LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những kết
quả và số liệu trong khóa luận tốt nghiệp được thực hiện ở HTX DVTH NN
Đặng Xá không sao chép bất kì nguồn nào khác. Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm
trước nhà trường về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày 04, tháng 06, năm 2014
Người thực hiện khóa luận
Nguyễn Thị Hoài
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô
Nguyễn Thị Minh Thu, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận
tốt nghiệp.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Kinh Tế Và PTNT,
Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4
năm học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là
nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em
bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Em chân thành cảm ơn tất cả các cô, chú, anh, chị cán bộ HTX Đặng Xá
đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại đây. Em xin gởi lời
cảm ơn đến Chú Nguyễn Tuấn Khanh, chủ nhiệm HTX DVNN TH Đặng Xá đã
giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu.
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành
công trong sự nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị
trong HTX Đặng Xá luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt
đẹp trong công việc.
Em xin chân thành cảm ơn!
SVTH: Nguyễn Thị Hoài
ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ RAU AN TOÀN TẠI XÃ
bán cho các bếp ăn, nhà hàng, siêu thị, phần còn lại các hộ tụ mang ra chợ bán
và để dành tiêu dùng trong gia đình.
Do ý thức được nguồn lợi mà RAT mang lại, diện tích canh tác RAT đang
ngày càng được mở rộng, từ 80 ha năm 2009 tăng lên 90 ha năm 2013, song
song với việc mở rộng quy mô sản xuất thì với việc được tham gia tập huấn
năng cao trình độ, kỹ năng thực hiện quy trình sản xuất mà năng suất tăng từ
191 tạ/ha lên 200 tạ/ha, bước đầu đã đáp ứng được một phần của thị trường
Thành phố Hà Nội.
Với tuổi đời chủ yếu từ 30 – 50 tuổi, các hộ gia đình trồng RAT đã được
UBND xã tuyên truyền, khuyến khích trồng RAT đối với vùng đã được quy
hoạch thành vùng trồng RAT. Thực hiện đúng quy trình kỹ thuật của trồng
RAT, các hộ đã tự đào giếng, bón phân chuồng hoai mục cho rau. Tuy nhiên
chủng loại RAT chưa đa dạng, còn phụ thuộc vào mùa vụ.
RAT của xã Đặng Xá đã được UBND Thành phố Hà Nội cấp chứng nhận,
RAT có giá cao hơn so với rau thường, đặc điểm này đã phần nào hạn chế khả
năng mở rộng thị trường tiêu thụ của rau. Bên cạnh đó người tiêu dùng chưa
phân biệt được các loại RAT và rau thường khác nhau như thế nào. Hiện nay,
chỉ phân biệt nhờ bao bì sản phẩm, nhưng bao bì này chỉ có chức năng đóng gói
khi đã được người tiêu dùng mua. Khâu bảo quản sau thu hoạch còn yếu, dẫn
đến thất thoát nhiều.
RAT hiện nay chủ yếu được hộ gia đình bán cho thương lái đến thu mua
tại ruộng, hoặc một phần mang đi bán lẻ trực tiếp tại các chợ. Đối với siêu thị,
nhà hàng RAT của xã Đặng Xá chưa được thu mua.
iv
Nhìn chung sản xuất RAT của xã Đặng Xá đã đạt yêu cầu, tuy nhiên vấn
đề tiêu thụ còn nhiều vướng mắc và chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cả sản xuất
và tiêu dùng như: Giống, Giá giống, Giá bán RAT, năng lực trình độ của người
sản xuất, khả năng nhận biết RAT của người tiêu dùng, thu nhập của người tiêu
dùng,….
