BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 13 :
“QUAN NIỆM TRỊ QUỐC CỦA CÁC
NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐẠI”
SVTH : Võ Ngọc Bảo
STT: 67
Nhóm: 5
Lớp: Cao học Đêm 1 – K20
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Tp. Hồ Chí Minh, 2011
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
1. Triết học Nho Gia 3
2. Triết học Đạo gia 4
3. Triết học Mặc gia 6
4. Triết học Pháp gia 7
1. Giới thiệu 9
2. Đêmôcrít 9
3. Platông 11
1. Tư tưởng trị quốc của các trường phái triết học cổ đại Trung Quốc 14
2. Tư tưởng trị quốc của các triết gia Hy Lạp cổ đại 20
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 1
LỜI MỞ ĐẦU
Một quốc gia phồn thịnh hay suy vong đều phụ thuộc vào đường lối, chiến
lược trị quốc của giai cấp lãnh đạo. Các quan điểm chính trị này thường bắt
nguồn hoặc dựa trên các tư tưởng triết học. Quan điểm của mỗi nhà triết học, mỗi
thời kỳ lại mỗi khác.
Vào thời kỳ cổ đại, các tư tưởng triết học, các triết gia như trăm hoa đua nở
Chiến Quốc. Đây là thời đại tư tưởng được giải phóng, tri thức được phổ cập,
nhiều học giả đưa ra học thuyết của mình nhằm góp phần biến đổi xã hội, khắc
phục tình trạng loạn lạc bấy lâu nay. Có hàng trăm học giả với hàng trăm tác phẩm
ra đời, cho nên, thời này còn được gọi là thời Bách gia chư tử. Trong đó có 6 học
phái lớn là Âm dương gia, Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia.
1. Triết học Nho Gia
a. Giới thiệu sơ lược
Cơ sở của Nho gia được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng
góp của Chu Công Đán (hay Chu Công). Đến thế kỷ VI TCN, cuối thời Xuân
Thu, Khổng Tử (551-479 TCN) là người sáng lập Nho gia. Đến thời Chiến Quốc,
Nho gia bị chia thành tám phái trong đó mạnh nhất là hai phái của Mạnh Tử và
Tuân Tử, hai phái này hoàn thiện và phát triển Nho gia theo hai xu hướng khác
nhau là duy tâm và duy vật trong đó dòng Nho gia Khổng - Mạnh có ảnh hưởng
rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận. Sang thời
Tây Hán, Đổng Trọng Thư (179-104 TCN) dựa trên lợi ích giai cấp phong kiến
thống trị, khai thác lý luận Âm dương – Ngũ hành để hoàn chỉnh thêm Nho gia.
Kinh điển của Nho gia là Tứ thư (Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử)
và Ngũ Kinh (Thư, Thi, Lễ, Dịch, Xuân Thu).
b. Các quan điểm và học thuyết
* Học thuyết về Nhân – Lễ - Chính danh
Nhân: là yêu người, người có nhân là người biết yêu thương người khác,
điều gì mình không muốn thì đừng đem áp dụng cho kẻ khác.
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 3
Lễ: Là trật tự kỷ cương của xã hội, xã hội nào có trật tự có kỷ cương thì có
lễ, là những quy phạm đạo đức, những quy tắc cư xử hàng ngày và những nghi
thức nhất định trong tế lễ (lễ nghi).
Chính danh: Trong cuộc sống mỗi người, mỗi một thời điểm có một cái danh
nhất định, khi mang danh nào thì phải thực hiện cho bằng được những điều mà
danh đó quy định.
* Thiên mệnh
Đạo sinh ra vạn vật, đức nuôi nấng, bảo tồn vạn vật. Vạn vật nhờ đạo mà được
sinh ra, nhờ đức mà thể hiện, và khi mất đi là lúc vạn vật quay trở về với đạo. Đạo
sinh ra Một (khí thống nhất), Một sinh ra Hai (âm, dương đối lập), Hai sinh ra Ba
(trời, đất, người), Ba sinh ra vạn vật.
