QUAN ĐIỂM VỀ CÁCH TRỊ QUỐC CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI CỔ ĐẠI - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 13:
QUAN ĐIỂM VỀ CÁCH TRỊ QUỐC
CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC THỜI
CỔ ĐẠI
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
SVTH: Trần Hoàng Nguyên
Lớp: Cao học Đêm 1 – K20
Tp. Hồ Chí Minh - 2011
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN 11
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những vấn đề khá quan trọng trong sự phát triển của xã hội là
“vấn đề về trị quốc”. Một quốc gia phồn thịnh hay suy vong đều phụ thuộc vào
đường lối, chiến lược trị quốc. Quan điểm của các nhà triết học qua các thời kỳ
khác nhau (cổ đại, trung đại và hiện đại) cũng khác nhau. Các quan điểm được
phát triển trên từ đơn giản đến phức tạp, từ bức tranh duy vật đến duy tâm. Mỗi
tư tưởng triết học đều có nhiều quan điểm về các khía cạnh vũ trụ quan, nhận
thức luận, đạo đức, chính trị, xã hội.
Trong phạm vi đề tài này, bài viết này chỉ đi sâu vào quan điểm trị quốc của
các nhà triết học thời kỳ cổ đại. Tuy chỉ là một mảng nhỏ trong nội dung của các
tư tưởng triết học, nhưng đây là một đề tài mang tính chất bám sát vào nội dung
chương trình học, mở rộng kiến thức về cách nhìn nhận của những nhà triết học
cổ đại của cả phương Tây lẫn phương Đông và là một vấn đề mang tính chất thực
tiễn.
Để làm rõ nội dung trị quốc, cần phải tìm hiểu sơ lược về điều kiện tự nhiên,
hoàn cảnh đời sống xã hội và văn hóa. Nội dung đề tài được chia ra thành hai
mảng chính. Ở triết học phương Đông, nội dung trị quốc được phân tích thông

phận của mình. Nếu tất cả mọi người đều chính danh, xã hội tất yếu sẽ thái bình,
trật tự, không loạn lạc. Quan điểm này đã được những người sáng lập tóm gọn
trong 9 chữ: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 3
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
3. Triết học Đạo gia
Đạo gia được Lão Tử sáng lập ra và sau đó được Trang Tử phát triển thêm
vào thời Chiến quốc (403-221 TCN. Những tư tưởng triết học cơ bản của trường
phái Đạo gia được thể hiện chủ yếu trong lý luận về đạo và đức. Lý luận này thể
hiện quan niệm biện chứng về thế giới và là cơ sở để Lão Tử xây dựng thuyết vô
vi nhằm giải quyết những vấn đề do thời đại đặt ra.
Về quan điểm trị quốc, Lão Tử cho rằng hành động hay nhất là đừng can
thiệp đến việc đời; nhưng nếu đời cần ta phải làm thì ta hãy làm cái không làm
một cách kín đáo, khéo léo. Ông coi đây là giải pháp an bang tế thế. Đối với ông,
chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ biến thành chất phác, chính phủ tích cực làm
việc thì dân đầy tai hoạ. Lão Tử cho rằng bậc Thánh nhân trị vì thiên hạ phải là
bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi và chủ trương xoá bỏ hết mọi ràng buộc về mặt
đạo đức, pháp luật đối với con người để trả lại cho con người cái bản tính tự
nhiên vốn có của nó. Lão Tử mơ ước đưa xã hội trở về thời đại nguyên thuỷ chất
phác, mơ ước cô lập cá nhân với xã hội để hoà tan con người vào đạo (tự nhiên).
4. Triết học Mặc gia
Mặc gia là một trường phái triết học Trung Quốc cổ đại do Mặc tử sáng lập.
Người quản thống quốc sự nên dựa trên căn bản hữu dụng (thực lợi) để đánh giá
tất cả các chính sách; nếu việc có lợi cho nhân dân thì nên làm, nhưng nếu không
có lợi cho nhân dân thì không làm. Khuôn phép cho việc quốc trị trong nhãn
quan của Mặc Tử là hành sử theo minh ý của trời, phải biết thương dân chứ
không phải tin vào bói toán một cách mù quáng. Lãnh tụ quốc gia không thể ích
kỷ để chỉ lo tư lợi mà phải tận tình chăm lo cho đời sống của dân, giúp dân đạt
được sung túc và hạnh phúc, tuyệt đối không ra vẻ hách dịch để ức hiếp dân.
