TRƢỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
KHOA ĐÔNG PHƢƠNG
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
GIA ĐÌNH ĐA VĂN HÓA VIỆT – HÀN
DƢỚI GÓC NHÌN THÍCH NGHI CỦA
NGƢỜI CHỒNG HÀN QUỐC SỐNG TẠI
MIỀN NAM VIỆT NAM ĐỖ THỊ THÙY BIÊN HÒA, THÁNG 12/2013
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
KHOA ĐÔNG PHƢƠNG
BÁO CÁO
1.1 Mối liên hệ của quan hệ ngoại giao Việt – Hàn và Hôn nhân Quốc Tế Hàn –
Việt. 5
1.1.1 Giai đoạn đầu ký kết và bƣớc tiến triển của mối quan hệ ngoại giao Việt
Nam – Hàn Quốc. 5
1.1.2 Nguyên nhân kết hôn quốc tế của các chàng trai Hàn Quốc. 6
1.1.3 Nguyên nhân và thực trạng kết hôn quốc tế của phụ nữ Việt Nam 6
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan 6
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan. 9
1.2 Khái niệm 17
1.2.1Gia đình đa văn hóa là gì? 17
1.2.2 Gia đình di trú Hàn – Việt là gì? 18
CHƢƠNG II NHỮNG MẶT THÍCH ỨNG CỦA NGƢỜI CHỒNG HÀN QUỐC
SỐNG TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM 20
2.1 Sự thích ứng về mặt ngôn ngữ 20
2.1.1 Trong giao tiếp với vợ và họ hàng nhà vợ 22
2.1.2 Trong giao tiếp với bà con lối xóm, láng giềng. 23
2.1.3 Trong công việc 24
2.2. Sự thích nghi về mặt khí hậu 25
2.2.1 Đặc trƣng khí hậu Hàn Quốc 25
2.2.2 Đặc trƣng khí hậu Việt Nam 26
2.2.3 Khả năng thích nghi khí hậu Việt Nam của các ông chồng Hàn Quốc 27
2.3 Sự thích ứng về mặt ẩm thực 28
2.3.1 Ẩm thực trong đời sống gia đình 30
2.3.1.1 Các bữa ăn ngày trong tuần 30
2.3.1.2 Các bữa ăn ngày cuối tuần 31
2.3.2 Khi ăn cùng họ hàng nhà vợ 32
2.3.2.1 Khi gặp gỡ thân mật tại nhà Bố Mẹ vợ. 32
2.3.2.2 Khi ăn uống tại các buổi lễ tết 34
2.3.3 Khi ăn cùng bạn bè và cơ quan 34
2.2.3.1 Khi ăn uống tại cơ quan 34
với xã hội con ngƣời nhƣng đối với lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu thì đang còn là
một vấn đề khá hấp dẫn và mới lạ. Đó chính là vấn đề hôn quốc tế của các cô gái,
chàng trai Việt Nam với những ngƣời bạn đời Ngoại Quốc. Đặc biệt phải nhắc đến
là việc kết hôn quốc tế của các cô gái Việt Nam với các chàng trai Hàn Quốc thu
hút sự chú ý mạnh mẽ của xã hội trong những năm gần đây. Và ngƣời viết đã lựa
chọn đề tài: “GIA ĐÌNH ĐA VĂN HÓA VIỆT - HÀN DƢỚI GÓC NHÌN THÍCH
NGHI CỦA NGƢỜI CHỒNG HÀN QUỐC SỐNG TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM”
làm chủ đề nghiên cứu cho luận văn của mình. Thông qua bài nghiên cứu này có thể
giúp chúng ta có thể hiểu đƣợc rõ hơn những khó khăn mấu chốt của cuộc sống
những ngƣời chồng Hàn Quốc sống tại Việt Nam hiện nay. Bài viết xoay quanh
những vấn đề thƣờng nhật nhất trong cuộc sống gia đình di trú Việt - Hàn về những
vấn đề nhƣ: cuộc sống hằng ngày, giao tiếp với xung quanh, ẩm thực, giáo dục con
cái, những vấn đề khó khăn cũng nhƣ thuận lợi ảnh hƣởng trực tiếp đến cuộc sống
hằng ngày của những ông chồng ngoại quốc này. Pháp luật Việt Nam hay những
chính sách của chính phủ Việt Nam đã giúp ích nhƣ thế nào đến tâm tƣ, nguyện
vọng những chú rể Hàn Quốc có 50% dòng máu này.