* Quan điểm biện chứng
Lão Tử cho rằng bất cứ sự vật nào cũng đều là thể thống nhất của hai mặt đối
lập. Chúng ràng buộc, bao hàm lẫn nhau và xung đột, đấu tranh, chuyển hóa lẫn
nhau tạo ra sự thay đổi, biến hoá không ngừng của vạn vật trong vũ trụ. Tuy nhiên,
theo Lão Tử, sự đấu tranh, chuyển hóa của các mặt đối lập này không làm xuất
hiện cái mới, mà là theo vòng tuần hoàn khép kín.
Lão Tử khẳng định càng tách xa đạo, xã hội càng chứa nhiều mâu thuẫn. Mâu
thuẫn là tai họa của xã hội. Vì vậy, để xoá bỏ tai họa cho xã hội, phải thủ tiêu mâu
thuẫn trong xã hội bằng cách đẩy mạnh một trong hai mặt đối lập để tạo ra sự
chuyển hóa theo quy luật phản phục, hay cắt bỏ một trong hai mặt đối lập để làm
cho mặt đối lập kia tự mất đi theo quy luật quân bình.
* Thuyết vô vi
Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không
gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên; là từ bỏ tính
tham lam, vị kỷ, tư lợi để không làm mất đức.
* Quan điểm trị quốc
Lão Tử cho rằng hành động hay nhất là đừng can thiệp đến việc đời; nhưng,
nếu đời cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làm một cách kín đáo, khéo léo.
Ông coi đây là giải pháp an bang tế thế. Bậc thánh nhân trị vì thiên hạ phải bằng lẽ
tự nhiên của đạo vô vi. Ông chủ trương xóa bỏ hết mọi ràng buộc về mặt đạo đức,
pháp luật đối với con người để trả lại cho con người bản tính tự nhiên vốn có. Lão
Tử mơ ước đưa xã hội trở về thời đại nguyên thuỷ chất phác, cô lập cá nhân với
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 5
xã hội để hoà tan con người vào đạo (tự nhiên). Ông chủ trương xây dựng nước
nhỏ, dân ít, có thuyền xe nhưng không đi, có gươm giáo nhưng không dùng, bỏ
văn tự, từ tư lợi, không học hành
a. Giới thiệu sơ lược
Quản Trọng (?-645 TCN) là người khởi xướng Pháp gia, chủ trương không
dùng nhân nghĩa mà dùng hình pháp để cai trị đất nước.
Sang thời Chiến Quốc, tư tưởng pháp trị được phát triển bởi: Thận Đáo (370-
290 TCN) chủ trương dùng thế, Thân Bất Hại (401-337 TCN) chủ trương dùng
thuật và Thương Ưởng chủ trương dùng pháp. Cuối thời Chiến Quốc, Hàn Phi
Tử (280-233 TCN) tổng hợp ba quan điểm và pháp, thế, thuật thành một học
thuyết có tính hệ thống và trình bày trong sách Hàn Phi Tử.
b. Các quan điểm và học thuyết
Thừa nhận tính quy luật của những lực lượng khách quan gọi là lý. Lý chi
phối mọi sự vận động của tự nhiên và xã hội. Ông yêu cầu con người phải nắm lấy
cái lý của vạn vật luôn luôn biến hóa mà hành động cho phù hợp.
Thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội nên không có khuôn mẫu chung
cho mọi xã hội. Người thống trị phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lịch sử,
dựa vào đặc điểm của thời thế mà lập ra chế độ, đặt ra chính sách, vạch ra cách trị
nước sao cho thích hợp. Ông cho rằng, không có một thứ pháp luật nào luôn luôn
đúng với mọi thời đại.
Do bản tính con người là ác và do trong xã hội người tốt cũng có nhưng ít, còn
kẻ xấu thì rất nhiều nên muốn xã hội yên bình, không nên trông chờ vào số ít,
mong chờ họ làm việc thiện (nhân nghĩa trị), mà phải xuất phát từ số đông, ngăn
chận không cho họ làm điều ác (pháp trị).
Phép trị quốc của Hàn Phi Tử là một học thuyết có nội dung hoàn chỉnh được
tổng hợp từ pháp, thế và thuật; trong đó, pháp là nội dung của chính sách cai trị,
thế và thuật là phương tiện để thực hiện chính sách đó. Cả ba pháp, thế, thuật đều
là công cụ trị nước của bậc đế vương.
Pháp được hiểu là qui định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong
xã hội phải tuân theo; là tiêu chuẩn khách quan để định rõ danh phận, trách nhiệm
của con người trong xã hội.