Sách lược quốc trị tốt nhất cho dân tộc là sách lược bác ái bao gồm các chính

tiện hiệu nghiệm nhất để cưỡng chế. Muốn cho nước trị thì vua chỉ cần dùng
thưởng phạt chứ không cần dùng giáo hóa, lễ nhạc.
"Pháp" được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng "Pháp" là thể chế quốc gia là
chế độ chính trị xã hội của đất nước; Nghĩa hẹp "Pháp" là những điều luật, luật
lệ, những luật lệ mang tính nguyên tắc và khuôn mẫu. Kế thừa và phát triển tư
SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 5
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
tưởng Pháp trị của pháp gia thời trước, Hàn Phi Tử cho rằng: "Pháp là hiến lệnh
công bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành,
thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo
Pháp". Tính cách của pháp luật theo Hàn Phi, trên cơ sở chủ trương của Pháp gia,
là vua tượng trưng cho quốc gia, nên vua nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp,
tư pháp. Tuy vậy, khi lập pháp vua cũng phải dựa trên những nguyên tắc chính
như: 1- Pháp luật phải hợp thời; 2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ hiểu, dễ
thi hành; 3- Pháp luật phải công bằng; 4- Pháp luật có tính cách phổ biến. Với
Hàn Phi, "Pháp" thật sự là tiêu chuẩn khách quan để phân định danh phận, phải
trái, tốt, xấu, thiện ác và sẽ làm cho nhân tâm và vạn sự đều qui về một mối, đều
lấy pháp làm chuẩn. Vì vậy, "Pháp" trở thành cái gốc của thiên hạ.
"Thuật" trước hết là cách thức, phương thức, mưu lược, thủ đoạn trong
việc tuyển người, dùng người, giao việc, xét đoán sự vật, sự việc mà nhờ nó pháp
luật được thực hiện và nhà vua có thể "trị quốc bình thiên hạ". Theo Hàn Phi,
“Thuật” có hai khía cạnh: Kỹ thuật, là phương án để tuyển, dùng, xét khả năng
quan lại; Tâm thuật tức mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ để lộ thâm của họ
ra.Nói ngược lại điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người; Ngầm hại
những kẻ bề tôi mình không cảm hóa được…
Cũng như Tâm thuật, Kỹ thuật được Hàn Phi rất coi trọng, đặc biệt là thuật trừ
gian và dùng người.
Pháp gia của Hàn Phi Tử được coi là trường phái triết học đầu tiên chủ
trương dùng phép trị để trị nước. Học thuyết chính trị của Pháp gia đã được Tần
Thủy Hoàng vận dụng, kết quả đã đưa nước Tần đến thành công trong việc thống

Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
rỗng, cái phần vật chất thuộc cái tồn tại mà không chứa đựng trong nó một sự
trống rỗng nào được gọi là nguyên tử.
Nguyên tử là hạt vật chất không thể phân chia được, nhỏ bé có thể cảm nhận
được bằng trực quan. Nguyên tử là vĩnh cửu, bất biến. Nguyên tử có tính đa
dạng, tự thân không vận động và khi kết hợp với nhau thì tạo thành vật thể.
Đêmôcrít cho rằng mọi sự vật trong thế giới đều được tái tạo từ các nguyên tử và
khoảng không. Sự xuất hiện, tồn tại và mất đi của các dạng vật thể là kết quả kết
hợp của các nguyên tử hay phân tâm của các nguyên tử. Vũ trụ nói chung theo
Đêmôcrít là một khoảng không vô tận trong đó chứa đựng vô số thế giới khác
nhau được cấu tạo từ vô vàn các loại nguyên tử.
Trong lý luận nhận thức, Đêmôcrít đưa ra khái niệm linh hồn coi đó là hoạt
động tâm lý là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa thế giới vô sinh và hữu sinh.
Theo ông, linh hồn cũng là một dạng vật chất, được cấu tạo từ các nguyên tử đặc
biệt có cấu hình, linh động như ngọn lửa, có vận tốc lớn luôn chứa đựng và sinh
ra nhiệt làm cơ thể hưng phấn và vận động.
