1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, nông nghiệp được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến
lược phát triển nền kinh tế đất nước. Trong những năm qua, ngành nông
nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đóng góp một phần quan
trọng vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thị trường ngày càng được mở
rộng, các hoạt động kinh tế diễn ra mạnh mẽ và đa dạng góp phần đẩy mạnh
nền kinh tế phát triển, đồng thời kéo theo đó là sự phát triển của xã hội. Khi
xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người cũng cao hơn.
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) đối với nông sản nhất là rau
xanh là vấn đề đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Việc ô nhiễm vi sinh vật,
hóa chất độc hại, kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trên rau, đặc
biệt là rau ăn lá đã gây ảnh hưởng không nhỏ trước mắt cũng như lâu dài đối
với sức khỏe cộng đồng. Trước vai trò của rau xanh và những thực trạng
trong sản xuất rau khi đời sống phát triển, nhu cầu về rau an toàn đạt chất
lượng cao ngày càng gia tăng cho thấy việc sản xuất ra nhiều loại rau với số
lượng lớn, đảm bảo chất lượng là một nhiệm vụ quan trọng. Bên cạnh đó
việc sản xuất rau trái vụ phục vụ nhu cầu xã hội làm tăng thu nhập cho
người dân cũng là một vấn đề đáng quan tâm.
Đảng và Nhà nước đã và đang đưa ra những chủ trương, chính sách để
phát triển nông nghiệp thông qua việc đưa ra các mô hình về triển khai tại địa
phương, các khu vực nông thôn trong cả nước và đã đạt được nhiều thành tựu
đáng kể. Các mô hình giống cây trồng, vật nuôi được đưa về tận các thôn,
xã… tạo điều kiện phát triển nông nghiệp nâng cao thu nhập cho người dân.
2
Trong sản xuất nông nghiệp, cây rau có vị trí quan trọng. Rau là một
loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người. Rau
cung cấp cho con người phần lớn các khoáng chất, Vitamin, các chất dinh
dưỡng như Protein, Lipit, giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn tinh bột một cách dễ
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình tiêu thụ sản phẩm trong thời gian qua,
đề xuất ra các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy khả năng tiêu thụ sản phẩm
và mở rộng mô hình sản xuất RAT trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
− Đánh giá các điều kiện của thành phố Thái Nguyên, tác động vào mô
hình RAT.
− Nghiên cứu hiện trạng mô hình sản xuất RAT.
− Đánh giá thị trường tiêu thụ RAT thời gian qua.
− Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ RAT.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Thực hiện nghiên cứu đề tài tốt nghiệp có vai trò quan trọng trong
quá trình học tập của mỗi sinh viên là cơ hội cho sinh viên làm quen dần
với việc nghiên cứu khoa học, biết gắn kết những kiến thức đã học vào
thực tiễn một cách sáng tạo và khoa học. Quá trình nghiên cứu giúp cho
sinh viên có điều kiện tự khẳng định mình sau 4 năm học. Thời gian thực
tập củng cố cho sinh viên những kiến thức còn thiếu sót cần bổ sung để sau
này trở thành một kỹ sư Khuyến nông có năng lực chuyên môn tốt đáp ứng
nhu cầu của công việc.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
4
Kết quả nghiên cứu đề tài về mô hình sản xuất RAT giúp cho thành
phố nhìn nhận đánh giá quá trình thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành nghề từ
phương thức sản xuất truyền thống sang sản xuất hàng hoá. Những phân tích,
đánh giá trong đề tài có thể làm tài liệu cho hệ thống khuyến nông cơ sở đi
sâu tìm hiểu nhu cầu và mong muốn của người dân, nhằm nâng cao hiệu quả
của công tác khuyến nông.
1.4. Giới hạn của đề tài
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài mới chỉ phỏng vấn có 45 hộ và một
sinh sạch, bảo đảm đến người sử dụng ăn ngon, tươi và an toàn.