Để khắc phục những khó khăn vướng mắc ấy chúng tôi đã đưa ra một số
DANH MỤC HỘP vi
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ vii
I MỞ ĐẦU 13
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích và sản lượng rau trên thế giới giai đoạn 2008 – 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2.2: Tốc độ phát triển bình quân của RAT hàng năm một số nước trên thế
giới giai đoạn 2000 – 2012 Error: Reference source not found
Bảng 2.3: Diện tích và sản lượng các loại rau trên toàn thế giới năm 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2.4: Diện tích, năng suất, sản lượng rau phân theo vùng giai đoạn 2005-2013
Error: Reference source not found
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng RAT cả nước giai đoạn 2008 – 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 3.1: Phân bố diện tích đất sử dụng ở Đặng Xá năm 2013 Error: Reference
source not found
Bảng 3.2: Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của xã Đặng Xá từ trước năm
2000 đến nay Error: Reference source not found
Bảng 3.3: Dân số và lao động của xã Đặng Xá năm 2013Error: Reference source
not found
Bảng 3.4: Kết quả SXKD của xã Đặng Xá qua 3 năm 2011-2013 Error:
Reference source not found
Bảng 4.1: Tình hình sản xuất rau của xã Đặng Xá giai đoạn 2009-2013 Error:
Reference source not found
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng RAT năm 2013 của xã Đặng Xá.Error:
Reference source not found
Bảng 4.3. Tình hình sản xuất các loại rau của xã giai đoạn 2011-2013 Error:
Reference source not found
Bảng 4.4: Nhân khẩu và lao động của hộ điều tra Error: Reference source not
Biểu đồ 4.7 Lý do trồng RAT của hộ điều tra xã Đặng Xá Error: Reference
source not found
Biểu đồ 4.8 Số lượng người tham gia tập huấn của hộ điều tra Error: Reference
source not found
Biểu đồ 4.9 Đối tượng tập huấn cho hộ điều tra xã Đặng Xá Error: Reference
source not found
Biểu 4.10 Lý do chọn mua giống của hộ điều tra xã Đặng Xá Error: Reference
source not found
ix
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1: Những điểm bán rau an toàn đang ngày một thu hẹp lại vì vắng khách
Error: Reference source not found
Hình 2: Một số hình ảnh về trồng rau an toàn ở xã Đặng Xá Error: Reference
source not found
Hình 3: Một số loại rau của hộ sản xuất RAT xã Đặng Xá Error: Reference
source not found
Hình 4: Mẫu bao bì RAT của các hộ trồng RAT xã Đặng Xá Error: Reference
source not found
Sơ đồ 4.1 : Hướng tiêu thụ rau an toàn ở Đặng Xá Error: Reference source not
found
x
DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1: Rau an toàn được bán ở nhiều nơi Error: Reference source not found
Hộp 4.2 Bây giờ vay vốn cũng không khó lắm đâu Error: Reference source not
found
Hộp 4.3 Tôi trồng RAT do UBND xã giới thiệu đấy Error: Reference source not
found
Hộp 4.4 Tôi không sắp xếp được thời gian để đi nghe tập huấn. .Error: Reference
source not found
Hộp 4.5: Tôi trồng RAT vì đảm bảo sức khỏe của mình và nhiều người khác nữa
muốn khẳng định rau xanh là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu bữa ăn
hàng ngày của con người. Rau là loại thực phẩm rất cần thiết, nó cung cấp
nhiều vitamin mà các thực phẩm khác không thể thay thế được như vitamin A,
B, C, D, E… và các loại axit hữu cơ, các chất khoáng như Ca, P, K…cần thiết
cho sự phát triển của cơ thể con người. Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn
giàu đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau lại càng
gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi
thọ vì rau xanh có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim, bệnh đường ruột, vitamin C
trong rau có tác dụng ngăn ngừa ung thư dạ dày, viêm lợi… Theo tính toán
của các nhà dinh dưỡng học, muốn cơ thể hoạt động bình thường cần cung cấp
2300-2500 kcal mỗi ngày, trong đó phải có 250-300 gam rau. Rau được dùng
hàng ngày với khối lượng lớn, do vậy vấn đề sản xuất và tiêu thụ rau luôn luôn
là đòi hỏi cấp thiết phục vụ đời sống con người. Sự phát triển của quá trình
công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự gia tăng nhanh dân số đã làm cho sản xuất
nông nghiệp nói chung và sản xuất rau an toàn nói riêng bị sức ép mạnh. Đất
đai bị thu hẹp, môi trường cho sản xuất rau an toàn bị ô nhiễm do phế thải từ
các khu công nghiệp và rác thải đô thị. Thêm vào đó, tập quán canh tác sản
xuất của người dân trong việc sử dụng phân bón, hóa chất thuốc bảo vệ thực
vật, nguồn nước tưới… không tuân thủ quy trình kĩ thuật đã làm chi sản phẩm
nông nghiệp mà đặc biệt là rau không được an toàn. Ngày nay, Việt Nam đang
trong xu hướng phát triển chung của thời đại, việc phát triển sản xuất tiêu
dùng những sản phẩm sạch, an toàn là vấn đề có tính cấp thiết vì sự phát triển
kinh tế, xã hội, môi trường và sức khỏe con người. Vì vậy sản xuất nông
nghiệp sạch và bền vững là hướng đi đúng đắn cho đất nước, trong đó ngành
rau là một bộ phận. Đặng Xá là một xã nằm trong vành đai thực phẩm của
thành phố Hà Nội với lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho sản xuất rau. Trong năm qua Đặng Xá đã cung cấp cho thị
trường khoảng 23 nghìn tấn rau xanh, sản xuất rau của Đặng Xá đạt hiệu quả
kinh tế khá. Giá trị canh tác 1 ha rau gấp 3-4 lần trồng lúa. Song một thực tế
mà người nông dân Đặng Xá đang phải đối mặt là tình trạng sản xuất manh
an toàn tại địa phương.