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 7
Thế được hiểu là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể. Địa
hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế
giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong
nó. Các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực
tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra những kết luận triết học.
Bốn là, tuy chưa trình bày chúng thành một hệ thống lý luận chặt chẽ nhưng
triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác.
Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người.
2. Đêmôcrít
a. Giới thiệu sơ lược
Sinh trưởng trong một gia đình chủ nô dân chủ ở thành Apđe, Đêmôcrít (460-
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 9
370 TCN) sớm tiếp xúc với nhiều nền văn hóa trong khu vực, am hiểu nhiều lĩnh
vực khoa học và viết khoảng 70 tác phẩm. Là bộ óc bách khoa đầu tiên của Hi
Lạp, là đại biểu kiệt xuất nhất của chủ nghĩa duy vật và tầng lớp chủ nô dân chủ
thời cổ Hi Lạp, Đêmôcrít đã xây dựng trường phái nguyên tử luận, một hệ thống lý
luận chặt chẽ và có sức thuyết phục.
b. Các quan điểm và học thuyết
* Thuyết nguyên tử
Theo ông, vũ trụ được cấu thành bởi hai thực thể đầu tiên là nguyên tử và chân
không. Nguyên tử là những hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy, không phân
chia được, không biến đổi, luôn vận động và tồn tại vĩnh viễn. Nguyên tử giống
nhau về chất nhưng khác nhau về hình dạng, về kích thước, về tư thế. Chân không
(không gian trống rỗng) không có kích thước và hình dáng, nhưng vô tận và duy
nhất; nó là điều kiện cần thiết cho sự vận động của nguyên tử. Trong chân không,
nguyên tử vận động theo nhiều hướng, nhiều kiểu. Các nguyên tử, khi cố kết tụ lại
thì sự vật được tạo thành, và khi chúng tách rời nhau ra thì sự vật biến mất.
Nguyên tử vận động trong chân không theo luật nhân quả mang tính tất nhiên
tuyệt đối. Trong thế giới, mọi sự vật, hiện tượng xảy ra đều theo lẽ tất nhiên; vì
vậy, bản tính thế giới là tất nhiên. Sự thiếu hiểu biết, sự bất lực trong nhận thức
của con người mới sinh ra cái ngẫu nhiên; ngẫu nhiên mang tính chủ quan.
chủ nô phải biết tự điều hành hoạt động của mình theo các chuẩn mực đạo đức và
pháp lý. Quản lý nhà nước phải coi như một nghệ thuật mang lại cho con người
hạnh phúc, vinh quang, tự do và dân chủ.
3. Platông
a. Giới thiệu sơ lược
Platông (427-347 TCN) sinh trưởng trong một gia đình chủ nô quý tộc ở thành
phố Aten. Ông là nhà triết học duy tâm khách quan kiệt xuất nhất thời cổ Hi Lạp
và cũng là đại biểu trung thành của tầng lớp chủ nô quý tộc. Platông chịu ảnh
hưởng bởi tư tưởng của Pácmênít, Pytago, đặc biệt là của Xôcrát. Platông là người
xây dựng Viện hàn lâm Aten và viết nhiều tác phẩm như Biện hộ cho Xôcrát, Đối
thoại, Bữa tiệc, Chế độ cộng hòa, Luật pháp Platông đã xây dựng chủ nghĩa duy
tâm khách quan với nội dung chính là thuyết ý niệm với giá trị bên trong là phép
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 11
biện chứng của khái niệm, và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức - chính trị -
xã hội.
b. Các quan điểm và học thuyết
* Thuyết ý niệm
Platông chia thế giới ra thành thế giới ý niệm (lý tính) tồn tại trên trời mang
tính phổ biến, chân thực, tuyệt đối, bất biến, vĩnh hằng, duy nhất và thế giới sự
vật (cảm tính) tồn tại dưới đất mang tính cá biệt, ảo giả, tương đối, khả biến,
thoáng qua, đa tạp Ý niệm là cái sản sinh, có trước, là nguyên nhân, là bản chất,
là khuôn mẫu của sự vật. Còn sự vật là cái được sản sinh, có sau, là cái bóng được
mô phỏng, sao chép lại từ ý niệm. Bất cứ sự vật nào cũng xuất hiện từ ý niệm và
có quan hệ ràng buộc với ý niệm…
Theo ông, sự sinh thành thế giới sự vật xảy ra gắn liền với 4 yếu tố cơ bản là:
tồn tại (ý niệm), không tồn tại (vật chất), con số (quan hệ tỷ lệ), sự vật cảm tính.