Quan điểm về linh hồn của Đêmôcrít là cái không bất tử, nó thể hiện cùng
với sự tồn tại của thể xác con người. Chức năng của linh hồn là khởi đầu sự vận
động và tồn tại của cơ thể con người. Các hình thức phản ánh trong hoạt động
nhận thức của con người theo Đêmôcrít được thể hiện do các cơ quan cảm giác
và nhận thức lý tính. Sự khác nhau giữa nhận thức cảm giác và lý tính là ở tính
chất, trình độ giữa chúng, tuy nhiên Đêmôcrít chưa phân biệt được sự khác nhau
cơ bản giữa hai dạng nhận thức, mà chỉ thấy sự khác nhau đơn thuần về lượng,
cũng chưa thấy được sự chuyển hóa giữa chúng, mà thực chất coi tư duy chỉ là sự
hỗn hợp cái nguyên tử trong cơ thể con người.
Trong lĩnh vực chính trị - xã hội, Đêmôcrít thể hiện lập trường của tầng lớp
dân chủ chủ nô, ông đấu tranh bảo vệ nền dân chủ Aten. Ông coi chế độ nô lệ là
hợp đạo lý, nền tảng của nó là nhà nước của giai cấp chủ nô. Ông có những quan
điểm tiến bộ về mặt đạo đức. Phẩm chất con người theo ông không phải ở lời nói
mà ở việc làm. Mục tiêu của con người, theo ông là hướng tới tự do và hạnh

SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 9
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Và tất nhiên, xã hội đó là một xã hội quý tộc dân chủ, tất cả mọi tài năng đều
có cơ hội phát triển đồng đều, dù là con vua hay con chúa cũng bắt đầu ngang
nhau. Trong chế độ này hoàn toàn không có giai cấp, không có vấn đề cha truyền
con nối, nếu không có năng lực thì sẽ bị đào thải, dù là con vua.
Một nền thể chế chính trị hay xã hội nếu làm cho trọn vẹn quá trình đào tạo
“chất liệu cấu tạo triết lý chính trị” như vậy tất nhiên đã bảo đảm được phần nội
lực bên trong từ đó tiến lên xây dựng quốc gia xã hội không còn là chuyện khó.
SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 10
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG III: NHẬN XÉT CÁ NHÂN
1. Tư tưởng trị quốc trong triết học Trung Quốc cổ đại:
Có tính kế thừa, phát triển, phủ định, bổ sung cho nhau trong tư tưởng trị quốc
của các trường phái triết học Trung Quốc cổ đại. Trong thời Xuân Thu – Chiến
Quốc có ít nhất 6 trường phái triết học cùng nhau tranh giành ảnh hưởng, thì có
đến 4 trường phái đưa ra quan điểm trị nước. Học thuyết Nho gia dựa trên quan
điểm “nhân trị”, học thuyết Đạo gia dựa trên quan điểm “Vô vi”… Nhưng Pháp
gia dựa trên quan điểm dùng luật pháp để trị nước. Tư tưởng trị nước của Pháp
gia tỏ ra phù hợp với tình hình chính trị lúc bấy giờ, thực tế nước nào sử dụng tư
tưởng của Pháp gia trong việc trị nước đều mang lại thành công trở nên hùng
mạnh. Chẳng hạn nước Tề, Tần, chứng tỏ tư tưởng của Pháp gia phù hợp với thời
đại đó. Để lý giải điều này chúng ta cần đi sâu vào xã hội Trung Quốc lúc bấy
giờ. Xã hội vừa thoát khỏi chế độ công xã thị tộc, bộ lạc dân chúng vẫn chưa có
gì để điều chỉnh quan hệ của mình khi mà trật tự cũ đã mất trật tự mới chưa hình
thành tất sinh loạn. Vấn đề đặt ra phải tìm trật tự mới để thay thế cho trật tự cũ đã
tan dã. Các triết gia cổ đại Trung Quốc tập trung giải quyết vấn đề này nhưng
quan điểm của họ hoặc là muốn đưa xã hội trở lại thời thái bình của Nghiêu,
Thuấn hoặc muốn dùng phép trị nước của thời đó áp dụng cho thời họ sống, mà
không hiểu xã hội đã thay đổi thì phép trị nước cũng cần thay đổi. Pháp gia nắm

điểm này, quan điểm pháp trị đã thoát khỏi cái tư tưởng thị tộc dựa trên dư luận
cộng đồng lấy mối quan hệ ràng buộc về đạo đức mà ứng xử với nhau. Khi xã
hội chưa phân chia giai cấp mâu thuẫn trong xã hội không gay gắt nó có thể khả
dụng nhưng khi mâu thuẫn xã hội gay gắt thì nó cần phải có công cụ mạnh hơn.