6
- Rau an toàn không chứa các dư lượng độc hại vượt quá ngưỡng cho
phép theo tiêu chuẩn vệ sinh y tế không bị nhiễm các hoá chất, thuốc BVTV,
hàm lượng nitrat, kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh khác.Tóm lại: Rau an
toàn phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Không chứa dư lượng thuốc sâu quá mức cho phép.
- Không chứa lượng nitrat quá mức cho phép.
- Không chứa các vi khuẩn và kí sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc,
gia cầm (kể cả ăn sống và nấu chín ngay khi ăn và cả một thời gian sau khi ăn).
- Không tồn dư một số kim loại nặng như: Thuỷ ngân (Hg), chì (Pb)
quá ngưỡng cho phép theo “Quy định tạm thời về sản xuất rau an toàn”[7].
2.1.2. Tiêu chuẩn rau an toàn
Tiêu chuẩn về rau an toàn của Bộ NN và PTNT
Ngày 28 tháng 4 năm 1998, Bộ NN & PTNN đã ra quyết định số
67/1998 QĐ - BNN - KHCN ban hành “Quy định tạm thời về sản xuất rau
an toàn” để áp dụng cho cả nước. Trong quyết định này quy định mức dư
lượng cho phép trên sản phẩm rau đối với hàm lượng nitrat, kim loại nặng,
vi sinh vật gây hại và thuốc BVTV. Các mức dư lượng cho phép này chủ
yếu dựa vào quy định của Tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO) và Tổ
chức Y Tế Thế Giới (WHO). Các cá nhân, tổ chức sản xuất và sử dụng rau
dựa vào các mức dư lượng này để kiểm tra xác định sản phẩm có đạt tiêu
chuẩn an toàn hay không.
Tiêu chuẩn vùng sản xuất rau an toàn
* Vùng sản xuất
- Vùng rau phải có diện tích canh tác tập trung theo đơn vị hành chính
thôn, bản hoặc xã.
7
- Vị trí vùng canh tác: Phải nằm trong vùng rau quy hoạch phát triển
rau an toàn của thành phố, thị xã, huyện không gần nơi bị ô nhiễm như khu
thảo mộc, thuốc có độ độc thấp (nhóm III, IV), thuộc nhóm nhanh chóng phân
huỷ ít ảnh hưởng đến các loài sinh vật có ích trên đồng ruộng.
- Phân bón: Không sử dụng phân tươi, phân hữu cơ chưa ủ hoai. Tuỳ
từng loại rau mà số lượng, chủng loại phân cân đối, hợp lý và có thời gian
cách ly an toàn khi thu hoạch. Việc sử dụng phân đạm và các loại phân khác
đảm bảo không tạo ra dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép theo quyết định số
67/1998/QĐ-BNN-KHKT ngày 28/4/1998 của Bộ NN & PTNN về "Quy định
tạm thời về sản xuất rau an toàn".
* Điều kiện sản xuất
- Vận động các hộ trồng rau trong vùng thành lập tổ sản xuất, có ban
điều hành do tập thể bầu ra để thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất, tiếp thu
chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm.
- Trong thời gian 3 tháng sau khi tập huấn, Chi cục BVTV sẽ tiến
hành kiểm tra ngẫu nhiên các mẫu trên đồng ruộng và sau thu hoạch khi tất
cả các mẫu đạt tiêu chuẩn RAT sẽ đề nghị sở NN & PTNN ra quyết định
công nhận vùng RAT.
*Tiêu chuẩn về hình thái
Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng yêu cầu từng loại rau (đúng
độ già kỹ thuật hay thương phẩm), không dập nát, hư thối, không lẫn tạp chất,
sâu bệnh và có bao gói thích hợp.
* Tiêu chuẩn về các chỉ tiêu nội chất trong rau.
