thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 73

thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội
I.Lợi thế của Hà Nội trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn.
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ thuộc đồng bằng Sông Hồng nằm ở
20
0
53’ vĩ độ bắc và 105
0
44’- 106
0
02’ vĩ độ đông, có chiều dài từ phía Bắc tới Nam là
50km, và chiều rộng từ phía Đông sang Tây là 30km, tiếp giáp 5 tỉnh: Bắc Ninh, Thái
Nguyên, Hưng Yên, Vĩnh Yên, Hà Tây. Hà Nội có diện tích tự nhiên 920,97km
2
trong đó
diện tích các huyện ngoại thành là 836,67km
2
. Đại bộ phận diện tích của Hà Nội nằm trong
vùng Đồng bằng châu thổ Sông Hồng (với độ cao từ 5-20m so với mực nước biển, một
phần nhỏ ở phía Bắc và Tây Bắc huyện Sóc Sơn là khu vực đồi núi thuộc rìa phía Nam của
dãy núi Tam Đảo cao từ 200- 400m so với mực nước biển.
Hà Nội, nằm ở phía Bắc Việt Nam, là thủ đô của Việt Nam, trung tâm văn hoá kinh tế
chính trị của nước ta, Hà Nội còn là một tỉnh gồm 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại
thành. Dân số các quận huỵện được trình bày trong bảng sau:
Quận(huyện) Diện tích(km
2
) Dân số(người)
Ba Đình 9,24 228.352
Đống Đa 9,96 367.401
Cầu Giấy 12,10 155.020
Hai Bà Trưng 10,09 305.611
Hoàn Kiếm 53,97 178.037

, tháng 1 là tháng lạnh nhất nhiệt độ trung bình khoảng 16
0
, tháng 7 là
tháng nóng nhất nhiệt độ trung bình khoảng 29
0
, độ ẩm kéo dài gần như quanh năm, các
tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 3,4 và tháng 8, độ ẩm thấp nhất rơi vào các tháng 10,
11, 12, trời nắng trung bình 4h một ngày, từ tháng 5 đến tháng 10 trời nắng kéo dài 5-6h
.ngày, tuy nhiên tháng 2, 3 lại giảm xuống chỉ còn 1,6h.ngày.
2. Điều kiện kinh tế- xã hội
- Dân số Hà Nội năm 2005 trung bình 3.105.000 người trong đó dân số ngoại thành
1.489.000 người chiếm 47,03% dân số thành phố. Thời gian gần đây dân số thành phố tăng
nhưng chậm hơn mức tăng dân số cả nước, tuy nhiên mức tăng dân số các huyện ngoại
thành tăng nhanh hơn so với nội thành. Hà Nội vẫn là nơi có dân số đông, lực lượng lao
động dồi dào. Vì vậy khi phát triển vùng chuyên canh rau an toàn đã có lợi thế hơn về lao
động và thị trường tiêu thụ.
- Đời sống xã hội:
+ Đến nay các huyện ngoại thành đã xây dựng được 287 công trình thuỷ lợi, đảm bảo
tưới tiêu chủ động cho trên 90% diện tích đất canh tác, hệ thống thuỷ lợi được cải tạo hàng
năm và phát huy tác dụng.
+ Hệ thống giao thông nông thôn đã được xây dựng cải tạo. Năm 1995 có
775km(54,2% ) các đường giao thông nông thôn được dải nhựa, bê tông hay rải cấp phối
trừ một số xã vùng sâu thuộc huyện Sóc Sơn.
+ Thị trường Hà Nội với dân số dự kiến năm 2010 là 3,3 triệu, năm 2020 có thể lên tới
gần 4 triệu mà phần đông là các tầng lớp có thu nhập cao hơn so với bình quân cả nước,
đang và ngày càng là một thị trường tiêu thụ lớn về các loại nông sản thực phẩm và phi
thực phẩm. Bên cạnh các nguồn cung cấp của các tỉnh lân cận, việc tạo ra các sản phẩm
chất lượng cao, một khối lượng nông sản lớn và đa dạngc ho dân cư cả nội và ngoại thành
là rất cần thiết.
Thu nhập của người dân Hà Nội ngày càng tăng cùng với sự phát triển của thành phố

