TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
oOo
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 13:
QUAN ĐIỂM VỀ CÁCH TRỊ QUỐC
CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI CỒ ĐẠI
SVTH: NGUYỄN THỊ BẢO NGỌC
STT: 68
Nhóm: 5
Lớp: Cao học Đêm 1 – K20
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
Tp.Hồ Chí Minh, 2011
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 2
CHƯƠNG II: TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 8
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN 13
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những vấn đề khá quan trọng trong sự phát triển của xã hội là
“vấn đề về trị quốc”. Một quốc gia phồn thịnh hay suy vong đều phụ thuộc vào
đường lối, chiến lược trị quốc. Quan điểm của các nhà triết học qua các thời kỳ
khác nhau (cổ đại, trung đại và hiện đại) cũng khác nhau. Các quan điểm được
phát triển trên từ đơn giản đến phức tạp, từ bức tranh duy vật đến duy tâm. Mỗi
tư tưởng triết học đều có nhiều quan điểm về các khía cạnh vũ trụ quan, nhận
thức luận, đạo đức, chính trị, xã hội.
Trong phạm vi đề tài này, bài viết này chỉ đi sâu vào quan điểm trị quốc của
các nhà triết học thời kỳ cổ đại. Tuy chỉ là một mảng nhỏ trong nội dung của các
lạc, Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền
bá các tư tưởng đó. Do đó, sau này ông được xem là người sáng lập ra Nho giáo.
Nho gia là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội
có hiệu quả, cần phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng
này gọi là quân tử. Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người ta
trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử
phải có bổn phận phải "hành đạo". Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia
đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống
nhất thiên hạ).
Về tu thân, Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ
đức để làm chuẩn mực cho mọi vấn đề sinh hoạt trong xã hội. Tam cương và
ngũ thường là chuẩn mực đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và Tứ đức là
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 2
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
chuẩn mực đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng xã hội mà có mọi
người tuân theo tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được trật tự,
thái bình.
Về hành đạo, Khổng Tử đưa ra học thuyết về Nhân-Lễ-Chính danh. Nhân là
tình người, người có nhân là người biết yêu thương người khác, phải cai trị bằng
tình người. Khổng Tử từng nói "Mình muốn lập thân thì phải giúp người khác lập
thân, mình muốn thành đạt thì phải giúp người khác thành đạt”. Chính danh ở
đây có nghĩa là mang danh nào thì phải thực hiện cho được những điều mà danh
đó quy định. Tất cả phải có tôn ti, thực hiện đúng bổn phận của mình. Nếu tất cả
mọi người đều chính danh, xã hội tất yếu sẽ thái bình, trật tự, không loạn lạc.
Chính bởi thế mà câu nói "Nếu danh không chính thì lời nói không thuận. Lời nói
không thuận tất việc chẳng thành" của Khổng Tử đến giờ vẫn thường được mọi
người nhắc lại. Nói một cách ngắn gọn hơn, quan điểm này đã được những người
sáng lập tóm gọn trong 9 chữ: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
3. Triết học Đạo gia
Đạo gia là một trong sáu học phái lớn trong nền triết học Trung Quốc cổ đại,
tiến. Người quản thống quốc sự nên dựa trên căn bản hữu dụng (thực lợi) để đánh
giá tất cả các chính sách; nếu việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, nhưng nếu
không có lợi cho nhân dân thì không làm. Lãnh tụ quốc gia khi đánh giá cái
'dụng' của sự việc cũng không nên quên đi 'nghĩa'. Theo Mặc Tử thì 'muôn việc
không việc gì quý bằng nghĩa' (vạn sự mạc quý ư nghĩa) và 'nghĩa là lợi' (nghĩa,
lợi dã)
Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn quan của Mặc Tử là hành sử theo
minh ý của trời, phải biết thương dân chứ không phải tin vào bói toán một cách
mù quáng. Lãnh tụ quốc gia không thể ích kỷ để chỉ lo tư lợi mà phải tận tình
chăm lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt được sung túc và hạnh phúc, tuyệt
đối không ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân. Sách lược quốc trị tốt nhất cho dân tộc
là sách lược bác ái bao gồm các chính sách khuyến khích tinh thần bác ái trong
quốc gia và cả chính sách ngăn chận sự căm thù trong xã hội.