Ngƣời viết xin đƣợc gởi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô khoa Đông
Phƣơng, lãnh đạo Khoa và Cô giáo chủ nhiệm Thân Thụy Mỹ Linh đã quan tâm,
giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để cho ngƣời viết có thể hoàn thành luận văn đƣợc
một cách nhanh chóng và tốt nhất. Đặc biệt, ngƣời viết xin gởi làm cảm ơn sâu sắc
nhất đến Cô giáo Trần Hữu Yến Loan đã gợi ý, góp ý và đồng thời cũng là giáo
viên hƣớng dẫn để cho ngƣời viết hoàn thành luận này. Cảm ơn Cô đã sát cánh cho
em những sự góp ý, quan tâm kịp thời trong suốt thời gian hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn chắc chắc sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đƣợc sự góp ý chân thành từ các Thầy,
Cô. Em xin chân thành cảm ơn!.
2 / 48
PHẦN DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
Liệu hai con ngƣời khác nhau về nhiều mặt nhƣ: ngôn ngữ, tƣ tƣởng, lối sống,
văn hóa có hòa hợp đƣợc với nhau dƣới một mái nhà? Con cái của họ có đƣợc
thống nhất chung về cách giáo dục từ bố mẹ? Những chú rể Hàn Quốc sống cùng
với vợ tại Việt Nam có những trở ngại, khó khăn gì trong cuộc sống? Cũng nhƣ
luật pháp Việt Nam đã có những ƣu đãi gì và những bất cập gì đối với một bộ phận
con ngƣời có 50% là công dân Việt Nam này?. Đó chính là lý do ngƣời viết chọn đề
tài “ GIA ĐÌNH ĐA VĂN HÓA VIỆT – HÀN DƢỚI GÓC NHÌN THÍCH NGHI
CỦA NGƢỜI CHỒNG HÀN QUỐC SỐNG TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM” làm
đề tài nghiên cứu nhằm phần nào hình dung đƣợc bức tranh hiện trạng cuộc sống
của những gia đình Đa văn hóa Hàn Việt nói chung và những vấn đề đang gặp phải
hiện nay của những chú rể Hàn Quốc sống tại Việt Nam nói riêng .
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay tại Việt Nam có những tài liệu liên quan đến gia đình đa văn hóa
không chuyên sâu ở những mặt nhƣ: Bạo hành gia đình, số liệu những gia đình đa
văn hóa Việt - Hàn tại thành phố Hồ Chí Mình có rất ít những tài liệu nghiên cứu
sâu về đời sống, và những đặc tính của các gia đình đa văn hóa này. Vì vậy những
đề tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này còn rất mới mẽ.
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
Điều tra, tìm hiểu những khó khăn cũng nhƣ những tâm tƣ nguyện vọng của
một số chú rể Hàn Quốc sống tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung điều tra vào số gia đình đa văn hóa Việt - Hàn tiêu biểu tại khu vực
thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Điều tra, tổng hợp, phân tích
- Phƣơng pháp đối chiếu, so sánh, kết luận
4 / 48
- Nguồn tài liệu: Đọc, nghiên cứu tài liệu từ một số cuốn sách liên quan trong
Việt.
1.1.1 Giai đoạn đầu ký kết và bƣớc tiến triển của mối quan hệ ngoại giao
Việt Nam – Hàn Quốc.