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất và
tiêu thụ rau an toàn tại địa phương trong thời gian tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các cơ sở sản xuất rau ở Đặng Xá để làm rõ sản xuất và tiêu thụ rau
tại địa phương.
- Tham vấn các tác nhân tham gia tiêu thụ rau tại địa phương như:
Người thu gom, người bán buôn…
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Nội dung
- Về sản xuất: Quy mô, tổ chức sản xuất, bố trí cơ cấu rau và các nhân
tố ảnh hưởng tới sản xuất rau an toàn ở Đặng Xá.
- Về tiêu thụ: Các hình thức, các kênh tiêu thụ, các tác nhân tham gia và
các nhân tố ảnh hưởng tới tiêu thụ rau an toàn ở Đặng Xá.
1.3.2.2. Phạm vi không gian
- Xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội với 3 thôn trọng điểm: Đổng
Xuyên, Hoàng Long, An Đà.
1.3.2.3. Phạm vi thời gian
- Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2010 đến năm 2013.
- Số liệu sơ cấp thu thập thông tin của năm 2013.
15
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ
RAU AN TOÀN
2.1 Một số vấn đề lý luận về sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Sản xuất.
* Có nhiều khái niệm về sản xuất. Sau đây là hai khái niệm chính:
Theo giáo trình Phân tích kinh tế nông nghiệp, trường ĐH Nông Nghiệp
I (1996): Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất và dịch vụ. Trong sản
tượng sản xuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ phục vụ đời sống con người.
2.1.1.2 Tiêu thụ và kênh tiêu thụ
a) Tiêu thụ sản phẩm được coi là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản
xuất, là quá trình chuyển hóa quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa, dịch vụ giữa
các chủ thể kinh tế. Quá trình tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ được chuyển từ hình
thái vật chất sang hình thái tiền tệ, vòng quay chu chuyển vốn của đơn vị sản
xuất kinh doanh được hoàn thành. Tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ trên
thị trường được cấu thành bởi rất nhiều các yếu tố khác nhau bao gồm:
- Chủ thể tham gia vào quá trình tiêu thụ là người sản xuất, kinh doanh
các hàng hóa dịch vụ và các tác nhân trung gian trong khâu tiêu thụ.
- Đối tượng tiêu thụ là: Sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ.
* Ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm:
- Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(1986), nền kinh tế nước ta
chuyển từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Cùng với sự đổi
mới tư duy kinh tế, các hoạt động, các quan hệ kinh tế đều được thương mại
hóa và như vậy tiếng nói của thị trường bắt đầu phát huy tác dụng, các doanh
nghiệp đã được đặt vào đúng vị trí của mình, có quyền chủ động sản xuất kinh
doanh. Vì vậy, những hoạt động kinh doanh trên thị trường diễn ra sôi động
với sự cạnh tranh gay gắt, chiến lược tiêu thụ sản phẩm thể hiện rõ vai trò ở
những mặt sau:
17
- Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khâu sản xuất và khâu tiêu thụ có
mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau, ý nghĩa quan trọng
của sản xuất là ở chỗ nó tạo ra sản phẩm xã hội và phục vụ cho tiêu dùng xã
hội. Tiêu thụ tạo ra mục đích và là động cơ mạng mẽ thúc đẩy sản xuất phát
triển. Nó định ra khối lượng, cơ cấu, chất lượng sản phẩm và quy mô sản xuất
của doanh nghiệp. Việc định ra kế hoạch sản xuất cái gì, với khối lượng bao
nhiêu, chất lượng như thế nào phải căn cứ vào khả năng tiêu thụ sản phẩm trên
thị trường. Nếu sản xuất ồ ạt không tính đến tiêu thụ sẽ dẫn tới tình trạng ế
- Các thành viên tham gia kênh tiêu thụ: Người sản xuất, người thu
gom, người bán buôn, người bán lẻ, người tiêu dung.