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 4
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
Trong lãnh vực quốc trị, Mặc Tử chủ trương lãnh đạo quốc gia phải biết
trọng dụng nhân tài bất kể là họ có liên hệ gia tộc hay đảng phái hay không, đưa
ra quan niệm bình đẳng hóa xã hội, phản đối hệ thống phân chia giai cấp đương
thời và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của thành phần quý tộc
qua cách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các trách vụ quan
trọng.
Về lãnh vực tài chánh, Mặc Tử chủ trương chính sách tiết kiệm, đòi hỏi lãnh
đạo quốc gia phải biết giới hạn những chi tiêu xa hoa có tính cách khoe khoang
nhưng không đem lại ích lợi gì cho nhân dân hay quốc.
5. Triết học Pháp gia
Phương Đông được coi là nơi khởi nguồn của nền văn minh nhân loại, với
nhiều thành tựu vĩ đại trong lịch sử Trung Quốc đứng trong hàng ngũ bốn nước
cổ đại có nền văn minh rực rỡ và lâu đời, là cái nôi sớm nhất của văn minh nhân
loại. Về tư tưởng, lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được nói đến nhiều
nhất: Xuân Thu (770 – 403 TCN) là thời kỳ sinh sống của Lão Tử và Khổng Tử
Pháp". Tính cách của pháp luật theo Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia,
là vua tượng trưng cho quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp,
tư pháp. Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải dựa trên những nguyên tắc chính
như: 1- Pháp luật phải hợp thời; 2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ
thi hành; 3- Pháp luật phải công bằng; 4- Pháp luật có tính cách phổ biến. Với
Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận, phải
trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đều
lấy pháp làm chuẩn. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
"Thuật" trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược, thủ đoạn trong
việc tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó pháp
luật được thực hiện và nhà vua có thể "trị quốc bình thiên hạ". Theo Hàn Phi,
“Thuật” có hai khía cạnh: Kỹ thuật, là phương án để tuyển, dùng, xét khả năng
quan lại; Tâm thuật tức mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ
ra. Nói ngược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người; Ngầm hại
những kẻ bề tôi mình không cảm hóa được…
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 6
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
Cũng như Tâm thuật, Kỹ thuật được Hàn Phi rất coi trọng, đặc biệt là thuật trừ
gian và dùng người.
Sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước của Trung Quốc lúc bấy giờ đòi
hỏi tư tưởng pháp trị phải phát triển lên một trình độ mới trong đó tư tưởng về
"Thế", "Thuật", "Pháp" vừa được phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhau
trong một học thuyết duy nhất. Hàn Phi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử
đó. Tư tưởng chủ đạo của Pháp gia là muốn trị nước, yên dân phải lấy pháp luật
làm trọng và nếu dùng pháp trị thì xã hội có phức tạp bao nhiêu, nước có đông
dân bao nhiêu thì vẫn "trị quốc bình thiên hạ" được.
Pháp gia của Hàn Phi Tử được coi là trường phái triết học đầu tiên chủ
trương dùng phép trị để trị nước. Học thuyết chính trị của Pháp gia đã được Tần
Thủy Hoàng vận dụng, kết quả đã đưa nước Tần đến thành công trong việc thống
nhất được đất nước Trung Quốc sau những năm dài chiến tranh khốc liệt.
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 8
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
Đặc điểm thứ nhất, triết học Hy Lạp cổ đại là sự kết tinh những gì tinh tuý
nhất của nhận thức nhân loại từ phương thức sản xuất thứ nhất đến phương thức
sản xuất thứ hai ở phương Tây. Vì vậy ở đó đã dung chứa hầu hết các vấn đề cơ
bản của thế giới quan và là một hệ thống tập hợp các tri thức về tự nhiên, về con
người, mặc dầu chưa thoát khỏi trạng thái phôi thai mộc mạc nhưng cũng vô
cùng phong phú, muôn hình muôn vẻ…
Đặc điểm thứ hai, triết học Hy Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người,
khẳng định con người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới. Mặc dù
vậy, con người ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ở
khía cạnh đạo đức, giao tiếp và nhận thức.