Chính sự tồn tại của ý niệm thông qua quan hệ tỷ lệ của các con số tác động vào sự
không tồn tại của vật chất sinh ra sự vật cảm tính. Thần tạo hóa đã kiến tạo ra thế
giới sự vật hữu hình cảm tính bằng cách mô phỏng theo thế giới ý niệm. Thần linh
là linh hồn vũ trụ; thần linh xuất hiện dưới dạng các tinh tú và chỉ được nhận thức
Nhà nước được hình thành nhằm đảm bảo cho sự phân công được thực hiện.
Tuy nhiên, chế độ sở hữu tư nhân lại làm cho nhà nước tha hóa, gây ra sự băng
hoại đời sống đạo đức, phá hoại tính hài hoà của xã hội. Vì vậy, cần phải xóa bỏ sở
hữu tư nhân; phải xây dựng chế độ sở hữu công xã với tài sản chung, cha mẹ con
cái chung, … trên cơ sở thực hiện một quy trình giáo dục đào tạo tuyển lựa đặc
biệt có chú trọng đến thành phần tinh túy trong xã hội. Theo Platông, chế độ xã hội
tốt nhất phải là chế độ cộng hòa quý tộc do một vị vua là triết gia tài ba nhất lãnh
đạo.
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 13
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN
1. Tư tưởng trị quốc của các trường phái triết học cổ đại Trung Quốc
Do tính chất lịch sử của thời đại mà triết học Trung Quốc cổ đại gắn liền với
chính trị xã hội, trị quốc an dân. Chiến tranh liên miên kéo dài, thời thế hỗn loạn
nên đơn đặt hàng của thời đại là các học thuyết giúp ổn định, xây dựng, trị vì đất
nước. Các trường phái triết học, các triết gia hình thành và phát triển như nấm
mọc sau mưa. Có nhiều tư tưởng đã trở thành giá trị bất hủ và ảnh hưởng sâu
rộng cho đến thời đại ngày nay.
a. Nho gia
Nói đến quan điểm trị quốc của Nho gia là nói đến đức trị. Đây là đường lối
trị quốc được dùng phổ biến trong các triều đại phong kiến Á Đông. Hơn thế nữa,
đối với các xã hội Á Đông đương đại, Nho học trong đó có tư tưởng "đức trị"
không phải hề là vấn đề cổ xưa, càng không phải là vấn đề đã hoàn toàn thuộc về
lịch sử. Trên thực tế sự hiện diện của Nho học với những mức độ khác nhau, vẫn
luôn luôn mang tính thời sự mới mẻ.
Khổng Tử quan niệm: "Làm chính trị (trị dân) mà dùng đức (để cảm hoá
dân) thì như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về cả (tức thiên
hạ về theo)". Trước sau ông vẫn nói rằng: "Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng
hình phạt để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ
thẹn. Dùng đạo đức để dắt dẫn dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân
biết hổ thẹn mà lại theo đường chính". Trong đó chú trọng đến đức nhân và lễ.
trên, nhạc là để hòa nhập trên dưới. Nhà cầm quyền phải làm gương để dân noi
theo. Ông quan niệm “Hữu giáo vô loài”: giáo dục không phân biệt, nghèo không
thu học phí, hạng thông minh đào tạo thành kẻ sỹ, có tư cách cao hơn đào tạo
thành người quân tử là những người trị dân có đủ tài, đủ đức.
Người quân tử là mẫu người với những tiêu chuẩn về tài đức xứng đáng
được nắm quyền trị dân. Đức của người quân tử là "lấy nghĩa làm gốc, theo lễ mà
làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên việc". Người quân tử còn phải
"thận trọng về lời nói, mau mắn về việc làm", thờ vua phải trung nhưng là trung
một cách sáng suốt "không nên lừa gạt vua, nhưng không ngại xúc phạm vua (mà
phải dám can gián)".