Hàn Quốc và Việt Nam có nhiều những mối liên hệ mật thiết với nhau từ rất
nhiều thế kỷ trƣớc, chính điều đó đã góp phần thúc đẩy cho sự ký kết quan hệ ngoại
giao của hai nƣớc đƣợc diễn ra chính thức ngày 22 tháng 12 năm 1992. Bƣớc ngoặc
quan trọng đánh dấu mối quan hệ song phƣơng tốt đẹp trên mọi phƣơng diện.
Đã có rất nhiều hoạt động từ phía chính phủ hai nƣớc để tiến hành thân hiện
hóa mối hữu nghị song phƣơng. Chính vì vậy, từ sau khi thiết lập ngoại giao, những
nhà lãnh đạo hai nƣớc đã có những chuyến thăm, trao đổi, hợp tác lẫn nhau của các
tổng thống, thủ tƣớng đƣơng thời. Theo bộ ngoại giao, trong suốt hơn 20 năm từ
sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao, về phía Hàn Quốc đã có 5 chuyến đi thăm
chính thức Việt Nam, thủ tƣớng cũng có 2 chuyến viếng thăm Việt Nam. Và về phía
Việt Nam đã có lần lƣợt 2 vị Tổng bí thƣ Đảng Cộng sản, 2 vị Chủ tịch nƣớc, 3 vị
Thủ tƣớng đến thăm Hàn Quốc. “Tổng thống Hàn Quốc sắp thăm Việt Nam”
vnexpress.net, thứ 5, 22/ 8/2013 theo thông tin của bài viết: bắt đầu từ ngày 7 tháng
9 năm 2013 tới đây Bà Park Geun-hye, nữ tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc, sẽ có
chuyến thăm cấp nhà nƣớc tới Việt Nam nhằm tăng cƣờng hợp tác song phƣơng.
Điều này đã tạo nên nền tảng cho sự phát triển quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân và
chính phủ hai nƣớc.
Trên cơ sở đó, chính phủ hai bên đã và đang ký kết nhiều hiệp định xây dựng
cơ sở pháp lý cần thiết cho sự phát triển quan hệ hai nƣớc, đồng thời việc thi hành
những hiệp định trên giữa các bộ ngành liên quan đã đƣợc bắt đầu thực hiện. Trong
quan hệ chính trị, có điểm đáng chú ý là năm 2001 Chủ tịch nƣớc Trần Đức Lƣơng
6 / 48
trong chuyến đi thăm Hàn Quốc đã tuyên bố giữa các nguyên thủ rằng mối quan hệ
của hai nƣớc là "quan hệ hữu hảo toàn diện" và năm 2009, tổng thống Lee Myong-
Pak trong chuyến đi thăm Việt Nam đã tuyên bố đây là "quan hệ đối tác chiến lƣợc".
Những tuyên bố này có ý nghĩa to lớn rằng quan hệ hai nƣớc trong quá trình phát
chúng ta đón hơn 18.000 khách du lịch đến Việt Nam. Đây thực sự là điều kiện
thuận lợi để công dân hai nƣớc có cơ hội tiếp xúc và giao lƣu với nhau nhiều hơn.
Và từ đó tạo nên sự quen biết, gặp gỡ rồi đi đến kết hôn với nhau.
Ngoài ra,việc nhà nƣớc ta ban hành Luật HN&GĐ 2000, trong đó dành hẳn
một chƣơng quy định về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nƣớc ngoài, đồng thời với đó
là việc Chính phủ ban hành nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật HN&GĐ về quan hệ HNGĐ có yếu tố nƣớc ngoài
và nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều nghị
định 68/2002/NĐ-CP cho thấy Nhà nƣớc ta luôn khuyến khích các quan hệ
HN&GĐ có yếu tố nƣớc ngoài phát triển, đồng thời có chính sách nhằm bảo đảm
quyền lợi cho các đƣơng sự khi tham gia quan hệ đó.