* Có thể khái quát qua các kênh tiêu thụ chủ yếu như sau:
- Kênh trực tiếp: Là kênh cấp không, bao gồm người sản xuất và người
tiêu dùng/ người sử dụng cuối cùng, không qua tác nhân trung gian nào.
- Kênh gián tiếp: gồm 3 kênh chủ yếu sau
+ Kênh 1 cấp, bao gồm: một tác nhân trung gian là người bán lẻ.
+ Kênh 2 cấp, bao gồm: hai tác nhân trung gian là người bán buôn, và
người bán lẻ.
+ Kênh ba cấp, bao gồm: ba tác nhân trung gian là người bán buôn,
người môi giới và người bán lẻ.
2.1.1.3 Rau an toàn
Rau an toàn là rau không chứa các độc tố và các tác nhân gây bệnh, an
toàn cho người và gia súc. Sản phẩm rau xem là an toàn khi đáp ứng được các
yêu cầu sau: hấp dẫn về hình thức, tươi sạch không bụi bẩn và lẫn tạp chất, thu
đúng độ chin khi có chất lượng cao nhất, có bao bì hấp dẫn.
Khái niệm rau an toàn bao hàm rau có chất lượng tốt, với các hóa chất
bảo vệ thực vật, các kim loại nặng(Cu, Pb, Cd, As), nitrat cũng như các vi sinh
vật có hại đối với sức khỏe của con người ở dưới mức các tiêu chuẩn cho phép
theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn của FAO, WTO. Đây là các chỉ tiêu
quan trọng nhất nhằm xác định mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm cho mặt
hàng rau quả sạch.
• Những quy định về sản xuất rau an toàn:
19
Ngày 19/01/2007, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
đã ban hành quyết định số 04/2007/QĐ-BNN về việc ban hành “ quy định về
sản xuất và chứng nhận rau an toàn”. Cụ thể là những sản phẩm rau tươi bao
gồm tất cả các loại rau ăn than, lá, củ, hoa và quả có chất lượng đúng như đặc
tính của nó, hàm lượng các hóa chất độc hại và mức độ ô nhiễm các vi sinh
vật gây hại ở mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng
sản xuất.
Tạo cho nông dân có thói quen khi tiếp cận với các tiến bộ kĩ thuật mới.
Sản xuất rau an toàn theo đúng quy trình kĩ thuật không chỉ bảo vệ sức
khỏe người tiêu dùng, người sản xuất mà còn có tác dụng bảo vệ thiên địch,
bảo vệ cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, làm cho đất, nước, khôn khí
không bị ô nhiễm do dư thừa các hóa chất độc hại.
Tóm lại, sản xuất rau an toàn có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, nó cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, nguyên
liệu cho chế biến và sản phẩm cho xuất khẩu, góp phần tăng sản lượng nông
nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho nông dân,
giải quyết việc làm cho người lao động, tận dụng đất đai, điều kiện sinh thái.
2.1.2.2 Một số đặc điểm trong sản xuất rau an toàn
Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp, sản xuất rau an
toàn còn có những đặc điểm sau:
- Rau là loại cây trồng ngắn ngày, phần lớn các loại rau có thể trồng
được nhiều vụ trong 1 năm. Cải ngọt, cải canh từ khi gieo đến khi thu hoạch
21
trong khoảng 30-40 ngày, thậm chí gieo trong nhà lưới chỉ cần sau 21 ngày đã
cho thu hoạch; cải bắp 75-90 ngày; một số loại rau gia vị, xà lách chỉ cẩn 19-
20 ngày đã cho thu hoạch… Một số loại rau còn có ưu điểm trồng 1 lần cho
thu hoạch trong nhiều lứa như cà chua, các loại đậu, dưa chuột… tuy nhiên do
thời gian sinh trưởng ngắn nên sản phẩm thu hoạch rau an toàn khá tập trung.