Đặc điểm thứ ba, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và
biện chứng sơ khai, cố gắng giải thích các sự vật hiện tượng trong một khối duy
nhất thường xuyên vận động và biến đổi không ngừng. Với ý nghĩa đó, những tư
tưởng biện chứng của triết học Hi Lạp cổ đại đã làm thành hình thức đầu tiên của
phép biện chứng.
2. Quan điểm Đêmocrit
Đêmôcrit - nhà bác học toàn năng và nhà triết học duy vật lớn nhất của Hy
Lạp cổ đại, sinh trưởng ở Apđerơ, một thành phố thực dân địa của Hi Lạp ở xứ
Tơraxia, ven bờ phía Bắc của biển Êgiê.
Đêmôcrit là đại biểu xuất sắc nhất của nền triết học Hy Lạp cổ đại. Ông là
học trò của Lơxíp và là người kế tục tư tưởng của Lơxip về nguyên tử và phát
triển nó thành một học thuyết gắn liền với tư tưởng của ông.
Nổi bật nhất trong triết học của Đêmôcrít là học thuyết về nguyên tử. Khái
niệm nguyên tử được xây dựng trên cơ sở các khái niệm về “tồn tại” và “không
tồn tại”. Trái với quan niệm của Platon thì tồn tại theo Đêmôcrít là cái xác định
được, cái đa dạng, cái có ngoại hình.
Đối lập với cái tồn tại là cái không tồn tại hay cái trống rỗng. Cái trống rỗng
là cái không xác định, cái vô hình, bất động và vô hạn. Nó không ảnh hưởng gì
điểm tiến bộ về mặt đạo đức. Phẩm chất con người theo ông không phải ở lời nói
mà ở việc làm. Mục tiêu của con người, theo ông là hướng tới tự do và hạnh
phúc, nhưng hạnh phúc không phải là sự giàu có, mà là sự thanh thản tâm hồn
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 1 0
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
được tự do. Về vấn đề tôn giáo, Đêmôcrít và các nhà nguyên tử luận nghiêng về
lập trường vô thần.
3. Quan điểm Platon
Platon (427-347) tên thật là Aristoclès. Sinh trong một gia đình dòng dõi quý
tộc tại Athènes. Ông đã từng theo học với Socrate và trở thành một người đệ tử,
một người bạn trung thành đắc lực cho Socrate. Việc Socrate mất đã tác động
mạnh mẽ tới tâm thức Platon và từ đó ông thù ghét tư tưởng dân chủ, thù ghét
quần chúng và cả giai cấp quý tộc của ông. Ông viết rất nhiều tác phẩm có giá trị
cho nhân loại cả về triết học lẫn chính trị. Trong những tác phẩm của ông, nổi
tiếng và đặc biệt nhất là tác phẩm Cộng Hoà (Republic). Có thể nói đó là một
cuốn bách khoa toàn thư vô cùng giá trị trong lịch sử nhân loại.
Quan niệm về Quốc gia lý tưởng
Toàn bộ những tư tưởng về chính trị xã hội của Platon được gói gọn trong
mô hình “Quốc gia lí tưởng” mà ông đã dày công gầy dựng suốt cả cuộc đời.
Trong mô hình quốc gia lí tưởng ấy ta thấy nó thể hiện đầy đủ tất cả các vấn đề
của đời sống mà xã hội chúng ta ngày hôm nay vẫn còn đang băn khoăn suy
nghĩ. Đó là một quốc gia trong đó mọi người luôn được sống êm đềm hạnh phúc,
đầy đủ và thoả mãn với những gì mà họ đã tạo ra.
