng quy hoạch sản xuất RAT
của tỉnh Thừa Thiên Huế
+ Tình hình sản xuất rau của tỉnh Thừa Thiên Huế
+ Các vùng sản xuất rau
+ Các loại rau sản xuất
+ Tình hình sản xuất RAT
- Điều tra đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
+ Điều kiện tự nhiên

có dự tham gia, các công cụ được sử dụng:
* Thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập tài liệu thông qua các tài liệu đã
công bố như niên giám thống kê 2009, các báo cáo của cơ quan các cấp,
UBND xã Quảng Thành, Quảng Thọ, HTX Kim Thành, HTX Quảng Thọ
2
* Thu thập số liệu sơ cấp: Đối tượng nghiên cứu đề tài là hộ sản xuất
RAT, nên đề tài đã tiến hành thảo luận 4 nhóm của 2 xã. Trong đó 2 nhóm
trồng RAT và 2 nhóm trồng rau thường. Các hộ được chọn theo phương
pháp ngẫu nhiên. Nội dung câu hỏi tập trung vào tình hình sản xuất, chủng
loại, sản lượng, năng suất, khó khăn, định hướng.
- Phỏng vấn sâu: + Mỗi xã phỏng vấn chủ nhiệm HTX, cán bộ phụ trách
kỹ thuật, đội trưởng đội sản xuất RAT.
+ Phỏng vấn trạm khuyến nông, sở khuyến nông tỉnh. Nội dung câu hỏi
tập trung vào nhu cầu RAT, khó khăn trong tiêu thụ và sản xuất, định hướng
cho phát triển RAT.
* Quan sát địa điểm: Tiến hành quan sát một cách tổng thể các điệu kiện
cơ bản của HTX Kim Thành và HTX Quảng Tho 2: điều kiện, các yếu tố
phục vụ sản xuất nông nghiệp RAT của HTX và quan sát thực trạng sản xuất
và cung ứng RAT.
3.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý trên máy tính, theo lập trình Excel.
9
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tình hình sản xuất rau của các vùng quy hoạch sản xuất RAT
của tỉnh Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là tỉnh ven biển nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam có
tọa độ ở 16-16.8 độ vĩ Bắc và 107.8-108.2 độ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh
Quảng Trị, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng,
tỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp dãy Trường Sơn và Cộng hòa Dân chủ Nhân
dân Lào. Thừa Thiên Huế cách Hà Nội 654 km, Nha Trang 627 km và

63.9% tổng dân số; lao động trong nông thôn chiếm trên 65% trong tổng lao
động toàn xã hội, đây là nguồn lực quan trọng trong phát triển sản xuất nông
nghiệp.
Tỉnh Thừa Thiên - Huế có 505,399 ha đất tự nhiên. Trong đó, diện tích
đất nông nghiệp là 58.996 ha, chiếm 11.67%. Trong đất nông nghiệp, diện
tích đất trồng cây hàng năm là 44,879 ha, chiếm 76.67%; diện tích đất trồng
cây lâu năm là 3,996, chiếm 6.77%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng
thuỷ sản là 1,937 ha, chiếm 3.28%. Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phủ
xanh là 139,953 ha, diện tích đất có mặt nước chưa sử dụng là 26,183 ha.
Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng dần. Năm 2006 tổng giá trị sản xuất thu
được từ nông nghiệp đạt 1,617,371đ, trong đó trồng trọt đạt 1,053,275đ
chiếm 65.12%. Đến năm 2009 tổng giá trị thu nhập từ nông nghiệp đạt
3,007,075đ, và trong đó trồng trọt đạt 2,069,162đ chiếm 68.81%.
10
Rau xanh, nhu cầu tiêu thụ lớn. Thành phố Huế là một trung tâm văn hóa,
du lịch của cả nước, nên hàng năm tỉnh đón nhiều khách du lịch trong nước
và quốc tế đến tham quan, nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức, lể hội
Festival về ẩm thực mang bản sắc Huế được diễn ra hàng năm.Ngoài ra,
hàng vạn sinh viên các tỉnh về cư trú học tập, nhiều khách sạn, bếp ăn tập
thể đóng trên địa bàn. Do đó nhu cầu các sản phẩm nông nghiệp chất lượng
cao, an toàn ngày càng tăng, nhất là rau xanh nhu cầu cấp thiết của cuộc
sống hàng ngày.
Lượng khách du lịch đến Huế hàng năm 2009 khoảng 1,296,100 người
lưu trú trong nước cũng như quốc tế và có khoảng trên 3000 sinh viên của
các tỉnh về lưu trú học tập, tổng cộng có khoảng trên 1,299,100 người, mỗi
người tiêu thụ tối thiểu 250 – 300g/ngày tức 90 – 110 kg/người/năm. Vậy
toàn tỉnh phải tiêu thụ tối thiểu 116,919 – 142,901 tấn/năm [13].
Vì vậy việc mở rộng diện tích trồng rau là một trong những tiêu chí mà
tỉnh hướng đến, nhằm đáp ứng nhu cầu rau của người dân trong tỉnh cũng
như khách du lịch và sinh viên các tỉnh đến cư trú học tập.