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 15
Có thể khẳng định đường lối đức trị của Khổng Tử "lấy đạo nhân làm gốc,
lấy hiếu - đễ, lễ - nhạc làm cơ bản cho sự giáo hoá, lấy việc thực hiện chính sách
"thân dân" làm cơ sở; lấy tư cách phẩm chất mẫu mực của người cầm quyền làm
gương để thực hiện "Đức trị", "Lễ trị", "Nhân trị" nhằm tạo lập một xã hội phong
kiến theo điển chế có trật tự, tôn ti.
Thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đã thừa kế, bảo vệ và phát triển tư tưởng của
Khổng Tử, nâng học thuyế nho gia lên một tầm mức mới trở thành Nho giáo
Khổng Mạnh.
Mạnh Tử nhận thức sâu sắc rằng dân vốn là gốc nước, có dân mới có nước,
có nước mới có vua, ý dân là ý trời, "dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.
Với các nhà cầm quyền, theo Mạnh Tử chỉ có một phương pháp nên theo: "Dân
muốn việc chi, nhà cầm quyền nên cung cấp cho họ. Dân ghét việc chi nhà cầm
quyền đừng thi thố cho họ".
Mạnh Tử quan tâm nhiều hơn đến các biện pháp kinh tế cụ thể nhằm tạo ra
cho dân số một sản nghiệp no đủ. Mạnh Tử đòi hỏi bậc minh quân phải "chế định
điền sản mà chia cho dân cày cấy, cốt khiến cho họ trên đủ phụng dưỡng cha mẹ,
dưới đủ nuôi sống vợ con, nhằm năm trúng mùa thì mãi mãi no đủ, phải năm thắt
ngặt thì khỏi nạn chết đói".
Đường lối đức trị của Nho giáo từ Khổng Tử tới Mạnh Tử lấy nhân nghĩa
nhiễu nhương, đầy cạm bẫy như thời Xuân Thu Chiến Quốc, có được một lẽ sống
riêng, hợp với bản chất chân thật của mình. Đồng thời tránh được lối phản kháng
bằng hành động phạm pháp cá nhân, hoặc bạo lực tập thể, khiến cho xã hội mà
mình đã bất mãn càng thêm hỗn loạn, rối ren. Đó là giá trị về xã hội. Tuy nhiên
Ccách sống dửng dưng, thoát tục, vị ngã của trường phái Đạo gia là một phản
ứng tiêu cực trước sự bế tắc của thời cuộc bấy giờ.
c. Mặc gia:
Quan điểm của Mặc Tử không chỉ khác với Đạo gia mà còn đối lập với Nho
gia cả về nội dung bản thể luận triết học và triết lý về đạo đức – chính trị – xã hội
lẫn nhận thức luận
Vẫn tin có trời nhưng Mặc Tử chống lại thuyết Thiên mệnh và đưa ra thuyết
Thiên ý – minh quỷ, trời muốn sự tốt đẹp yêu thương cho con người nhưng vận
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 17
mệnh là do con người quyết định. Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn quan
của Mặc Tử là hành xử theo minh ý của trời, tức phải biết thương dân chứ không
phải tin vào mệnh trời một cách mù quáng. Lãnh tụ quốc gia không thể ích kỷ để
chỉ lo tư lợi mà phải tận tình chăm lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt được
sung túc và hạnh phúc, tuyệt đối không ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân. Sách lược
trị quốc tốt nhất cho dân tộc là sách lược bác ái bao gồm các chính sách khuyến
khích tinh thần bác ái trong quốc gia và cả chính sách ngăn chận sự căm thù
trong xã hội – thuyết kiêm ái, tức là không chỉ là yêu hết thẩy mọi người (không
phân biệt người thân – sơ, trên – dưới, làng mình - làng người, nước mình - nước
ngoài) như thể yêu mình mà còn là loại bỏ sự chia rẽ, phân biệt, thù ghét. Thuyết
"kiêm ái" nhìn chung chẳng khác biệt so với chữ "nhân" trong Nho giáo nhưng
lại ko phân biệt thân sơ nên đã bị Nho gia, Pháp gia công kích mạnh mẽ là không
nhận có cha, không nhận có vua, vì vậy, con người chẳng khác gì cầm thú.