9
Tất cả các chỉ tiêu trong sản phẩm của từng loại rau an toàn đều phải
nằm dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của tổ chức nông lương Liên Hợp
Quốc (FAO), Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) hoặc của một số nước tiên tiến
như: Nga, Mỹ Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm:
* Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc BVTV hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ
tự nhiên hay hoá chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông
sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực
Aldrin* & Dieldrin* 0,1 Methyl parathion 0,2
Carbaryl 5,0 Monocrothophos ** 0,2
Diazinon 0,5 - 0,7 Phosalon 1,0
Dichlorvos ** 0,5 Phosphamidon 0,2
Dimenthroat 0,5 - 1,0 Trichlorphon 0,5
Endosulfan ** 2,0 Pirimiphos - Methyl 2,0
Endrin 0,02 Carbosulfan ** 0,5
Fenitrothion 0,5 Cartap 0,2
Heptachlor * 0,05 Methamidophos ** 1,0
Lindan * 0,5 Cypermethrin 1 - 2
Malathion 8,0 Permethrin 5,0
Methidathion 0,2
(Nguồn: WHO/FAO năm 1998)
Chú thích: * : Thuốc cấm sử dụng ở Việt Nam
** : Thuốc cấm sử dụng trên rau ở Việt Nam
Biện pháp hữu hiệu và đơn giản nhất để làm cho hàm lượng thuốc
BVTV trong rau thấp hơn mức cho phép là áp dụng các biện pháp phòng trừ
tổng hợp và sử dụng thuốc hoá học một cách hợp lý nhất.
* Hàm lượng nitrat tồn dư trong rau (NO
3
-
)
Đạm là thành phần hữu cơ quan trọng cho rau. Khi đất trồng có quá nhiều
đạm thì lượng đạm dư thừa sẽ tích luỹ trong rau dưới dạng Nitrat (NO
3
-
). Khi đi
vào cơ thể con người NO
3
-
Bảng 2.2: Ngưỡng giới hạn hàm lượng Nitrat trong rau tươi
(mg/kg)
Tên rau
Mức giới hạn cho phép (mg/kg)
Cải bắp 500
Súp lơ 300
Hành tây 180
Cà chua 300
Dưa chuột 350
Su hào 500
Cải xanh 500
(Nguồn: FAO/WHO Codex Alimentarius, 1998)
* Hàm lượng một số kim loại nặng chủ yếu
Đặc tính của kim loại nặng là không thể tự phân huỷ được nên có sự
tích luỹ trong dây truyền thức ăn của hệ sinh thái. Các kim loại nặng như
asen, chì, thuỷ ngân nếu vượt quá cho phép cũng là những chất có hại cho
12
cơ thể, hạn chế sự phát triển của các tế bào và hoạt động của máu, gây thiếu
máu, biến động thân nhiệt, rối loạn tiêu hoá
Nguyên nhân chính làm hàm lượng kim loại nặng trong rau tăng chủ
yếu do trong thuốc BVTV và phân bón NPK có chứa một số kim loại nặng.
Trong quá trình tưới tiêu, các kim loại nặng này bị rửa trôi xuống ao hồ, sông
rạch, thâm nhập vào mạch nước ngầm và gây ô nhiễm nguồn nước tưới rau.
Mặt khác, nguồn nước thải của các thành phố và các khu công nghiệp chứa
nhiều kim loại nặng cũng được chuyển trực tiếp vào rau tươi.
Bảng 2.3: Ngưỡng giới hạn các kim loại nặng trong sản phẩm rau tươi
Nguyên tố
Mức giới hạn mg/kg (ppm)
Asen (As) 0,1
Chì (Pb) 0,5
phẩm
Vi sinh vật gây hại
Mức giới hạn bởi
GAP
Rau quả tươi
(hoặc đông
lạnh)
Coliforms (tế bào/1g) 10
Escherichia Coli Giới hạn bởi GAP
Staphilococus aureus Giới hạn bởi GAP
Clotridium perfringens Giới hạn bởi GAP
Salmonella (Không có trong 25g rau) 0
(Nguồn: Theo số 867/1998/QĐ - BYT ngày 4/4/1998)
2.1.3. Các biện pháp kỹ thuật sản xuất rau an toàn
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay, các biện pháp kỹ thuật
canh tác và sản xuất rau an toàn phổ biến được áp dụng là kỹ thuật thuỷ
canh, kỹ thuật trồng rau trong điều kiện có che chắn và kỹ thuật trồng rau
ngoài đồng ruộng.