Pháp trị dựa trên luật pháp và người cầm trịch công minh để điều chỉnh xã hội.
Xuất phát từ quan điểm xã hội luôn luôn phát triển, do vậy đường lối trị nước
(thể chế, pháp luật) cũng cần phải thay đổi theo cho phù hợp. Chính vì vậy mà
pháp trị tỏ ra ưu thế hơn nhân trị đương thời. Các nhà Nho luôn muốn thần thánh
hóa bậc quân chủ, song để pháp luật có được tính phổ quát nhất định, hay nói
cách khác, để có được một nền pháp trị, Pháp gia nói chung và Hàn Phi nói riêng
đã tước bỏ ý nghĩa thần thánh mà những kẻ cai trị luôn muốn tự khoác lên mình.
Sở dĩ tư tưởng chính trị của Hàn Phi đối lập với tư tưởng Nho gia là bởi ông có
một quan niệm hết sức sâu sắc về thực tiễn. Khác với Khổng, Mạnh mượn đời
xưa để phê phán đời nay hay lấy cái quá khứ được tuyệt đối hóa để đo hiện tại,
Hàn Phi cho rằng, mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi lý luận phải đều được bắt
nguồn từ chính thực tiễn của đất nước.
Trong Thuật của Pháp trị Hàn Phi đã kế thừa lý luận chính danh của Nho gia
nhưng phát triển lên một bước mới. Khổng Tử cho rằng chính danh nghĩa là mọi
người cần phải làm tốt bổn phận của mình. Hàn Phi chủ trương chính danh là
phương thuật của vua để trị nước mọi người làm vì vua. Thuật chính danh ở Pháp
trị là lấy danh để trách thực. Khi danh và thực hợp nhau là chính danh, đã có
SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 12
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
danh và thực thì cứ thế mà thưởng phạt nghiêm minh ắt người dân sẽ làm tốt bổn
phận của mình khi đó vua không phải làm gì mà như không gì không làm.
b) So sánh, đối chiếu tư tưởng trị quốc giữa Pháp gia và Đạo gia:
Hai thiên Giải Lão và Dụ Lão trong tác phẩm Hàn Phi Tử, đã chứng tỏ Hàn Phi
rất am hiểu Đạo gia. Nhìn chung, cả Đạo gia và Pháp gia đều yêu cầu mọi việc
phải luôn biến đổi. Đạo gia nhấn mạnh đến tính tương đối của tri thức con người
cũng như của chế độ, còn Pháp gia đi đến kết luận rằng, cần phải lấy yêu cầu

Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
của Lão tử là chấp nhận quy luật để tự nó cái gì đến ắt sẽ đến vì vậy dẫn ông đến
học thuyết vô vi không làm gì cả mà thuân theo lẽ tự nhiên đa được sắp xếp.
Trường phái Pháp gia đại diện cho giới quý tộc mới trong xã hội Trung Quốc lúc
bấy giờ, nội dung của nó tiến hành đấu tranh chống lại tàn dư của chế độ gia
trưởng và tù trưởng, bảo thủ và mê tín tôn giáo đương thời. Pháp gia trở thành
công cụ thống nhất Trung Quốc thiết lập chế độ phong kiến trung ương tập
quyền. Chính vì mục đích của nó nhằm thống nhất thiên hạ nên nó có hạn chế là
đã bỏ qua những tư tưởng nhân văn của các trường phái khác do vậy nó có thể
phát huy công dụng nhất thời nhưng sau đó nó tỏ ra không phù hợp trong thời
bình nếu chỉ sử dụng duy nhất Pháp gia để trị nước.