Xã hội trong quốc gia lí tưởng của Platon được phân chia thành ba giai cấp
rõ rệt tương ứng với từng bản tính và chức năng của mỗi giai cấp: giai cấp lãnh
đạo tức là những triết gia trí thức, hai là giai cấp chiến binh tức là những người
tham gia vào quan đội cảnh sát và ba là giai cấp thương nhân tức là những người
buôn bán và sản xuất lương thực. Quốc gia lí tưởng của Platon là một quốc gia
cộng sản triệt để trong đó, tất cả mọi cái đều được gom vào thành của chung. Tất
cả lợi ích là vì xã hội, nhà nước. Người lãnh đạo lý tưởng tất nhiên không ai khác
Điểm tương đồng thứ nhất, xây dựng một xã hội có sự phân biệt giai cấp. Xã
hội đại đồng trong tư tưởng Nho giáo của triết học Trung Quốc không phải là
một xã hội không chia giai cấp và mọi người đều bình đẳng. Với Khổng Tử,
người quân tử (giai cấp thống trị) được coi trọng hơn kẻ tiểu nhân (giai cấp bị
trị). Với Mạnh Tử, chế độ phân biệt đẳng cấp trong xã hội cần được duy trì, cho
rằng theo thiên mệnh con người ta ngay từ khi sinh ra đã có sự phân hoá thành
hai loại là lao tâm và lao lực, trong đó lao lực phải nuôi lao tâm, lao tâm thì trị
lao lực. Triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện ở tư tưởng của Platon, phân chia xã hội
thành ba loại người dựa trên ba bộ phận cấu thành linh hồn của con người: thứ
nhất là triết gia, thứ hai là chiến binh, thứ ba bao gồm nông dân, thợ thủ công,
thương gia.
Điểm tương đồng thứ hai, người quản lý nhà nước (giai cấp thống trị) phải
có tri thức, anh minh. Tư tưởng này thể hiện ở tư tưởng của Nho gia, yêu cầu
người quân tử - giai cấp thống trị phải tu thân, rèn luyện đạo đức, đồng thời phải
biết thi, thư, lễ, nhạc; Mặc gia với tư tưởng thượng hiền, tiến cử và sử dụng
người tài giỏi trong việc công, ai tài thì được làm quan, quan dốt kém thì bị phế
bỏ mà không kể họ thuộc giai cấp, tầng lớp nào. Trong triết học Hy Lạp cổ đại,
tư tưởng này thể hiện ở Xôcrát muốn duy lý hoá nhà nước, muốn những người
điều hành công việc quốc gia phải có tri thức, phải có hiểu biết. Đêmôcrít cũng
giống Xôcrát cũng muốn duy lý hoá nhà nước, ông ủng hộ nền dân chủ nhưng
không hạ thấp vai trò của lý trí.
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 1 3
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
Điểm tương đồng thứ ba, sự bình đẳng về tài sản. Trong mô hình về nhà
nước lý tưởng, xuất hiện tư tưởng của Platon đòi xoá bỏ sở hữu tư nhân, phải xây
dựng chế độ sở hữu công xã với tài sản chung, cha mẹ con cái chung, trên cơ sở
thực hiện một quy trình giáo dục, tuyển lựa đào tạo đặc biệt có chú trọng đến
thành phần tinh tuý trong xã hội. Tư tưởng này gần giống với tư tưởng của
Khổng Tử mong muốn xây dựng một xã hội đại đồng – xã hội thái bình ổn định,
mọi người được chăm sóc bình đẳng và mọi cái đều là của chung, là xã hội có
Điểm khác biệt thứ hai, trong triết học Trung Quốc cổ đại bên cạnh quan
điểm dùng pháp trị để quản lý nhà nước của Pháp gia, còn có tư tưởng dùng nhân
trị và đức trị của Nho gia và tư tưởng không can thiệp, vô vi của Đạo gia. Triết
học Hy Lạp không có quan điểm dùng nhân trị, đức trị hay là vô vi.
2. Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Trung Quốc
Nho gia coi những quan hệ chính trị - đạo đức là những nền tảng của xã
hội, trong đó quan hệ quan trọng nhất là quan hệ vua - tôi, cha - con và chồng -
vợ (gọi là Tam cương). Nếu xếp theo “tôn ti trên - dưới” thì vua ở vị trí cao nhất,
còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua - cha - chồng xếp ở hàng làm
chủ. Điều này phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho gia.