11
Vế sản lượng, mặc dù năm 2006 sản lượng 43,462 tấn nhưng đến năm
2009 do bố trí trồng rau trong năm hợp lý, tăng hệ số sử dụng đất lên cao,
nên sản lượng rau tăng lên 54,918 tấn. Đây là yếu tố quan trọng trong việc
tăng thu nhập cho người nông dân, cũng như khả năng khai thác và mở rộng
diện tích trồng rau trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.1.2. Các vùng sản xuất rau của tỉnh Thừa Thiên Huế
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm trong khu vực bắc miền Trung, nên chịu ảnh
hưởng của khí hậu khắc nghiệt nơi đây. Tuy nhiên, trong những năm qua
cùng với sự tăng trưởng của các ngành khác trong sản xuất nông nghiệp thì
ngành sản xuất rau ở Thừa Thiên Huế cũng có những bước tiến đáng kể.
Theo thống kê thì những năm trở lại đây diện tích trồng rau của các
huyện đều tăng lên đáng kể. Tổng diện tích toàn tỉnh năm 2009 là 5,950 ha
tăng lên 25.3% so với năm 2006. Trong đó huyện Phú Vang có diện tích lớn
nhất 1,600 ha tăng 18.3% so với năm 2006, tiếp theo là huyện Phú Lộc và
huyện Quảng Điền với diện tích 1,300 ha. Đặc biệt huyện Phú Lộc trong
năm 2006 diện tích chỉ 205 ha nhưng đến năm 2009 đã lên đến 1300 ha tăng
63.4% so với năm 2006.
Chính vì vậy, sản lượng rau trong năm 2009 huyện Phú Vang đứng đầu
trong toàn tỉnh với 14,608 tấn, tiếp theo là Phú Lộc 11,596 tấn và huyện
Quảng Điền 10,800 tấn [14].
Diện tích, năng suất, sản lượng của các huyện và thành phố Huế được thể
hiện qua bảng 2.
Bảng 2: Diện tích, năng suất, sản lượng của thành phố Huế và các huyện
của tỉnh Thừa Thiên Huế
Tên huyện, thành phố Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Năng

1 Bắp cải Brassica oleraceae var.
carppitata
Crucifereae
2 Cải bẹ Brassica campesteis L. Crucifereae
3 Cải cúc Brassicahry santhemum Crucifereae
4 Cải ngọt Brassica integritolia
(West) O.E.Schulz
Crucifereae
5 Cải thìa Brassica chinensis L. Crucifereae
6 Cải
xanh
Brassica juncea (L)
Czern.rt.Cos
Crucifereae
7 Rau cần Oenanthe javanica
(Blume) DC
Compositea
8 Cần tây Apium graveolens var,
ducle
Umbelliferace
9 Hành lá Apium fistulosum L. Alliaceae
10 Hẹ Apium tubesosum Rotller
ex Spreng
Alliaceae
11 Mồng
tơi
Basella rubra L. Basecellaceae
12 Rau dền Amaranthus Amaranthaceae
13 Rau
muống

28 Đậu bắp Abelmochus esculentus
(L) Moench
Malvaceae
29 Đậu
côve
Phaseolus vulgaris L Fabaceae
30 Đậu
rồng
Psophocarpus
tletragonolobus (L.) DC
Fabaceae
31 Ớt cay Capsicum annuum Solanaceae
32 ớt ngọt Capsicum annuum Solanaceae
33 Mướp
đắng
Mổndica chẩntia L. Cucurbitaceae
34 Su su Sechium edule (Jacq) Sw Cucurbitaceae
RAU ĂN CỦ
35 Cà rốt Daucus carola L.ssp
sativus Hayst
Apiaceae
36 Củ cải