Thứ hai: Do chính sách của Hàn quốc
Hàn Quốc, một đất nƣớc chịu sự ảnh hƣởng mạnh mẽ của đạo Khổng nên gia
đình truyền thống Hàn Quốc theo chế độ gia trƣởng, sau khi ngƣời cha qua đời thì
ngƣời con trai trƣởng sẽ đóng vai trò làm trụ cột của gia đình, sẽ điều hành mọi việc
trong gia đình. Và hiển nhiên là ngƣời con trai trƣởng này sẽ đƣợc thừa hƣởng phần
lớn tài sản có giá trị mà ngƣời cha để lại. Mục đích lớn nhất của hôn nhân trong gia
đình Hàn Quốc là duy trì hậu duệ và thở cúng tổ tiên với biểu hiện cụ thể là sinh ra
những ngƣời con trai để nối dõi, thừa kế gia sản, chăm sóc cha mẹ lúc già yếu. Mặc
dù trong xã hội hiện đại chế độ này đã phai nhạt đi khá nhiều nhƣng vẫn còn tồn tại
ở nông thôn, nhiều nam giới Hàn Quốc ở nông thôn không lấy đƣợc vợ vì phụ nữ
Hàn không muốn kết hôn với nam là nông dân, ngƣời có thu nhập thấp. Chính vì
điều này nên dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính của Hàn Quốc nhƣ hiện nay
và để khắc phục tình trạng này, Hàn quốc đã đề ra chính sách khuyến khích công
dân nƣớc mình kết hôn với ngƣời nƣớc ngoài để giảm tình trạng suy giảm dân số,
8 / 48
chẳng hạn nhƣ chính quyền một số tỉnh Hàn Quốc hỗ trợ cho các chàng trai kết hôn
với ngƣời nƣớc ngoài là 6000 đô la Mỹ một trƣờng hợp.
Ngoài ra, ở Việt Nam loại hình dịch vụ môi giới hôn nhân là loại hình dịch vụ
đàn ông mang quốc tịch Hàn Quốc và một phiên dịch viên ngƣời Việt khi phát hiện
13 cô gái trình diễn cho 3 ngƣời đàn ông Hàn Quốc xem mặt, tuyển vợ ngay tại sân
thƣợng siêu thị Maximart. [15]. Ngày 22 tháng 6 năm 1012, Phòng cảnh sát điều tra
tội phạm về trật tự xã hội(PC45) công an TP.HCM cho biết đã bàn giao 6 đối tƣợng
trong đƣờng dây môi giới hôn nhân trái phép với ngƣời nƣớc ngoài vừa bị PC45
phát hiện cho công an quận Tân Phú tiếp tục điều tra, xử lý [20]. Nhƣ vậy chúng ta
có thể thấy đƣợc lực lƣợng công an của nhà nƣớc ta đã rất nổ lực điều tra xử lý các
tổ chức môi giới hôn nhân trái phép trong nƣớc tuy nhiên hình thức dịch vụ này vẫn
phát triển khá mạnh.
Hiện nay, ở nƣớc ta có những Trung tâm hỗ trợ kết hôn do Hội liên hiệp phụ
nữ cấp tỉnh thành lập đã ra đời nhằm thay thế cho các công ty tƣ nhân, có nghĩa là
Nhà nƣớc sẽ tham gia trực tiếp quản lý hoạt động kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài, tuy
nhiên thực tế hiện nay các trung tâm này hoạt động rất kém hiệu quả, các hoạt động
của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc vẫn đƣợc tiến hành nằm ngoài vòng
kiểm soát của nhà nƣớc và tình trạng môi giới bất hợp pháp vẫn tiếp tục ra tăng
ngày càng cao.
1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan.
Thứ nhất : nguyên nhân về kinh tế.