Hàn Phi đã kết hợp được những tinh hoa của Nho – Lão – Pháp mà xây dựng
hoàn chỉnh học thuyết của phái Pháp gia. Dưới thời Hàn Phi pháp gia phát triển
trở thành một học thuyết hoàn thiện. Nó là sự kế thừa các tư tưởng trước đó của
Pháp gia kết hợp các học thuyết về Đạo của Lão giáo trong quan niệm về thế giới
quan, Chính danh của Nho gia. Hàn Phi đã tổng hợp ba học thuyết Nho, Lão,
Pháp trong đó Nho là vật liệu xây dựng, Pháp là bộ khung, Lão là kỹ thuật thi
công làm nên tư tưởng Pháp gia hoàn chỉnh.Tuy nhiên cũng phải thấy rõ mặc dù
có những tiến bộ và phù hợp nhất định với thời đại nhưng sau đó Pháp gia tỏ ra
không còn phù hợp vì quá cứng nhắc khi thi hành. Pháp gia giúp nhà Tần thống
nhất đất nước, nhưng cũng chính Pháp gia làm cho nhà Tần phải sụp đổ vì đường
lối của mình vì nó đã không chịu biến đổi cho phù hợp với tình hình xã hội một
quan điểm mà Hàn Phi đã đưa ra trong chủ thuyết của mình. Để rồi nó lại
nhường chỗ cho địa vị độc tôn Nho gia, Pháp gia lui xuống hàng thứ yếu hỗ trợ
Nho gia trong việc trị nước. Sở dĩ Pháp gia thất bại là do bản thân cách làm của
Pháp gia (trong đấy có Hàn Phi) tồn tại nhiều điểm quá cực đoan sau đây:
- Đồng nhất việc cai trị dựa trên pháp luật với việc cai trị dựa vào các hình phạt
nghiêm khắc.
- Quan niệm về pháp luật của Pháp gia nói chung và Hàn Phi nói riêng quá máy
móc và cứng nhắc, hoàn toàn không có tính đàn hồi trong việc sử dụng pháp luật.

Đông cổ đại. Ở phư ơng Tây cổ đại, mầm mống tư tưởng pháp quyền lúc bấy giờ
là chống lại "thuyết đặc miễn trách nhiệm của nhà vua", tư tưởng về nhà nước
pháp quyền (sau đây viết tắt là: NNPQ) ra đời chống lại sự chuyên quyền, độc
đoán, gắn liền với việc xác lập và phát triển nền dân chủ; bạo lực, lộng quyền và
hỗn loạn là cái tương phản với công bằng, pháp luật, cần phải xóa bỏ. Các nhà tư
tưởng pháp quyền thời kỳ này tiêu biểu là Solon (638-559TCN), Heraclite (530-
470 TCN), Socrate (469-399TCN), Platon (427-347 TCN), Aristote (384-322
TCN), Ceceron (106-43 TCN), Solon chủ trương "giải phóng tất cả mọi người
bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp giữa sức mạnh và pháp luật".
Platon cho rằng Nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật là điều kiện tồn tại của
pháp luật. Aristote khẳng định pháp luật phải thống trị trên tất cả, ông đề ra
"thuyết ba chức năng", phân biệt ba loại quyền lực Nhà nước: nghị viện, chấp
hành và xét xử Ceceron thể hiện tư tưởng của pháp luật bằng cách đặt câu
hỏi:"pháp luật là gì nếu không phải là trật tự chung?". Theo ông, pháp luật là cội
nguồn tạo ra chế độ Nhà nước và cho rằng:" Nhà nước là NNPQ không phải do
SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 15
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Nhà nước tuân thủ pháp luật của mình mà là vì về cội nguồn, về bản chất, Nhà
nước chính là pháp luật, pháp luật tự nhiên của nhân dân".
 Tóm lại:
Mỗi học thuyết được sinh ra trong những giai đoạn và hoàn cảnh nhất định và nó
sẽ có thể phù hợp với giai đoạn hoặc hoàn cảnh lịch sử nhất định.
- Khi phù hợp nó sẽ mang lại những thành công thúc đẩy xã hội phát triển.
- Khi nó không còn phù hợp nó sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội
Phải căn cứ vào thực tế xã hội mà áp dụng học thuyết nào đó cho phù hợp và
phải không ngừng tìm tòi, bổ sung, hoàn thiện, xây dựng những học thuyết mới
phù hợp với tình hình mới.
2. Tư tưởng trị quốc trong triết học Hi Lạp cổ đại:
a) Platon:
Bàn về nhà nước lý tưởng của Platon thì có nhiều ý kiến khen cũng như chê. Cái

xét: “Quốc gia của Platon là một quốc gia thủ cựu, thuật chính trị của Platon
thiếu sự tế nhị mềm dẻo, nó đề cao trật tự mà không đề cao sự tự do, nó thích cái
đẹp mà không biết nuôi dưỡng nghệ sĩ, khi ông muốn phá vỡ đời sống gia đình,
ông đã phá vỡ điều kiện cho của một nếp sống đạo đức. Chế độ cộng sản chẳng
qua chỉ là một chế độ gia đình được nới rộng cho toàn dân, khi đã kích gia đình,
Platon không biết rằng ông đã phá vỡ nền móng của xã hội lý tưởng mà ông sắp
xây cất”.