Brassica campestris Crucifereae
37 Củ đậu Pachyrhizus erosus Fabaceae
38 Củ cải Beta vulgraris Fabaceae
39 Củ từ Dioscorea alata Convolvulacea
e
40 Gừng Zingiber offcinale Zinggberaceae
41 Khoai

thuộc họ thập tự (Crueifereae), 8 loại thuộc họ bầu bí (Cuicurbitaceae), 12
loại thuộc họ đậu (Fabaceace), còn lại thuộc họ cà (Solanaceae), họ đay
(Titiaceae), họ cúc (Copositae). Rau của Thừa Thiên Huế gồm 4 nhóm rau
ăn lá, thân; ăn quả, hoa; ăn quả và nhóm ăn gia vị thì nhóm ăn quả và ăn lá
có số lượng tương đương nhau là 17 loại chiếm 33%, 10 loại rau ăn củ
chiếm 19.6%, 7 loại rau ăn trái và hạt chiếm 13.7% [1].
4.1.4. Tình hình sản xuất RAT ở địa bàn Thừa Thiên Huế
Nền kinh tế thị trường đòi hỏi người sản xuất phải nhạy bén, để định
hướng sản phẩm nhằm đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho người tiêu dùng với chi
phí thấp nhất, sản phẩm đạt chất lượng, phải biết cách hướng dẫn, quảng
cáo, tiếp thị sản phẩm để người tiêu dùng biết và an tâm với sản phẩm đó.
Đối với sản xuất rau an toàn liên quan mật thiết đến sức khỏe người tiêu
dùng, thì vấn đề chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế, ổn định sản lượng và
đa dạng sản phẩm là rất quan trọng.
Chính vì vậy trong những năm gần đây, thông qua một số chương trình của
Trung tâm KN-KL, của trường Đại học Nông lâm Huế, các đề tài Khoa học
công nghệ và một số tổ chức khác, một số mô hình sản xuất rau, quả an toàn
đã được triển khai tại các địa phương như: HTX Kim Thành, xã Quảng
Thành, huyện Quảng Điền; HTX Quảng Thọ 2, xã Quảng Thọ, huyện Quảng
Điền; HTX Thủy Biều, xã Thủy Biều, Thành Phố Huế; HTX Hương An, xã
Hương An, huyện Hương Trà; HTX Hương Chữ, xã Hương Chữ, huyện
Hương Trà; và HTX Hương Long, TP Huế [15]. Diện tích và chủng loại rau
sản xuất ở các vùng được thể hiện qua bảng 4.
Bảng 4 : Diện tích, chủng loại rau, quả an toàn của tỉnh TT. Huế
STT Đơn vị DT (ha)
Chủng loại rau, quả
an toàn
15
1 HTX Kim Thành, xã
Quảng Thành, huyện

Từ bảng 4 cho thấy, có ít nhất 5 địa bàn được quy hoạch sản xuất RAT
bao gồm: xã Quảng Thành, Quảng Thọ, huyện Quảng Điền; xã Hương An,
Hương Chữ, huyện Hương Trà; và phường Hương Long, TP Huế.
Trong đó, xã Quảng Thành có diện tích lớn nhất với 5.6 ha, các loại rau
được trồng như: Cải xanh, Cải cúc, Xà lách, Rau thơm, Ngò rí, Ớt xanh cao
sản, Rau dền, Rau muống , tiếp theo là xã Quảng Thọ với 1.8 ha chủ yếu
trồng rau má và mướp đắng. Xã có diện tích ít nhất là Hương An với 0.98
ha, chủ yếu là trồng rau cải, hành lá, xà lách, kiệu và rau thơm.
Tuy vậy, tình hình sản xuất rau an toàn vẫn còn dừng lại ở cấp độ mô
hình thử nghiệm, chưa nhân rộng ra được trong sản xuất. Vì nhiều lý do
16
khác nhau mà các HTX trồng rau an toàn trên địa bàn Thừa Thiên Huế có
diện tích rải rác hoặc bị thu hẹp sau một thời gian trồng thử nghiệm. Chỉ có
HTX Kim Thành xã Quảng thành và HTX Quảng Thọ II xã Quảng Thọ
huyện Quảng Điền là 2 điểm sản xuất RAT được duy trì và mở rộng. Do vậy
đề tài tập trung vào nghiên cứu 2 địa bàn này.
Hình 1 chỉ rõ các vùng quy hoạch sản xuất RAT của tỉnh cung cấp cho
thành phố Huế.