Vấn đề kinh tế là một trong những vấn đề thƣờng đƣợc giới báo chí đề cập đến
với lý do chủ yếu là lấy chồng ngoại quốc với ƣớc mơ giàu sang, phú quý, có thể
đổi đời và phụ giúp, đỡ đần cho cha mẹ mình. Đây đƣợc xem là nguyên nhân chính
dẫn đến tình trạng hôn nhân xuyên quốc gia ngày càng gia tăng. Thực vậy, đại đa số
các cô gái lấy chồng nƣớc ngoài mà đặc biệt là lấy chồng Hàn Quốc đều xuất thân
từ nông thôn Nam Bộ, Hồ Chí Minh. Ở những vùng nông thôn nhƣ Kiên Giang
chiếm 46%, Hồ Chí Minh 17%, và những khu vực khác. Tuy nhiên những phụ nữ
xuất thân ở thành phố Hồ Chí Minh kết hôn quốc tế chiếm 17% thế nhƣng trên thực
10 / 48
tế trong số này cũng có một lƣợng lớn phụ nữ vốn xuất thân từ những vùng nông
thôn và hiện đang cƣ trú tại thành phố Hồ Chí Minh[6]
Trong những năm qua, sự du nhập ồ ạt của các loại hình thông tin qua báo chí,
phim ảnh, thời trang, mỹ phẩm của Hàn Quốc đã tạo ra “ Làn sóng Hàn Quốc” ở
Châu Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Hàng loạt các bộ phim Hàn đƣợc chiếu
tại Việt Nam với hình ảnh những diễn viên đẹp trai, chung thủy, giàu có Với giấc
mơ Hàn Quốc, những cô gái Việt Nam chỉ nhìn thấy qua phim ảnh những mặt tƣơi
đẹp của cuộc sống mà không thấy các khó khăn khi quyết định số phận. “Tôi mần
ruộng, còn con Nết làm nghề may, cũng đủ sống. Thế mà khi có bà mai đến nói
sang Hàn Quốc được sung sướng, nó khóc lóc, lạy lục đòi tôi cho đi lấy chồng Hàn,
còn doạ nếu tôi không đồng ý, sẽ ở giá suốt đời”, bà Rốt, mẹ của cô Nết lấy chồng
Hàn nói với giọng buồn bã.
“ Nó doạ sẽ bỏ nhà đi bụi nếu tôi không đồng ý cho lấy chồng Hàn Quốc, nên
đành chấp thuận. Cưới xong, chồng nó về nước ngay, nói để lo thủ tục bảo lãnh,
nhưng giấy tờ thiếu tùm lum, đến lần thứ năm này mới xong”, bà Lƣu than thở khi
vừa nhận đƣợc visa cho con gái đi lấy chồng Hàn Quốc. [18]
“Xem phim Hàn, thấy đàn ông xứ họ dù nghèo hay giàu, đều đẹp trai, lãng
mạn, hiếu thảo, nên em lên TP.HCM đăng ký học, hy vọng kiếm được tấm chồng
như thế”, Linh học viên tiếng Hàn tại một trung tâm ngoại ngữ chia sẻ. [18]
Không phải chỉ riêng các cô gái bị mê hoặc mà cả các bậc cha mẹ cũng coi
việc hôn nhân nhƣ là một sự cứu cánh nên đã thúc đẩy con gái lao vào, thậm chí đã
có các gia đình Việt Nam phải chịu chi phí để cho con gái lấy chồng Hàn Quốc.