- Sản xuất rau an toàn đòi hỏi phải đầu tư nhiều công lao động, khác với
những cây trồng khác, rau luôn đòi hỏi công chăm sóc cao, vì rau là loại cây
trồng dễ bị sâu bệnh, đòi hỏi nhiều nước tưới và dinh dưỡng hơn cây trồng
khác. Nếu người sản xuất không chăm sóc thường xuyên và đúng cách thì sẽ
không đạt hiệu quả như mong muốn. Đầu tư kĩ thuật vật chất lớn hơn các loại
cây trồng khác do chi phí sản xuất lớn.
- Rau an toàn là sản phẩm tươi xanh nhiều chất dinh dưỡng khả năng nhiều
sâu bệnh hại. Quá trình canh tác sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật. Đây là vấn
tỷ lệ hư hỏng trong quá trình bảo quản cao. Bởi vậy tiêu thụ rau trên thị trường
chủ yếu vẫn là rau tươi.
Rau là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, trong số gần 700
triệu tấn rau sản xuất hằng năm trên thế giới, gần 20% tổng số rau được chế
biến công nghiệp ở các dạng đồ hộp, sấy khô, nước uống. Sản phẩm rau sau
chế biến phong phú, dễ bảo quản, vận chuyển, tiện sử dụng và hiệu quả kinh tế
cao.
2.1.4 Nội dung nghiên cứu về sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
* Về số lượng sản xuất rau
- Đó là quy mô, diện tích trồng rau, hệ số sử dụng đất.
- Số lượng, chủng loại rau, năng suất rau trên một đơn vị diện tích trong
từng vụ và cả năm.
* Về chất lượng sản xuất rau
23
- Phải là ngành sản xuất có hiệu quả cao, bao gồm: Hiệu quả kinh tế cao
cho người sản xuất. Hiệu quả xã hội: Cung cấp các loại rau có chất lượng an
toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Hiệu quả môi trường: Không gây ô
nhiễm môi trường, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững.
- Phải là ngành sản xuất tiên tiến: có tỷ lệ ứng dụng các tiến bộ kĩ thuật
cao, bao gồm: giống, kĩ thuật canh tác, bảo quản chế biến sau thu hoạch…
* Về tổ chức sản xuất và cung ứng cho thị trường
- Do nhu cầu tiêu dùng rau an toàn rất lớn và đa dạng, việc sản xuất
manh mún nhỏ bé không đáp ứng được yêu cầu khối lượng lớn, chất lượng,
tính đều đặn, độ đồng đều của sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm và phù
hợp cho chế biến. Điều này chỉ có thể giải quyết được với hình thức sản xuất
tập trung chuyên môn hóa, bên cạnh đó rất cần sự hợp tác giữa các cơ sở trong
sản xuất và cung ứng rau cho các đối tượng khách hàng khi có yêu cầu lớn về
khối lượng, chất lượng, đảm bảo tính đều đặn và đồng đều trong cung ứng sản
phẩm…
- Quy hoạch hợp lý vùng sản xuất rau bao gồm: quy hoạch tổng thể và
Thu nhập nói lên mức sống của người tiêu dùng, thu nhập thấp thì sức
mua của người tiêu dùng giảm và ngược lại. Có thu nhập cao, người tiêu dùng
sẵn sang chi trả với giá cao hơn và mua nhiều hơn các loại rau có chất lượng
cao như ngô bao tử, ớt ngọt, dưa chuột bao tử… và các loại rau trái vụ như cà
chua, bắp cải phục vụ nhu cầu quanh năm của họ.
Tập quán sản xuất: Liên quan tới chủng loại rau, giống, kĩ thuật canh
tác, thu hoạch. Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng, giá
trị thu được trên một đơn vị diện tích.
Thị trường và các chính sách nhà nước: Trong nền kinh tế thị trường,
cầu – cung là yếu tố quyết định đến sự ra đời và phát triển một ngành sản xuất
hay một hàng hóa, dịch vụ nào đó. Người sản xuất chỉ sản xuất những hàng
25