Mặc Tử chủ trương lãnh đạo quốc gia phải biết trọng dụng nhân tài bất kể
gia thế xuất thân, đưa ra quan niệm bình đẳng hóa xã hội, phản đối hệ thống phân
chia giai cấp đương thời và đả kích tệ nạn bám víu vào quyền lực chính trị của
thành phần quý tộc qua cách bổ nhiệm thân nhân - thay vì người tài đức - vào các
và mục đích như trên "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh
phận, phải trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về
một mối, đều lấy pháp làm chuẩn. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
Thế trước hết là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm quyền mà trước hết
là của nhà vua. "Thế" có vị trí quan trọng đến mức có thể thay thế được hiền
nhân: "Chỉ có bậc hiền trí không đủ trị dân, mà địa vị quyền thế lại đủ đóng vai
trò của bậc hiền vậy Kiệt làm thiên tử chế ngự được thiên hạ không phải vì
hiền mà vì có quyền thế. Nghiêu thất phu không trị nổi ba nhà không phải vì hiền
mà vì địa vị thấp". Nhưng “Thế” còn là của dân, của đất nước, vận nước (xu thế
lịch sử).Và để nâng cao thế của nhà vua, pháp gia chủ trương trong nước nhất
nhất mọi thứ đều phải tuân theo pháp lệnh của vua kể từ hành vi, lời nói đến tư
tưởng.
"Thuật" trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược, thủ đoạn trong
việc tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó pháp
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 19
luật được thực hiện và nhà vua có thể "trị quốc bình thiên hạ". Nhiệm vụ chủ yếu
của thuật cai trị là phân biệt rõ ràng những quan lại trung thành, tận tâm và
những quan lại xu nịnh, thử năng lực của họ, kiểm tra công trạng và những sai
lầm của họ với mục đích tăng cường bộ máy cai trị trên cơ sở bộ máy luật pháp
và chế độ chuyên chế. Thuật phải nắm được cái cốt yếu là lấy danh làm đầu,
danh chính thì vật định, danh lệch thì vật đổi. Vua nắm lấy danh, còn bề tôi làm
ra hình. Nếu hình và danh so sánh giống nhau thì trên dưới hòa điệu. Mọi người
trong xã hội đều nhất nhất phải làm tròn bổn phận, chức vụ của mình, không có
ai dám làm trái hay làm quá danh phận đã định. Để chọn đúng người trao đúng
việc thì vua phải biết dùng "Thuật". "Bề tôi tỏ lời muốn làm việc gì thì vua theo
lời mà trao việc, cứ theo việc mà trách công. Công xứng việc, việc xứng lời thì
thưởng. Công không xứng việc thì phạt".
Ngoài ta, tư tưởng Pháp gia còn hết sức coi trọng việc xây dựng quân đội
hùng mạnh đủ sức đè bẹp và thôn tính các nước khác. Pháp gia cũng rất chú
trọng phát triển nông nghiệp, tích trữ lương thực và của cải làm cho đời sống của
Ông phê phán ba hình thức nhà nước đã tồn tại trong lịch sử và coi đó là
những hình thức xấu. Đó là nhà nước của bọn vua chúa được xây dựng trên khát
vọng giàu có và danh vọng dẫn tới sự cướp đoạt. Nhà nước quân phiệt là nhà
nước của số ít kẻ giàu có áp bức số đông, nhà nước đối lập giữa giàu và nghèo
đưa tới cái ác. Nhà nước dân chủ, quyền lực thuộc về số đông, sự đối lập giàu
nghèo trong nhà nước này hết sức gay gắt cho nên đó là nhà nước tồi tệ. Khi phê
phán các nhà nước trên, Platông đưa ra nhà nước lý tưởng của mình.
Trong tác phẩm Nước cộng hoà (Chính thể cộng hoà), Platông chia linh hồn
làm ba bộ phận: lý tính, xúc cảm và cảm tính. Tương ứng với ba bộ phận ấy là ba
hạng người trong xã hội. Tầng lớp các nhà thông thái, các nhà triết học làm chính
trị, điều hành xã hội. Tầng lớp những người lính, võ sĩ mà linh hồn của họ tràn
đầy xúc cảm gan dạ, biết phục tùng lý trí và nghĩa vụ, thích hợp với việc bảo vệ
an ninh của nhà nước. Tầng lớp thấp nhất trong xã hội là nông dân, thợ thủ công
và thương nhân làm các việc đồng ruộng, thủ công và buôn bán. Làm đúng theo
nhiệm vụ ấy là bảo vệ và xây dựng đời sống hạnh phúc, công lý là ở chỗ mọi
người phải sống đúng vị trí của mình.