Hình 1: Các vùng quy hoạch sản xuất RAT của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Các vùng sản xuất RAT này chỉ mang tính thí điểm, với mục đích cung
cấp RAT cho thành phố Huế. Do vậy, khoảng cách không xa so với trung
tâm thành phố. Ngoài ra với khoảng cách này người tiêu dùng dễ biết, và dễ
quan sát được quy trình sản xuất RAT.
4.2. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
4.2.1. Điều kiện tự nhiên của Quảng Thành và Quảng Thọ
4.2.1.1. Vị trí địa lí: Vị trí địa lí có vai trò quan trọng trong giao thương
buôn bán, vận chuyển hàng hóa, cơ hội tiếp cận các thành tựu khoa học kỹ
thuật và thông tin liên lạc phục vụ sản xuất của các địa phương. Đặc biệt
17

biệt là thành phố Huế - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của
toàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.2.1.2. Địa hình
a. Xã Quảng Thành
Xã Quảng Thành là vùng đồng bằng, tương đối bằng phẳng nhưng có
phần thấp trũng hơn so với các địa phương khác ở phía Đông tỉnh Thừa
Thiên Huế, độ cao trung bình của xã là 1 mét so với mực nước biển, có nơi
còn thấp hơn mực nước biển từ 0.5-1.0 mét (vùng bàu ven phá Tam Giang),
gây nhiều khó khăn cho xã Quảng Thành vì hàng năm từ giữa tháng 9 đến
giữa tháng 11 thường có một diện tích rất lớn đất nông nghiệp bị ngập nước
thường xuyên. Đối với HTX Kim Thành nơi có sản lượng rau lớn nhất của
xã Quảng Thành thì có đến hơn 200 ha đất bị ngập nước (chủ yếu đất trồng
lúa) trên tổng diện tích đất nông nghiệp là 308 ha. Trong thời gian này các
hoạt động sản xuất trên đồng ruộng đều ngừng hẳn. Nơi có địa hình cao nhất
18
là thôn Thành Trung cũng bị ngập một phần lớn diện tích trồng rau và lúa
gây thiệt hại đáng kể cho nhân dân.
Đất ở đây chủ yếu là đất thịt nhẹ (chiếm 65-70%) và đất thịt nặng rất
thuận lợi cho sản xuất rau.
b. Xã Quảng Thọ
Xã Quảng Thọ thuộc vùng đồng bằng nằm về phía vùng hạ lưu sông Bồ,
có địa hình thấp trũng hàng năm thường xuyên bị ngập úng vào mùa mưa
ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, cơ sở hạ tầng, hoạt động đi lại. Nhưng
với nghiên cứu, đề xuất, tham mưu và chỉ đạo trực tiếp của Sở Nông nghiệp
- PTNT, chính quyền địa phương và đơn vị sản xuất cơ sở đã triển khai thực
hiện nhiều giải pháp về kinh tế - kỹ thuật, đầu tư và hỗ trợ nông dân nên
tiềm năng đất đai, kinh tế nông nghiệp - nông thôn vẫn luôn đạt những thành
tích và hiệu quả tương đối cao.
4.2.1.3. Điều kiện thời tiết khí hậu
Sản xuất nông nghiệp là ngành chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố

Ẩm độ tương đối trung bình các tháng trong năm là 77-92%, từ tháng 10
đến tháng 3 năm sau ẩm độ khá cao 91-92%, các tháng 5-8 ẩm độ thấp hơn
77-81%. Tương tự độ ẩm tương đối thấp nhất các tháng từ 40-61%. Với độ
ẩm trung bình các tháng khá cao, hầu hết trên 71%, là điều kiện thuận lợi
phát sinh, phát triển nhiều loại sâu hại gây bệnh cho rau Vì vậy các loại rau
như rau cải, xà lách, rau thơm thường bị hại nặng vào các tháng 10 đến
tháng 3 năm sau nếu không diệt kịp thời.
* Lượng mưa
Xã Quảng Thành là nơi có lượng mưa khá cao, tập trung chủ yếu vào
tháng 9, 10, 11, chiếm 65-70% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung
bình các tháng từ tháng 1 đến tháng 8 chỉ từ 51-188 mm/tháng. Trong khi đó
các tháng 9-12 lượng mưa 404 - 977 mm/tháng. Vì vậy trồng rau ở đây với
các tháng từ 12 đến tháng 3 không cần tưới nước nhiều mà rau vẫn xanh tốt.
Các tháng 4-8 nền nhiệt độ khá cao, tổng lượng bốc hơi lớn kèm theo mưa ít,
rau là loại cây có nhu cầu nước lớn nên phải thường xuyên tưới nước và
dùng lưới che hay tủ rơm khi gieo để hạn chế lượng bốc hơi nước cho rau.
Các tháng 9-11 lượng mưa lớn và tập trung nên thường xãy ra lũ lụt. Địa
hình Thừa Thiên Huế khá dốc nên lũ thường ít khi kéo dài nhưng mựt nước
lên cao và dòng chảy lớn gây thiệt hại lớn đến sản xuất nông nghiệp. Vì vậy
để tránh tác hại của lũ lụt người nông dân Huế nói chung và xã Quảng
Thành nói riêng thường thu hoạch trước lũ và gieo cấy khi mùa lũ kết thúc.
Thời gian có thể kéo dài từ 1-2 tháng.
Quảng Thành còn chịu nhiều ảnh hưởng của cac đợt áp thấp nhiệt đới và
nhiều cơn bão lớn nhỏ kèm theo mưa lớn tập trung vào mùa mưa. Trong
năm còn có một mùa mưa phụ từ tháng 4 đến tháng 6 có thể gây lụt vào hạ
tuần tháng 5 (lụt tiểu mãn); lụt còn xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 1 (lụt
đầu vụ-cuối vụ) gây thiệt hại cho việc gieo cấy vụ hè thu.
Có thể nói sản xuất nông nghiệp của Quảng Thành chịu nhiều tác động
bất lợi của các yếu tố thời tiết khí hậu. Là vùng trồng lúa, rau và hoa màu có
địa hình thấp trũng, trong năm lại chịu ảnh hưởng của nắng nóng và mùa

đoạn này chiếm 70 đến 75% lượng mưa cả năm. Những tháng này mưa
nhiều nên thường xảy ra lũ lụt.
Quảng thọ cũng như xã Quảng Thành chịu ảnh hưởng của nhiều trận lụt,
bão, áp thấp nhiệt đới , đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất
rau của người dân.
4.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.2.2.1. Tình hình dân số và lao động
Vấn đề dân số và lao động là một trong những vấn đề rất được quan tâm
hiện nay. Bởi một mặt nó thúc đẩy, tạo động lực cho phát triển kinh tế, một
mặt nó sẽ là cản trở lớn, là gánh nặng cho phát triển kinh tế - xã hội khi số
lượng lao động và nhân khẩu phụ thuộc vào nông nghiệp lại quá lớn so với
những giới hạn về điều kiện tự nhiên - xã hội. Bảng 5 trình bày tình hình dân
số và lao động của 2 xã điều tra.
Bảng 5: Tình hình dân số và lao động của 2 xã Quảng Thành và Quảng
Thọ
Chỉ tiêu Xã Quảng Thành Xã Quảng Thọ
Tổng số hộ 2,625 hộ 1,658 hộ
21
Nhân khẩu 11,862 người 7,936 người
Lao động trong độ
tuổi
6,012 người 3,850 người
Tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên bình quân
1,18%/năm 1,1%/năm
Nguồn: Tài liệu thứ cấp, 2010
Từ kết quả của bảng tình hình dân số và lao động của 2 xã trên em nhận
thấy, xã Quảng Thành dân số cũng như lao động trong độ tuổi đều lớn hơn
xã Quảng Thọ được thể hiện qua nhân khẩu xã Quảng Thành nhiều hơn xã
Quảng Thọ 3,926 người, và lao động trong độ tuổi là 2,162. Lao động của xã