Ngoài ra, do ảnh hưởng điều kiện lịch sử, Nho gia hướng tới xây dựng xã hội lý
tưởng là “xã hội đại đồng”. Đó là một xã hội có trật tự trên dưới, là xã hội lý
tưởng của tầng lớp quý tộc, thị tộc cũ cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến
đang lớn lên. Đối với quan hệ vua tôi, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua
theo huyết thống và chủ trương “thượng hiền” không phân biệt đẳng cấp xuất
thân của người ấy. Nho giáo lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã
hội lý tưởng “đại đồng”. Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội,
cho nên, nền giáo dục dục Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức
con người. So với các học thuyết khác, nho gia là học thuyết có nội dung phong
phú và mang tính hệ thống hơn cả; hơn thế nữa nó còn là hệ tư tưởng chính thống
của giai cấp thống trị Trung Hoa suốt hai ngàn năm của xã hội phong kiến. Tuy
nhiên bên cạnh đó những tư tưởng của Nho gia cũng có một số hạn chế đó là lối
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 1 5
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
sống gia trưởng trong gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ. Trong gia đình
người cha, người chồng, người anh cả là người có quyền lực cao nhất, người phụ
nữ trong gia đình bị phụ thuộc hoàn toàn vào chồng, không có quyền tham gia
vào những việc đại sự trong gia đình. Đặc biệt đạo “tam tòng” (Tại gia tòng phụ,
xuất giá tòng phu, phu từ tòng tử), (ở nhà thì phải nghe theo cha, đi lấy chồng
theo chồng, chồng chết theo con) đã trói buộc người phụ nữ họ không có quyền
bang tế thế. Trong thời Mặc tử, ông cho rằng quy định các vị trí trong triều đình
chỉ dành cho con cháu trong triều, bất kể khả năng của họ, đây chính là căn
nguyên của sự nghèo khổ trong xã hội. Mặc Tử cũng nhấn mạnh tầm quan trọng
của nhân tài. Nhà cầm quyền nên kề cận với những con người tài năng, quý trọng
tài năng và thường xuyên tham khảo ý kiến của họ.Sách lược quốc trị tốt nhất
cho dân tộc là sách lược bác ái. Trong lãnh vực quốc trị, Mặc Tử chủ trương là
lãnh đạo quốc gia phải biết trọng dụng nhân tài bất kể là họ có liên hệ gia tộc hay
đảng phái hay không. Nhân tài giúp nước có thể xuất thân từ mọi giai cấp chứ
không nhất thiết là phải từ giai cấp quý tộc. Với chủ trương này, Mặc Tử đưa ra
quan niệm bình đẳng hóa xã hội. Ông phản đối hệ thống phân chia giai cấp
đương thời (mà ngay cả Nho giáo cũng chấp nhận như một sự kiện hiển nhiên)
và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của thành phần quý tộc qua
cách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các vị trí quan trọng trong
xã hội. Tư tưởng Kiêm ái của Mặc Tử là sự thể hiện tinh thần dân chủ bình đẳng
sơ khai và chủ nghĩa vị tha trong triết học của ông. Nó phản ánh sâu sắc ước mơ
của đại đa số nhân dân lao động nước Tàu thời bấy giờ. Chính vì thế mà Triết
học Mặc Tử không được coi là công cụ tinh thần đắc lực của kẻ thống trị, không
được giới thống trị ủng hộ, nên dần dần chìm vào quên lãng
Nếu Nho gia chủ trương dùng nhân nghĩa, Mặc gia chủ trương dùng kiêm
ái, Đạo gia chủ trương dùng vô vi, thì Pháp gia lại chủ trương pháp trị. Theo ông,
người thống trị phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lịch sử, dựa vào đặc
điểm của thời thế mà lập ra chế độ, đặt ra chính sách, vạch ra cách trị nước sao
cho thích hợp. Ông cho rằng, không có một thứ pháp luật nào luôn luôn đúng với
mọi thời đại. Pháp luật mà biến chuyển được theo thời đại thì thiên hạ trị, còn
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 1 7
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
thời thế thay đổi mà phép trị dân không thay đổi thì thiên hạ loạn. Phép trị quốc
của Hàn Phi Tử là một học thuyết có nội dung hoàn chỉnh được tổng hợp từ
pháp, thế và thuật; trong đó, pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật
là phương tiện để thực hiện chính sách đó. Cả ba pháp, thế, thuật đều là công cụ
khơng được vượt ra ngồi pháp luật. Khổng Tử quan điểm dùng đường lối nhân
trị để điều hòa mâu thuẫn. Trong khi đó, Đạo gia theo quan điểm vơ vi. Vơ vi có
nghĩa là con người sống theo lẽ tự nhiên, khơng hành động trái với bản chất của
tự nhiên, khơng làm trái với quy luật của tự nhiên. Đối với người cầm quyền, vua
ít can thiệp vào việc của dân, để dân thuận theo tự nhiên mà sống, dân sẽ vui vẻ,
n ổn phát triển theo bản năng của họ. Nhà cầm quyền càng “hữu vi”, tức can
thiệp vào việc của dân bao nhiêu thì càng tai hại bấy nhiêu. Đã là vua phải phục
vụ dân, phải hy sinh cho dân.