2.1.3.1 Kỹ thuật thuỷ canh (kỹ thuật trồng rau trong dung dịch -
Hydroponics).
- Hệ thống thuỷ canh tĩnh:
14
Hệ thống này đã được áp dụng ở nhiều nơi trên cả nước với quy mô
khác nhau. Tại một số trường Đại học và viện nghiên cứu như: trường Đại
học Nông
Nghiệp I, Đại học Tự Nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), Viện nghiên cứu rau
quả. Vật chứa dung dịch là hộp xốp có kích thước khác nhau, có tác dụng
cách nhiệt, tránh ánh sáng cho bộ rễ. Giá thể để cây là một trấu hun. Hộp
trồng cây được để trong nhà cách ly với côn trùng gây hại. Hệ thống này có
ưu điểm là không phải đầu tư chi phí thiết bị làm chuyển động dung dịch nên
của tỉnh, thành phố và khu công nghiệp lớn đều có dạng hình canh tác này.
2.1.3.3. Trồng rau an toàn ngoài đồng ruộng
Đây là phương thức canh tác chủ yếu của ngành sản xuất rau nước ta. Mục
tiêu lớn nhất là hơn 600 ngàn ha trồng rau được canh tác theo quy trình an toàn.
Cho đến nay việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển RAT chủ yếu tập trung theo
hướng này. Ngoài quy trình chung do Bộ NN & PTNT ban hành, các địa phương
đều có xây dựng quy trình cụ thể cho từng cây hàng vạn hộ nông dân được tập
huấn kỹ thuật được áp dụng tại khu vực này là:
- Sử dụng các sản phẩm sinh học (bón phân, BVTV) trong canh tác hạn
chế các sản phẩm hoá học.
- Thả thiên địch (bọ xít ăn mồi) phòng trừ dệp, bọ trĩ.
- Sử dụng màn phủ nông nghiệp trừ cỏ dại, phòng dệp và giữ ẩm cho đất
Tóm lại, dù áp dụng phương thức canh tác nào thì quy trình kỹ năng phải
đáp ứng được yêu cầu là đạt năng suất cao, phẩm chất rau tốt dư lượng hoá chất
đảm bảo dưới ngưỡng cho phép và dễ áp dụng với người nông dân.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về RAT đã được nhiều cơ quan, tổ chức phối hợp thực
hiện. Bộ NN & PTNT là cơ quan quản lý điều hành mọi hoạt động liên quan
đến hoạt động sản xuất trồng trọt của cả nước, trong đó việc ban hành quy
định tạm thời về sản xuất RAT là một bước đi thể hiện sự quan tâm của các
16
cấp các ngành đối với việc canh tác và sản xuất rau an toàn. Bên cạnh đó,
không thể không kể đến sự phối hợp hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu của
các Viện, trường Đại học, các tổ chức quốc tế, các dự án phát triển nông thôn
được tiến hành trong suốt những năm vừa qua. Những nghiên cứu về phát
triển rau an toàn đã được bắt đầu triển khai từ những năm 1990 với sự góp
mặt của Bộ NN & PTNN, Viện nghiên cứu rau quả, Viện BVTV và Đại học
Nông nghiệp I Hà Nội.
Từ những năm 1993, Lê Đình Lương (Đại học Quốc gia Hà Nội),
cơ khí hoá, tự động hoá từ khâu gieo mầm cho đến khi thu hoạch.