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 21
Để duy trì trật tự xã hội, Platông cho rằng sự tồn tại của nhà nước là cần
thiết. Trong nhà nước ấy, quan hệ bất bình đẳng giữa các hạng người phải được
duy trì, bởi vì nó hợp với tự nhiên, hợp với sự phân công trong xã hội. Sự tồn tại
và phát triển của nhà nước lý tưởng dựa trên sự phát triển của sản xuất vật chất,
của sự phân công hài hòa các ngành nghề và giải quyết mâu thuẫn giữa các nhu
cầu xã hội.
Quốc gia lí tưởng của Platông là một quốc gia mà tất cả mọi cái đều được
gom vào thành của chung, tất cả lợi ích là vì xã hội, nhà nước. Người lãnh đạo là
những triết gia vì những người như họ mới đủ khả năng sáng suốt lãnh đạo, họ
không được tham nhũng vơ vét của cải của dân, không được sở hữu bất cứ tài sản
nào, kể cả vợ con riêng, sự sở hữu kinh tế nông nghiệp cũng không được có sự
quá chênh lệch giữa mọi người. Mọi người đều phải được học hành, không có
chiến tranh. Những của cải của người dân làm ra phải được phân chia một cách
chủ chủ nô xây dựng nhà nước cộng hòa dân cử. Platông cũng chủ trương nhà
nước cộng hòa mang tính của chung nhưng lại duy trì bất bình đẳng giai cấp, giai
cấp lãnh đạo là chủ nô quý tộc.
Do đặc điểm thời đại loạn lạc, cần thiết phải có các tư tưởng chính trị trị
quốc, các quan điểm đạo đức, nghệ thuật để xây dựng xã hội nên triết học
phương Đông ít khi tồn tại ở dạng triết học thuần túy mà thường được trình bày
xen kẽ hoặc ẩn giấu đằng sau những vấn đề chính trị xã hội, đạo đức, nghệ thuật,
… Trái lại lúc này ở phương Tây, ngay từ đầu triết học đã là một khoa học độc
lập và các quan điểm chính trị, trị quốc là một lĩnh vực riêng trên nền tảng triết
học.
SVTH: Võ Ngọc Bảo (Cao học Đêm 1-K20) – GVHD: TS. Bùi Văn Mưa 23
KẾT LUẬN
Mỗi phương pháp trị quốc của mỗi trường phái triết học trên đều có những
ưu nhược điểm riêng. Do tính chất lịch sử, các tư tưởng có thể đúng và đáp ứng
nhu cầu thời đại lúc đó nhưng sẽ lỗi thời không dùng được ở thời đại ngày nay.
Tuy nhiên đó là các thành tựu của thời đại và nhiều giá trị vẫn còn tồn tại đến
bây giờ, vẫn đáng cho ta suy gẫm, thậm chí phát hiện thêm cái mới, hiểu thêm
sâu sắc về các tư tưởng này. Đặc biệt là các tư tưởng trị quốc của phương Đông,
vì quan điểm chính trị lại gắn liền với triết học nên vẫn còn nhiều vấn đề giá trị
cần phải tiếp tục nghiên cứu, suy gẫm.
Đặc biệt quan điểm Nho giáo đã ảnh hưởng sâu rộng đến các nước phương
Đông và vẫn còn nhiều giá trị trong xã hội ngày nay, dùng đức để trị dân là một
phương pháp thu phục lòng người, làm cho dân tin và ổn định. Nhưng cũng cần
kết hợp pháp trị, dùng pháp luật nghiêm khắc đúng nơi đúng lúc sẽ làm cho
người dân thấy mà chấp hành.
Tư tưởng xã hội của chung của Platông và khuynh hướng dân chủ của
Đêmôcrít về cơ bản vẫn hợp cho xã hội ta ngày nay nhưng cần nghiên cứu để tìm
ra những cái hay phù hợp và ứng dụng.
Do đó, tuy các quan điểm trị quốc này ở thời cổ đại nhưng vẫn có ý nghĩa đối
với thời nay. Đó là cơ sở và nền tảng cho các nhà triết học các thời kỳ tiếp theo