Ngồi ra, Đạo gia còn có một điểm khác biệt nổi bật so với Nho gia và Pháp
gia, đó là khơng dùng luật pháp, khơng cần giáo dục nhân, lễ, nghĩa, trí. Lão Tử
chủ trương hạn chế quyền lực của Nhà nước và hoạt động của dân đến mức tối
đa, để cho dân sống chất phác thời ngun thủy, duy trì tình trạng nước nhỏ, dân
ít.
3. Ý nghĩa trị quốc của các tư tưởng triết học Hy Lạp
Về chính trị, Đêmơcrít và Platon có sự khác biệt rõ rệt. Đêmơcrít ủng hộ nền
dân chủ tiến bộ, còn Platon đề cao nền q tộc trị, cho rằng đất nước nên dược
điều hành bởi các nhà triết học.
Đêmơcrít đứng trên lập trường của phái chủ nơ dân chủ, kịch liệt chống lại
phái chủ nơ q tộc, bảo vệ nền dân chủ Aten chống lại chế độ chun chính.
Ơng đại diện cho giai cấp dân tộc chủ nô, ủng hộ việc thành lập nhà nước dân
chủ (quyền lực của nhân dân) và coi nó là hình thức cai trò ưu việt lúc bấy giờ.
Với ơng, chế độ nơ lệ là hợp lý. Ơng cho rằng “cái nghèo trong chế độ dân chủ
cũng q hơn cái hạnh phúc của cơng dân dưới thời qn chủ y như là tự do q
hơn nơ lệ”. Theo ơng, nhà nước có vai trò duy trì trật tự, điều hành mọi hoạt
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 1 9
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
động trong xã hội. Ông ca ngợi tình thân ái, tính ôn hòa, lợi ích chung và quyền
lợi chung của công dân tự do. Ông giống Xocrat ở chỗ là muốn duy lý hóa nhà
nước, muốn tất cả những người điều hành nhà nước phải là những người có trí
thức, phải có sự hiểu biết. Ông ủng hộ nền dân chủ nhưng không hạ thấp vai trò
huy tối đa hiệu suất làm việc.
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 2 1
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
KẾT LUẬN
Các quan điểm trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại có ảnh hưởng to lớn
đến hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ, chẳng hạn như học thuyết Pháp trị đã được
vương quốc Tần ra sức vận dụng trong bối cảnh xã hội Trung Hoa cuối thời
Chiến quốc. Bên cạnh đó, mặc dù các quan điểm trị quốc ra đời ở thời cổ đại
nhưng vẫn có ý nghĩa ở các thời đại khác. Đó là cơ sở và nền tảng cho các nhà
triết học hiện đại xây dựng quan điểm trị quốc trong thời nay. Ngoài ra, việc vận
dụng thực tiễn của các tư tưởng này trước đây là bài học kinh nghiệm quý báu
cho việc xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh hiện tại.
Bên cạnh ý nghĩa trị quốc, các tư tưởng này còn có tác dụng trong việc tự
đào tạo hoàn thiện bản thân. Các chuẩn mực đạo đức và con người trong các tư
tưởng triết học vẫn còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc vận dụng vào
thực tiễn nhất là trong văn hóa ứng xử trong đời sống xã hội và rèn luyện nhân
cách đạo đức con người.
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 2 2
Quan điểm về cách trị quốc của các nhà triết học thời cổ đại
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. Bùi Văn Mưa, Triết học Phần I Đại cương về Lích sử Triết học, 2010
2. TS.Bùi Văn Mưa, Triết học và Bức tranh Vật lý học về Thế giới, NXB
Đại học Quốc gia TPHCM, 2008
3. TS. Nguyễn Ngọc Thu – TS. Bùi Văn Mưa, Giáo trình Đại cương Lịch sử
Triết học, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh 9/2003
4. Trang web Diễn đàn Lịch sử Việt Nam
o/forum/forumdisplay.php?
s=4b468106963168f746952330d967dfa7&f=56
Nguyễn Thị Bảo Ngọc – Nhóm 5 Trang 2 3