Châu Á là một trong những châu lục đi đầu trong công tác nghiên cứu
và phát triển rau quả. Viện nghiên cứu rau châu Á (AVRDC) đã thực hiện
đúng chức năng, nhiệm vụ và sứ mệnh của mình trong việc nghiên cứu, phát
triển và mở rộng về diện tích, chất lượng các chủng loại rau cho các quốc gia
trong châu lục. Hàng nghìn công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trên
khắp châu Á đã làm phong phú thêm kho tàng tri thức về nghiên cứu rau quả
trên thế giới. Đặc biệt, với các quốc gia đang phát triển, AVRDC chú trọng
nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp về thị trường, về sản xuất gắn với bảo
vệ môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững. Đa số các báo cáo về tình
hình sản xuất, tiêu thụ rau an toàn ở các nước đang phát triển đều có chung
một nhận định cho rằng vấn đề mà các nước này đang gặp phải đó là thay đổi
tập quán canh tác của nông dân, tiếp cận và làm chủ các quy trình sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nhắc đến các công trình nghiên cứu về rau an toàn ở các nước đang phát
triển, không thể không nói đến dự án VEGSYS do Uỷ ban châu Âu tài trợ kéo
18
dài 4 năm và kết thúc vào tháng 12 năm 2005. Với các đối tác có kinh nghiệm
như Viện dinh dưỡng đất Tứ Xuyên - Trung Quốc, Viện BVTV Tứ Xuyên -
Trung Quốc, Đại học Hanover Đức, Đại học Wageningen của Hà Lan tiến hành
trên lãnh thổ Việt Nam. Mục đích chung của dự án là góp phần vào việc phát
triển các hệ thống sản xuất rau quy mô nông hộ tại Đồng bằng sông Hồng Việt
Nam trên cơ sở không làm tổn hại nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Nhìn chung, nói đến tình hình nghiên cứu về RAT trên thế giới hiện
nay, người ta có thể chia ra làm hai lĩnh vực nghiên cứu tương ứng với trình
độ phát triển của các quốc gia. Nghiên cứu về công nghệ, cải tiến kỹ thuật,
các công việc liên quan đến marketting, tiếp thị sản phẩm đối với các quốc gia
có trình độ phát triển cao về khoa học kỹ thuật. Mặt khác, với các quốc gia
còn kém phát triển về khoa học kỹ thuật (các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ
Latinh…) tập trung nghiên cứu về khả năng áp dụng và xác định các khó
nghìn ha) gấp đôi so với 10 năm trước (1996 là 342,6 nghìn ha). Đây là một
trong nhóm cây trồng có tốc độ tăng diện tích gieo trồng nhanh nhất trong
một thập kỷ qua.
Năng suất rau năm 2006 đạt mức cao nhất là 14,99 tấn/ha tăng 10,2 %
so với năm 2001 (13,14 tấn/ha), bằng 95% so với trung bình toàn thế giới
(15,7 tấn/ha). Với khối lượng rau sản xuất trên đất nông nghiệp đạt 9.653 triệu
tấn năm 2006, bình quân lượng rau sản xuất đầu người ở nước ta 116
kg/người/năm tương đương bình quân toàn thế giới (120 kg/người/năm) gấp đôi
trung bình các nước ASEAN (57 kg/người/năm).
20
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất và sản lượng rau phân theo vùng
TT Vùng
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng (1000
tấn)
1999 2005 1999 2005 1999 2005
1 Cả nước 459,6 635,8 126 151,8 5792,2 9640,3
2 ĐB sông Hồng 126,7 158,6 157 179,9 1988,9 2852,8
3
Trung du
MNPB
60,7 91,1 105,1 110,6 637,8 1008
4 Bắc Trung Bộ 52,7 68,5 81,2 97,8 427,8 670,2
5
DH Nam Trung
Bộ
30,9 44 109 140,1 336,7 616,4
loại rau phong phú (gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao
(4,3 vụ/năm), trình độ thâm canh của nông dân khá, song mức độ không an
toàn của sản phẩm rau xanh và ô nhiễm môi trường canh tác rất cao.
- Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau
được trồng luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu. Tiêu thụ sản phẩm rất
đa dạng: phục vụ ăn tươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp
chế biến và xuất khẩu.
- Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu
được hình thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản
xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi
trường bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân
giống sản xuất các loại cây quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ của
Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trường.
Hai khu vực là Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long dẫn
đầu cả nước về diện tích và sản lượng sản xuất rau. Do những điều kiện thuận lợi
về thổ nhưỡng, khí hậu, trình độ tập quán canh tác nông nghiệp ở hai vùng này
cao hơn hẳn các vùng khác trong cả nước. Cục BVTV thuộc Bộ NN & PTNN cho
biết: trong tổng số trên 186.000 ha của 6 tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng,
22
Hưng Yên, Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc hiện có khoảng 16.000 ha sản xuất rau
an toàn, chiếm khoảng 8,4% [8].