“Ông bà Năm chỉ có một cô con gái duy nhất, điều kiện kinh tế gia đình cũng chẳng
lấy gì làm thiếu thốn. Trước kia, khi cô gái ở độ tuổi trăng rằm, ông bà đã tính
chuyện gả con cho một anh chàng lực điền cùng quê chân chất, thật thà. Thế
nhưng, nghe trong vùng rộ lên phong trào lấy chồng ngoại và thấy một vài gia đình
khác làm đám cưới cho con gái với “rể Hàn” cũng oách ra trò, thấy họ cũng trở
thành những “ông bà sui” có giá nên ông bà Năm cũng tính chuyện cho con gái lấy
chồng Hàn Quốc.” [17]. Trong khi đó, tại quê hƣơng hàng ngày phải chứng kiến
12 / 48
cảnh ông bố, ông chồng say xƣa rƣợu chè, chửi bới đánh đập vợ con cho nên có
phương không thấy có định hướng, tác động gì, cứ để mạnh ai nấy làm một cách tự
phát”(Tuổi trẻ, 28.4.2006). Chúng ta cần phải đi tìm lời giải cho câu hỏi của nguyên
Thủ tƣớng Võ Văn Kiệt “Ai có trách nhiệm phải giữ gìn truyền thống của phụ nữ
Việt Nam và ai là người có trách nhiệm trước nỗi nhục này, có khả năng làm giảm
nỗi đau này chăng?”(Tuổi trẻ, 28.4.2006)
Nhiều bộ, ngành còn thiếu trách nhiệm trƣớc hiện tƣợng kết hôn với ngƣời
nƣớc ngoài. Ví dụ, “ trong khi Cục thống kê Hàn Quốc có số liệu cụ thể về những
trường hợp kết hôn với người nước ngoài, thì ở Việt Nam Cục thống kê dường như
“không thèm nắm mấy con số lặt vặt” đó. Bộ Tư pháp cũng không phân tích số liệu
phụ nữ Việt Nam lấy chồng các nước. Toà án tối cao không thống kê tỷ lệ ly hôn với
người nước ngoài, phân tích nguyên nhân. Sở Tư pháp cấp giấy kết hôn với người
nước ngoài, nhưng đến xin số liệu phải đợi tách ra từng nước”. [19]
Qua đó có thể thấy, các tổ chức xã hội, các ngành chức năng còn thiếu quan
tâm đến hiện tƣợng hôn nhân có yếu tố nƣớc ngoài của phụ nữ Việt Nam, và chƣa
có đơn vị xã hội nào coi đó là nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Về phía Hàn
Quốc, Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam là nơi cho phép các cô dâu Việt sang
Hàn Quốc nhƣng không có quy định kiểm tra tiếng Hàn nhƣ đi lao động xuất khẩu.
Đây là một kẽ hở để cho việc ra đi nhằm mục đích khác nhƣ đi lao động, nhập quốc
tịch hoặc đi nƣớc khác và là điểm nhấn cực kỳ quan trọng.
Tóm lại, Sự gia tăng các trƣờng hợp kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công
dân Hàn Quốc trong những năm qua có thể do xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác
nhau, trong đó những nguyên nhân khách quan có thể kế tới ở đây đó là do Đảng và
Nhà nƣớc ta thực hiện chính sách đối ngoại mở cửa, hợp tác với các nƣớc trong khu
vực và trên thế giới dẫn đến sự giao lƣu hợp tác giữa công dân các nƣớc trên thế
giới với Việt Nam, thông qua đó, họ gặp gỡ tìm hiểu và đi đến kết hôn với nhau.
Mặt khác, do Hàn quốc thực hiện các chính sách mang tính khuyến khích công dân
nƣớc mình kết hôn với ngƣời nƣớc ngoài nhằm giảm thiểu tình trạng suy giảm dân
số của đất nƣớc mình. Bên cạnh đó cũng phải kể tới nguyên nhân đó là do hoạt
động quản lý của Nhà nƣớc ta về hôn nhân có yếu tố nƣớc ngoài còn nhiều bất cập,
14 / 48
15 / 48
hôn với ngƣời nƣớc ngoài của các cô gái Việt Nam mà chủ yếu là hiện tƣợng lấy
chồng Đài Loan nở rộ lên một cách mạnh mẽ thì từ năm 2005 trở về sau các trung
tâm môi giới kết hôn với ngƣời Đài Loan đã giảm mạnh khi các cô gái mà chủ yếu