Xây dựng một nhà nước lý tưởng ở trong ý tưởng, đối với nhiều người, có
thể là không khó khăn nhưng để có thể xây dựng một đất nước lý tưởng thật sự ở
trong thực tế thì không phải dễ mà nếu không khéo thì sẽ chuốc lấy những hậu
quả chẳng lấy gì tốt đẹp lắm. Điều này chúng ta cũng có thể nhận thấy ở giáo hội
Thiên chúa giáo trong thời Trung Cổ. Quan niệm về một nhà nước lý tưởng trên
đây của Platon chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Một mặt, ông muốn xoá bỏ tư hữu,
mặt khác, ông lại chủ trương duy trì sự bất bình đẳng giữa các hạng người. Một
mặt, ông đề cao hình thức cộng hoà, mặt khác ông lại ra sức bảo vệ lợi ích của
giai cấp chủ nô quý tộc, chống lại nhà nước dân chủ Aten. Nhà nước mà ông coi
là lý tưởng, thực chất chỉ là sự biện hộ cho giai cấp chủ nô quý tộc. Đúng như
nhận xét của Mác, nó chỉ là lý tưởng hoá chế độ đẳng cấp của Ai Cập vào Athens
mà thôi.
Ở đây ta nhận ra một điều là dù muốn xây dựng quốc gia lý tưởng theo bất
cứ chủ trương đường lối cũng được nhưng tuyệt đối phải đặt nền móng trên
người dân, tất cả phải “do dân và vì dân”. Lịch sử đã cho thấy, chưa có quốc gia
nào xa rời với người dân mà thành công và tồn tại lâu dài. Và có một điều cần
phải lưu ý là xã hội là một thực thể sống động, luôn luôn biến chuyển và đổi thay
vì thế, khi xây dựng phát triển nền chính trị xã hội chúng ta cũng cần phải linh
động và uyển chuyển theo từng thời điểm mà có những việc làm thích hợp.
Chúng ta không thể lấy cái cố định mà ràng buộc cái bất định, đó là việc làm phi
lý, không hợp với quy luật, không hợp với tự nhiên thì không thể nào thành công
là một điều dễ dàng nhận ra.
Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, các ý niệm của Platon về một

a) Ý nghĩa và ảnh hưởng của tư tưởng trị quốc của Nho gia:
Việt Nam ta có khoảng 1000 năm dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến
Trung Quốc nên cũng không tránh khỏi việc chịu ảnh hưởng của các tư tưởng trị
quốc của Trung Quốc trong đường lối trị quốc của mình qua các thời kỳ. Với tư
tưởng trọng văn của Nho giáo Việt Nam, các nhà nước quân chủ Việt Nam đã
học tập cách tổ chức triều đình, hệ thống pháp luật từ Trung Hoa. Tổ chức ra hệ
thống thi cử tuyển chọn nhân tài để bổ sung vào bộ máy cai trị trên nguyên tác
“Trọng văn hơn trọng võ”. Hệ thống thi cử khoa bảng này được bắt đầu từ thời
SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 18
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
nhà Lý (Chính thức cho xây dựng Văn Miếu) và kết thức vào thời nhà Nguyễn,
kéo dài khoảng 800 năm, tổ chức được 185 khoa thi, có 56 trạng nguyên. Có
những Trạng nguyên tuổi đời rất trẻ nhưng có trí thông minh xuất chúng, học
giỏi hơn người như Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên khi mới 12 tuổi, Lương Thế
Vinh đỗ trạng nguyên lúc 22 tuổi là tổ sư nghề toán ở Việt Nam. Mạc Đỉnh Chi,
Nguyễn Trực là lưỡng quốc trạng nguyên Nói chung hệ thống tổ chức xã hội,
hệ thống khoa bảng Nho giáo Việt Nam nhìn chung có nét tương tự như Nho
giáo Trung Hoa.