- Bốn là: nhu cầu rau an toàn của người dân Hà Nội ngày càng lớn, nhưng việc đầu tư
của các cơ sở sản xuất kinh doanh hay của thành phố vẫn chưa tương xứng nên Hà Nội chỉ
cung cấp 40% rau an toàn và có nguy cơ giảm theo thời gian nếu vấn đề này không tháo gỡ
nhanh.
- Năm là: do tác động của cơ chế thị trường một bộ phân nông dân chạy theo cơ chế thị
trường đã sử dụng nhiều hoá chất độc hại vào sản xuất nông nghiệp vừa gây ô nhiễm môi
trường, vừa không tạo ra được sản phẩm rau an toàn trên thị trường. Do hệ thống phân
phối tổ chức còn nhiều bất cập nên các sản phẩm rau an toàn chưa có sự phân biệt rõ ràng
với sản phẩm rau thông thường vì vậy chưa gắn lợi ích của người sản xuất với chất lượng
sản phẩm.
- Sáu là: Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện nay có phần xuống cấp, cần phải được
nâng cấp sửa chữa, và xây mới.
- Bảy là: do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên sản xuất nông nghiệp nói chung và sản
xuất rau an toàn nói riêng đều mang tính thời vụ. Khối lượng cũng như chủng loại rau an
toàn vào vụ hè ít hơn hẳn vụ đông. Điều đó ảnh hưởng tới khâu tiêu thụ, không đáp ứng
nhu cầu của người dân đặc biệt về chủng loại vì vậy hàng năm Hà Nội vẫn phải nhập rau
từ các tỉnh khác và Trung Quốc. Thời tiết mưa lớn về mùa hè khô hạn về mùa đông điều
này ảnh hưởng tới kế hoạch chủ động tưới tiêu của người sản xuất.
Tóm lại có thể nói diện tích rau an toàn của Hà Nội hiện nay ngày càng tăng lên nhưng
lòng tin của người tiêu dùng vào sản phẩm rau an toàn vẫn còn đầy hoài nghi, chưa thật sự
an tâm về chất lượng rau mà mình lựa chọn cả về chất lượng và mẫu mã điều này cũng
được thể hiện trên rất nhiều bài báo phản ánh “rau an toàn chất lượng đến đâu? liệu có
đáng tin cậy?..” Chính vì vậy vấn đề tạo lòng tin cho người tiêu dùng là thật sự cần thiết.
III. Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội.
1.Tình hình sản xuất rau ở Hà Nội.
1.1. Tình hình phát triển về diện tích, năng suất, sản lượng rau an toàn ở Hà
Nội.
Để đáp ứng nhu cầu rau an toàn của người dân từ năm 1996 thành phố đã triển khai
chương trình sản xuất rau an toàn, đã tiêna hành hàng chục vùng sản xuất rau an toàn ở các
quận, huyện ngoại thành, từng bước đầu tư về cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật.

Lượng tăng giảm DT
rau an toàn(ha)
230,2 157,4 1408,6
Tốc độ phát triển rau
rau an toàn so với năm
trước(%)
107,4 104,7 140,3
Nguồn: Sở NN&PTNT Hà Nội
Nếu xét về cơ cấu diện tích theo quận, huyện, diện tích sản xuất rau an toàn chủ yếu
tập trung ở Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, và Sóc Sơn. Xét về tốc độ tăng diện tích, Hoàng
Mai có tốc độ tăng cao nhất, bình quân 28,2%.năm, tiếp theo là Sóc Sơn là 18,24%.năm. Ở
đây do được quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự
chỉ đạo sát sao của các ngành các cấp, nông dân đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng
từ sản xuất lúa, ngô, khoai lang vụ đông và sản xuất rau thường sang sản xuất rau an toàn.
Bảng 2:Diện tích rau an toàn của các quận huyện ở Hà Nội giai đoạn 2002-2006.
Quận,huyệ
n
Diện tích(ha)
2002 2003 2004 2005 2006
Tổng 2297,8 2526,0 2662,6 2848,2 2992,8
Từ Liêm 545,0 555,0 560,0 562,0 564,0
Gia Lâm 741,0 784,8 799,0 848,5 895,0
Long Biên 14,0 15,2 16,0 16,5 17,0
Đông Anh 701,0 825,0 835,0 876,4 907,0
Sóc Sơn 110,0 129,0 155,0 195,0 215,0
Thanh Trì 109,6 125,7 165,7 185,4 209,3
Hoàng
Mai
65,2 76,2 106,9 138,4 189,5
Nguồn: Sở NN&PTNT Hà Nội

Quận,
huyện
Năng suất (tạ.ha)
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Bình quân 157,5 178,9 183,2 185,6 187,4 188,5
Từ Liêm 193,2 194,5 195,8 196,0 197,5 199,6
Gia Lâm 142,0 181,2 183,0 187,4 188,5 189,6
Long Biên 141,0 178,5 182,3 186,0 187,0 188,3
Đông Anh 181,0 188,0 190,1 192,5 193,0 193,5
Sóc Sơn 145,0 159,0 163,5 167,5 171,2 172,0
Thanh Trì 145,5 181,0 186,5 188,0 189,5 191,6
Hoàng Mai 147,0 172,0 179,2 181,6 182,5 183,0
Nguồn: Sở NN&PTNT Hà Nội
c. Tình hình phát triển về sản lượng rau an toàn của Hà Nội.
Về sản lượng, sản lượng rau an toàn chủ yếu do 3 huyện Từ Liêm, Gia Lâm và Đông
Anh sản xuất ra chiếm tới 79,1 tổng lượng rau an toàn của thành phố trong năm 2005 cụ
thể năm 2005 Từ Liêm cung cấp: 11145,0 (tấn), Gia Lâm: 15866,9 (tấn), Đông Anh:
16785,3 (tấn). Mặc dù sản lượng rau an toàn tăng nhanh qua các năm và người sản xuất rau
ở Hà Nội chú ý phát triển rau trái vụ, nhưng sản xuất chủ yếu vẫn là hai vụ chính đông-
xuân và thu- đông tập trung vào tháng 1 đến tháng 4 và tháng 10 đến tháng 12., các tháng
còn lại sản lượng rau ít đặc biệt tháng 6 và tháng 8.
Bảng 4: Sản lượng rau an toàn của hà Nội
Năm
Chỉ tiêu
2003 2004 2005 2006 2007
Sản lượng rau
(tấn)
148125 159525,8 150588 198029 205015
Sản lượng RAT
(tấn)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status