là các cô gái nông thôn đã nhắm đến vùng đất mới, vùng đất “Hàn Quốc mơ ƣớc”
nên thơ, lãng mạng nhƣ trong phim ảnh. “Phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc:
những cuộc hôn nhân không tình yêu và bao nỗi khó khăn”, Vietnamnet, thứ 5,
30/08/07, theo bài viết thì tác giả chỉ rõ một trong những nguyên nhân dẫn đến khó
khăn của một số cô gái Việt Nam lấy chồng nƣớc ngoài, trong đó có Hàn Quốc là
do hai bên không quen biết nhau. Chú rể gặp cô dâu ở trung tâm môi giới, chấp
nhận cuộc hôn nhân không tình yêu, không có giao tiếp, không hiểu biết về văn hóa
và lối sống của nhau Có những cô dâu bị chồng đánh nhƣng không hiểu vì sao bị
đánh. Bản chất của những cuộc hôn nhân nhƣ thế này mang yếu tố rủi ro rất lớn,
đƣợc chuyện thì coi nhƣ không có gì bàn cãi, còn không đƣợc thì không biết bao
nhiêu chuyện tiêu cực diễn ra mà hầu hết những chuyện tình mai mối không tình
yêu nhƣ thế này thƣờng không có tuổi thọ lâu dài, một là ly dị, hai là gây nên những
chuyện thƣơng tâm làm đau lòng gia đình và xã hội. Đỗ Hoa, “Để làm lành mạnh
hóa quan hệ hôn nhân giữa cô dâu Việt Nam và chồng Hàn Quốc: Cần sự nỗ lực từ
hai phía”, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 22/05/06, theo bài viết thì tác giả muốn
nhấn mạnh “sự kiện ngày 21 tháng 4 năm 2006” khi Nhật báo hàng đầu của Hàn
Quốc đăng bài “Các trinh nữ Việt Nam đến Korea – đất nƣớc của hy vọng” đã gây
nên những phản ứng dữ dội cả ở Việt Nam lẫn Hàn Quốc. Và theo tác giả thì những
chuyện nhƣ thế này không tiếp tục diễn ra nữa vì nó sẽ làm mất tình đoàn kết, hữu
nghị giữa hai nƣớc và tác giả chỉ ra rằng để làm lành mạnh mối quan hệ hôn nhân
giữa phụ nữ Việt Nam và chồng Hàn Quốc không còn cách nào khác là cần phải
tiến hành đồng bộ các giải pháp và sự nỗ lực từ 2 phía. “Cô dâu Việt lấy chồng Hàn
sẽ đƣợc bảo vệ”, diễn đàn “Chính sách về vấn đề kết hôn quốc tế Hàn – Việt”, tại
diễn đàn này bà Yang Seung Jo, cục trƣởng Cục chính sách gia đình Hàn Quốc đã
trả lời những câu hỏi của báo chí Việt Nam một cách chân thành và thiết thực nhất.
ngƣời kết hôn mang yếu tố nƣớc ngoài vào cuối năm 2011 tổng cộng có 128,194
ngƣời và nếu xét theo quốc tịch thì thì thứ tự nhƣ sau: ngƣời Trung Quốc (bao gồm
17 / 48
cả ngƣời dân tộc Choson) là 58,885 ngƣời trong đó ngƣời dân tộc Choson là 27,777
ngƣời, 36,371 ngƣời Việt Nam, 7,974 ngƣời Phi-líp-pin, 4,471 ngƣời Campuchia,
2,084 ngƣời Mông Cổ, vv [3]
Việc kết hôn với ngƣời nƣớc ngoài đã trở thành một hiện tƣợng phổ biến ở
nƣớc ta, đặc biệt là xu hƣớng lấy chồng Hàn Quốc của các cô gái nông thôn. Trên
thực tế, việc phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc không phải lúc nào cũng nhƣ tƣởng tƣợng
trong phim của các cô về một cuộc sống tốt đẹp hơn ở một chân trời mới, với một
ngƣời chồng mơ ƣớc và bao dự định hoài bão về đất nƣớc xinh đẹp Hàn Quốc, mà
thực ra ở vấn đề này đã có rất nhiều chuyện bất cập diễn ra xung quanh việc cô dâu
Việt lấy chồng Hàn nhƣ bị môi giới lừa bán vào các ổ mại dâm, bị bóc lột sức lao
động, lạm dụng tình dục, bị đánh đập và hành hạ dã man thậm chí dẫn đến nhiều cái
chết thƣơng tâm nơi đất khách quê ngƣời.
1.2 Khái niệm
1.2.1Gia đình đa văn hóa là gì?