Trên con đường cách mạng của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sáng suốt
không thể không gạt đi cái cốt lõi lạc hậu của Nho giáo và giữ gìn, phát huy
những nhân tố hợp lý của nó nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Nhà Nho
tôn thờ nhất chính là cái mà cách mạng lên án và đánh đổ. Hồ Chí Minh không
thể chấp nhận cái chữ Trung của Nho giáo, không thể chấp nhận lòng trung thành
tuyệt đối của nhân dân bị áp bức đối với chính kẻ áp bức mình. Chữ Trung ở Nho
giáo là trung thành tuyệt đối với nhà vua và chế độ phong kiến, còn ở Hồ Chí
Minh, Trung là trung thành với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, lên án chế độ
phong kiến và lật đổ nhà vua. Nho giáo vốn coi nhân dân là những người nghèo
hèn cần được bề trên chăn dắt và sai khiến, Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ
phải là “đày tớ của dân”, phải học hỏi nhân dân, và yêu quý nhân dân. Với tinh
thần ấy, cách mạng đã xây dựng được khối đại đoàn kết toàn dân, biến nhân dân

một nhà nước pháp quyền (NNPQ) trong quá khứ cũng như hiện tại.
Từ thời cổ đại, mầm mống về tư tưởng NNPQ đã xuất hiện cả ở phương Đông và
ở phương Tây. Ở phương Đông, đó được xem là tư tưởng pháp trị của các nhà
pháp gia như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi Quản Trọng chủ trương đề
cao "Luật, lệnh, hình, chính", vua phải giữ pháp, "không vì vua muốn mà thay
đổi lệnh, lệnh đáng tôn hơn vua". Hàn Phi coi pháp là chuẩn mực cao nhất của
việc cai trị đất nước, khi thi hành pháp luật thì không kể đến tình cảm riêng,
không câu nệ chuyện thân sơ, sang hèn, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật
.Theo ông, "pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình
theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ
dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái
đúng không bỏ sót kẻ thất phu".
Ở phương Tây, mầm mống tư tưởng pháp quyền lúc bấy giờ là chống lại "thuyết
đặc miễn trách nhiệm của nhà vua", tư tưởng về NNPQ ra đời chống lại sự
chuyên quyền, độc đoán, gắn liền với việc xác lập và phát triển nền dân chủ; bạo
lực, lộng quyền và hỗn loạn là cái tương phản với công bằng, pháp luật, cần phải
xóa bỏ. Các nhà tư tưởng pháp quyền thời kỳ này tiêu biểu là Solon (638-
559TCN), Heraclite (530-470 TCN), Socrate (469-399TCN), Platon (427-347
SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 20
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TCN), Aristote (384-322 TCN), Ceceron (106-43 TCN), Solon chủ trương
"giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật, bằng sự kết hợp giữa
sức mạnh và pháp luật". Platon cho rằng Nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật
là điều kiện tồn tại của pháp luật. Aristote khẳng định pháp luật phải thống trị
trên tất cả, ông đề ra "thuyết ba chức năng", phân biệt ba loại quyền lực Nhà
nước: nghị viện, chấp hành và xét xử Ceceron thể hiện tư tưởng của pháp luật
bằng cách đặt câu hỏi:"pháp luật là gì nếu không phải là trật tự chung?". Theo
ông, pháp luật là cội nguồn tạo ra chế độ Nhà nước và cho rằng:" Nhà nước là
NNPQ không phải do Nhà nước tuân thủ pháp luật của mình mà là vì về cội
nguồn, về bản chất, Nhà nước chính là pháp luật, pháp luật tự nhiên của nhân

đoan lịch sử khác nhau. Đó là lí thuyết về pháp quyền tự nhiên của các nhà triết
SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 21
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
học Hà Lan thế kỷ XVI-XVII với các đại diện: B. Spinoza (1632-1677), H.