2.2.4.2. Tình hình tiêu thụ
Rau an toàn Việt Nam chủ yếu sản xuất để tiêu dùng nội địa. Về mặt
giá trị, tiêu thụ rau an toàn chiếm khoảng 0,56% tổng chi tiêu bình quân của
các hộ gia đình.
Mức tiêu thụ RAT theo đầu người cũng có sự khác biệt đáng kể giữa
các vùng. Nếu như mức tiêu thụ rau an toàn chỉ có 7,5kg/năm ở vùng núi phía
Bắc thì tại hai thành phố lớn như: Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh mức tiêu
thụ lên tới 32,4 kg/người. Mức tiêu thụ bình quân ở các vùng đô thị nói chung
cũng ở mức 31-38,58 kg/người/năm, trong khi đó người dân nông thôn chỉ
theo cách thức thông qua các chợ bán lẻ, chợ bán buôn hay giao theo hợp
đồng. Tại các tỉnh phía Nam cũng đều áp dụng các phương thức trên ngoài ra
còn áp dụng thông qua những người bán buôn nhỏ lẻ trung gian.
2.3.Những bất cập và tồn tại của sản xuất RAT ở nước ta
2.3.1. Những bất cập trong sản xuất rau an toàn
- Kinh phí sản xuất rau an toàn còn dàn trải, có khi còn hạn chế bởi
kiến thức và cả lương tâm nghề nghiệp. Việc triển khai sản xuất rau an
toàn ngoài đồng ruộng với diện tích quá ít nên còn bị lẫn sản phẩm rau an
toàn và không an toàn.
- Chưa liên doanh, liên kết các hộ sản xuất rau an toàn với nhau ngay
trong một vùng miền.
- Nhiều vùng sản xuất rau an toàn mặc dù thu được một số kết quả
đáng khích lệ nhưng vẫn chưa có thương hiệu hoặc có thì cũng chưa có thị
trường để tiêu thụ.
24
- Việc sản xuất rau an toàn còn mang tính hình thức chứ chưa mang
tính thực tiễn sản xuất phục vụ nhân dân.
- Một số nơi, cán bộ phụ trách hướng dẫn sản xuất rau an toàn còn thiếu
trách nhiệm, nông dân sản xuất chưa vì lợi ích chung mà chủ yếu mang tính tự phát.
- Quy trình sản xuất rau an toàn thực sự vẫn chưa đáp ứng được nhu
cầu đòi hỏi của đời sống hiện nay là rau có chất lượng cao, đảm bảo an toàn.
Quy trình tạm thời do Bộ NN & PTNT ban hành mới chỉ là quy trình kỹ thuật
chứ chưa phải là quy trình thống nhất trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện
để ra sản phẩm rau an toàn thực sự theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt
của châu Âu (EurepGAP).
2.3.2.Những tồn tại chính của sản xuất rau an toàn
- Chất lượng rau kém do nông dân vẫn sử dụng thuốc hóa học với mục
đích kích thích ra hoa, ra quả trái vụ hoặc làm đẹp mẫu mã sản phẩm rau.
- Chưa có thương hiệu sản phẩm rau an toàn, thậm chí nhãn hiệu, mẫu
mã bao bì cũng chưa đăng ký mã số, mã vạch.
Nhưng cho dù định nghĩa nào đi nữa cũng không thể tách rời khỏi quan
điểm cốt lõi là: thị trường bao gồm toàn bộ sự trao đổi hàng hóa, được diễn ra
trong một thời điểm và một không gian nhất định.
* Vai trò của thị trường trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Thị trường có vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu của người sản xuất kinh
doanh, vừa là môi trường của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa nông
nghiệp. Trên thị trường, người mua, người bán, người trung gian gặp nhau
trao đổi hàng hóa, dịch vụ.