22
phương đều có xu hướng giảm, bởi sự gia tăng xây dựng cơ sở hạ tầng và
chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác như đất ở và đất
chuyên dùng, làm cho đất nông nghiệp tính trên đầu người ngày càng giảm.
Vì vậy việc sử dụng đất sao cho có hiệu quả và hợp lí là vấn đề rất đáng
được quan tâm. Đồng thời đó cũng là giải pháp nâng cao thu nhập cho người
nông dân, nhất là các địa phương có diện tích đất hẹp. Nó giúp ta bố trí hệ
thống sản xuất một cách hợp lí nhằm khai thác và sử dụng đất một cách có
hiệu quả và bền vững.
- Xã Quảng Thành
Tổng diện tích đất của xã Quảng Thành là 1,082 ha. Trong đó đất nông
nghiệp là 643.03 ha chiếm 59.43% đất tự nhiên và có xu hướng giảm nhẹ
qua các năm. Năm 2005 diện tích đất nông nghiệp là 644.93 ha nhưng đến
năm 2007 chỉ còn 643,03 ha. Tuy nhiên lại có sự thay đổi lớn về cơ cấu
nông nghiệp. Đất trồng lúa chiếm phần lớn diện tích (chiếm 80.52% tổng
diện tích đất nông nghiệp, năm 2007) đang giảm để thay thế cho đất trồng
rau và đất nuôi trồng thủy sản. Xã đã vận động nông dân chuyển đổi một số
diện tích trồng lúa cao sang trồng rau cho thu nhập cao hơn. Đặc biệt đất
trồng rau này có phần lớn là đất vườn 34.63 ha (chiếm 48.15% diện tích
trồng rau). Đất vườn trồng rau ước khoảng 150-600 m
2
/hộ. Đây cũng là phần
thu nhập rất quan trọng trong cơ cấu thu nhập của người trồng rau. Rau được
xem là cây trồng có nhiều tiềm năng phát triển trong thời gian tới.
Cụ thể trong vòng 3 năm từ 2005-2007 diện tích đất trồng rau tăng từ 61-
72 ha (tăng 18.03%). Đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt cũng tăng lên đáng
kể. Đất nuôi trồng thủy sản nước lợ không tăng và có diện tích khá lớn là
79.88 ha ở ven phá Tam Giang.
- Xã Quảng thọ
Là xã thuần nông, nghành nghề chính là sản xuất nông nghiệp (canh tác

vừa phải đầu tư xây dựng các tuyến đường mới vừa phải đầu tư sửa chữa,
nâng cấp các tuyến đường bị hư hỏng mới đáp ứng được nhu cầu phát triển
kinh tế.
Tuyến đường sông cũng góp phần trong giao thương buôn bán với các
địa phương khác vì các thôn đều có đường sông. Nhưng mức độ khai thác
còn ít, chưa tương xứng với tiềm năng của nó.
- Xã Quảng Thọ
Tương tự như xã Quảng Thành xã Quảng Thọ có các tuyến đường:
+ Đường tỉnh quản lý: 6,546m. Trong đó: đã nhựa hóa: 5,346m, đường
đất: 1,200m, Đây là tuyến đường rất quan trọng của xã, đoạn đường nối dài
nối với xã Hương Toàn- huyện Hương Trà và cũng là tuyến đường chính nối
với thành phố Huế, các xã khác của huyện Quảng Điền và thị trấn Sịa, có ý
nghĩa rất quang trọng trong phát triển cây rau.
+ Nhờ sự đầu tư của Nhà nước cũng như sự đóng góp của người dân nên
các đường liên xã, liên thô cơ bản xã bê tông hóa đã tạo điều kiện thuận lợi
cho người dân trong thôn, xã cũng như cac vùng khác thuận lợi hơn trong
buôn bán, sản xuất Đường liên xã, liên thôn: 12,175m. Trong đó: Đã bê
tông hóa: 9,116m, đường đất: 3,000m
+ Bên cạnh đó thì đường xóm cũng một phần được bê tông hóa. Đường
xóm: 27,085m trong đó: đã bê tông hóa: 13,463m, đường đất: 13,622m góp
phần không nhỏ vào hoạt động sản xuất.
Có thể nói hệ thống giao thông ở đây tương đối hoàn chỉnh thuận tiện
cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa với trung tâm huyện lỵ, trung tâm thành
phố Huế và các vùng phụ cận.
24
* Thủy lợi:
Là các xã thuộc vùng thấp trũng lại có hệ thống sông ngòi lớn nên công
tác thủy lợi phục vụ sản xuất khá thuận tiện, ít có khi khô hạn, thiếu nước
tưới
- Xã Quảng Thành:

Thọ
4.3.1. Đặc điểm của rau an toàn: Năng suất, hình thức, chất lượng và
giá cả
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status