Hiện nay, cho đến bây giờ đã có rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề kết hôn di
trú của những ngƣời vợ Việt chồng Hàn sống tại Hàn Quốc và Việt Nam, hoặc
ngƣợc lại. Tuy nhiên, vẫn chƣa có những định nghĩa cụ thể về khái niệm “Gia đình
đa văn hóa”.
Theo tiếng Hàn, khái niệm “Gia đình đa văn hóa” đƣợc viết là 다문화 가정 -
Damunhwa Gajoeng (Gia tộc đa văn hóa) hoặc là 다문화 가족 - Damunhwa Gajok
(Gia đình đa văn hóa). Theo nghiên cứu của Seo Kwang-sik, (Seo Kwang-sik,
Nghiên cứu chính sách hỗ trợ sự thích nghi xã hội đối với các gia đình đa văn hóa,
luận văn tiến sỹ, trƣờng đại học Inha, 2010.12, trang 9) thì Gia đình đa văn hóa có ý
nghĩa bao gồm những con ngƣời khác về dân tộc hoặc khác văn hóa, còn Gia tộc đa
văn hóa đƣợc dùng để chỉ tập hợp cộng đồng mà các thành viên trong gia đình khác
về dân tộc hay khác quốc tịch hay chỉ thành viên trong cộng đồng đó. Nhƣng thực tế
đình đa văn hóa Việt - Hàn (Damunhwa Gajok – 다문화 가족) hay khái niệm Gia
đình di trú Hàn – Việt (LeeJu Gajok - 이주가족) nhƣ sau: “Gia đình di trú Hàn Việt
là những gia đình có hai dòng máu của hai dân tộc Hàn Quốc và Việt Nam sống và
19 / 48
sinh hoạt cùng chung với nhau dƣới một mái nhà, thế hệ con cháu sau này mang hai
dòng máu do ảnh hƣởng của cha và mẹ”.
Vì đề tài nghiên cứu đề cập đến sự thích nghi của chú rể Hàn Quốc sống ở
Việt Nam, nên ngƣời viết sẽ đề cập sâu hơn đến vấn đề xoay quanh trƣờng hợp thứ
2: chú rể Hàn Quốc kết hôn với cô dâu Việt Nam sống tại Việt Nam, mà trong đó là
trọng tậm nghiên cứu là những mặt thuận lợi cũng nhƣ khó khăn của những chàng
rể ngƣời Hàn Quốc sẽ mang 50% dòng máu Việt Nam này.
20 / 48
CHƢƠNG II
NHỮNG MẶT THÍCH ỨNG CỦA NGƢỜI CHỒNG
HÀN QUỐC SỐNG TẠI VIỆT NAM
Bên cạnh những điểm tƣơng đồng về văn hóa từ lâu đời, khiến cho những chú
rể Hàn Quốc lấy làm động lực quyết đinh chọn những cô gái Việt Nam làm bạn đời
trăm năm cho mình. Thì về thực tế, Việt Nam và Hàn Quốc vốn dĩ là những quốc
gia có những phong tục tập quán đa phần là khác nhau, ngôn ngữ, thời tiết, khí hậu
khác nhau dẫn đến ẩm thực, và quan niệm về ẩm thực, cái ngon cái ngon cái đẹp
của những con ngƣời ở hai quốc gia khác nhau. Ngoài ra, với hai chế độ chính trị
khác nhau của hai nƣớc, những quy định của pháp luật cũng khác nhau và luật pháp
Việt Nam hiện nay cũng còn thiếu những chế độ ƣu đãi cho các chủ rể Hàn Quốc
sống tại Việt Nam này. Vì vậy, khi kết hôn và định cƣ tại quê vợ đã khiến cho họ đã
gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp, trong sinh hoạt hằng ngày, công việc, dạy dỗ
con cái… Sau đây ngƣời viết xin làm rõ một số vấn đề khó khăn cũng nhƣ những
vấn đề đang gặp phải của những chủ rễ Hàn Quốc sẽ mang 50% dòng máu Việt