Grotius (1583-1645); lý thuyết về tự do của các nhà duy vật Anh thế kỷ XVII với
các đại diện như : J. Locke (1632-1704) - người thể hiện rõ rệt nhất các quan
điểm pháp quyền của xã hội TBCN, T. Hobbs (1588-1679), J.S.Mill (1806-
1873); lý thuyết về phân quyền, chủ quyền nhân dân và khế ước xã hội của các
nhà khai sáng Pháp thế kỷ XVIII với các đại diện: Montesquieu - người đưa ra
học thuyết phân quyền được các nước Tư sản sau này áp dụng dưới các hình thức
khác nhau, Rousseau (1712-1788) - người đưa ra lý thuyết về chủ quyền nhân
dân và "khế ước xã hội"; lý thuyết về pháp quyền của các nhà triết học cổ diển
Đức với các dại diện như : I. Kant (1724-1804), Hegel (1770-1831) Bước sang
thế kỷ XIX-XX, lý thuyết về NNPQ tiếp tục được các nhà triết học Đức quan tâm
như: Mohn và Valker, Stein
Mặc dù với những góc nhìn và quan niệm hết sức đa dạng nhưng các học thuyết
này đều mang những nội dung cơ bản và chung nhất sau: Sự hiện diện của chủ
nghĩa lập hiến và coi đó là bằng chứng hữu hình về sự đồng thuận của người dân;
Nhà nước phải tự đặt dưới pháp luật không hành động độc đoán; Nhà nước phải
tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người và quyền công dân; quyền lực
Nhà nước được chia thành ba quyền: quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giao
cho ba cơ quan Nhà nước tương ứng theo nguyên tắc quyền lực giám sát, kiềm
chế quyền lực.
Học thuyết NNPQ không chỉ có những tư tưởng của các triết gia tư sản mà còn
có cả sự đóng góp của những nhà kinh điển CNXH. Marx, Engels và Lenin dù
không chính thức nói đến NNPQ như là một trong những nội dung chính yếu
trong học thuyết của mình nhưng các ông luôn quan tâm đến Nhà nước và cách
mạng, Nhà nước và pháp luật. Trong các bài viết, bài nói ít nhiều họ đã thể hiện
tư tưởng về pháp quyền. Đó là những tư tưởng đầu tiên về NNPQ XHCN. Quan
điểm của Marx và Engels được thể hiện trong các tác phẩm như: "Sự khốn cùng

thật sự bảo đảm dân chủ, phải dùng pháp luật (pháp luật Xô viết) để đấu tranh
chống sự lề mề, quan liêu, hối lộ (tức là phải sử dụng pháp luật, đưa pháp luật lên
trên hết). Như vậy, các nhà kinh điển của CNXH dù không xem NNPQ là bộ
phận trong học thuyết của mình nhưng đâu đó trong toàn bộ học thuyết vĩ đại ấy
vẫn có những yếu tố pháp quyền trong tư tưởng của các ông, góp phần làm
phong phú các tư tưởng về NNPQ và đặt ra những ý tưởng mầm mống về xây
dựng NNPQ XHCN.
Như vậy, NNPQ là một Nhà nước thượng tôn pháp luật và phải bảo đảm dân chủ.
Lịch sử NNPQ đã có từ xa xưa và ngày càng hoàn thiện qua các giai đọan lịch sử
khác nhau và trở thành học thuyết vào thế kỷ XVII- XVIII, gắn liền với Nhà
nước Tư sản, nền dân chủ Tư sản.Bên cạnh đó, các nhà kinh điển của CNXH
cũng đã có sự đóng góp nhất định vào học thuyết NNPQ nói chung, và định
hướng cho việc xây dựng Nhà nước kiểu mới ở các nước XHCN - NNPQ XHCN
của dân, do dân, vì dân sau này. Nghiên cứu lịch sử tư tưởng về NNPQ chúng ta
có thể rút ra những dấu hiệu cơ bản chung nhất của một NNPQ nói chung gồm
các yếu tố sau đây:
- Sự thống trị của pháp luật trong đời sống xã hội
- Sự ràng buộc của Nhà nước và cơ quan Nhà nước bởi pháp luật
- NNPQ định rõ trách nhiệm hai chiều giữa Nhà nước và công dân trên cở sở
pháp luật
- NNPQ có những hình thức kiểm tra, giám sát có hiệu quả việc tuân theo pháp
luật.
Hiện nay, Việt Nam đã có đủ các tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội để từng
bước xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền
Việt Nam của dân, do dân, vì dân, có sắc thái riêng, phù hợp với điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội, truyền thống, văn hóa của Việt Nam. Cần nhận thức rằng
việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là quá trình lâu dài, phải được
tiến hành từng bước, chia thành nhiều giai đoạn, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
SVTH: Trần Hoàng Nguyên – Lớp Cao học Đêm 1 – K20 Page 23
Quan điểm về cách trị quốc GVHD: TS. Bùi Văn Mưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status