Tư tưởng triết học Nho gia và những giá trị, hạn chế của nó - Pdf 24

Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU
Đạo đức là một vấn đề luôn luôn được chú trọng trong bất kỳ một xã hội nào.
Một trong những trường phái triết học đề cao vấn đề đạo đức là Nho gia. Nho gia là
một trường phái triết học lớn được hoàn thiện liên tục và có ảnh hưởng sâu rộng, lâu
dài đến nền văn hóa tinh thần của Trung Quốc nói riêng, của nhiều quốc gia phương
Đông nói chung và đặc biệt là Việt Nam. Học triết học Nho gia giúp chúng ta hiểu
rõ hơn về giá trị của đạo đức, hiểu đúng và đầy đủ về đạo đức là nền tảng để xây
dựng xã hội.
Với những ý nghĩa đó, em thực hiện đề tài: “Tư tưởng triết học Nho gia và
những giá trị, hạn chế của nó”. Nhiệm vụ đặt ra trong bài tiểu luận này là phải tìm
hiểu rõ tư tưởng của các triết gia tiêu biểu thuộc các trường phái của Nho gia. Đồng
thời nêu lên được những giá trị sâu sắc của triết học Nho gia và những hạn chế của
triết học Nho gia.
Khi thực hiện bài tiểu luận này em đã sử dụng nhiều tài liệu nhưng tài liệu
chính là giáo trình Triết học phần I: Đại cương về lịch sử triết học, của tiểu ban triết
học thuộc khoa lý luận chính trị, trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
biên soạn.
Trong quá trình thực hiện bài tiểu luận, do kiến thức còn hạn chế nên không
tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy để em hoàn
thành bài tiểu luận này được tốt hơn.
HVTH: Nguyễn Hoàng Thái Châu 1
Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ,
HẠN CHẾ CỦA NÓ.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC NHO GIA
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của triết học Nho gia
- Nho gia là một trường phái triết học lớn và được hình thành rất sớm ở Trung
Quốc. Trãi qua quá trình hình thành và hoàn thiện lâu dài, Nho gia có ảnh hưởng lớn
đến văn hóa tinh thần của Trung Quốc và các quốc gia phương Đông.
- Nho gia do Khổng Tử sáng lập vào cuối thời Xuân Thu. Khổng Tử rất xem

+ Tuân Tử (315-230 TCN) phát triển Nho gia theo xu hướng duy vật. .[1,53]
+ Mạnh Tử (372-298 TCN, người Sơn Đông, học trò của Khổng Cấp là cháu
nội của Khổng Tử) phát triển Nho gia theo xu hướng duy tâm. Mạnh Tử tin tưởng
sâu sắc vào sự tồn tại của thiên mệnh. Ông lý giải bản tính thiện của con người
thông qua lý luận về nhân, lễ, nghĩa và trí, trong đó nhân, nghĩa là quan trọng nhất.
[1,53]
1.2.1.2 Một số tư tưởng triết học cơ bản của Nho giáo nguyên thủy
- Nho giáo nguyên thủy là triết lý của Khổng Tử và Mạnh Tử về đạo làm người
quân tử và cách thức trở thành người quân tử, cách cai trị đất nước.
a) Tư tưởng của triết học Nho gia về đạo đức xã hội
- Nho gia nguyên thủy cho rằng, nền tảng của gia đình - xã hội là những quan
hệ đạo đức - chính trị, đặc biệt là ba quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ. Các
quan hệ này được Nho gia gọi là đạo. Khi các quan hệ này chính danh thì xã hội ổn
định, gia đình yên vui. Xã hội thời Xuân thu loạn lạc, kỷ cương lỏng lẻo. Vì vậy,
Khổng Tử cho rằng, muốn cải loạn thành trị, muốn thực hiện xã hội đại đồng thì
phải chấn chỉnh lại ba mối quan hệ đó, Nho gia nguyên thủy lấy giáo dục đạo đức
làm tư tưởng chủ đạo.
HVTH: Nguyễn Hoàng Thái Châu 3
Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
- Quan niệm về lễ: Theo Khổng Tử để đạt được nhân, để lập lại trật tự, khôi
phục kỷ cương cho xã hội Khổng Tử chủ trương phải dùng lễ, đặc biệt là lễ của nhà
Chu. Vì lễ có thể: xác định được vị trí, vai trò của từng người; phân định trật tự, kỷ
cương trong gia đình và ngoài xã hội; loại trừ những tật xấu và tạo ra những phẩm
chất cá nhân mà xã hội đòi hỏi. Khổng Tử cho rằng: lễ trước hết là lễ giáo phong
kiến như phong tục tập quán, những quy tắc, quy định về trật tự xã hội; sau đó là
luân lý đạo đức như ý thức, thái độ, hành vi ứng xử.
b) Tư tưởng của triết học Nho gia về con người
- Dựa trên thuyết thiên mệnh, Khổng Tử cho rằng: “Thiên mệnh chi vị tính,
xuất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo và tính tương cận, tập tương viễn” [1,57].
Điều này có nghĩa là: Con người có tính người, tính người do trời phú, sự phú cái

đó hay khi làm một việc gì đó mà ta cảm thấy thoải mái, thảnh thơi, hứng thú trong
lương tâm thì đó là ta nói điều nghĩa, ta làm việc nghĩa.
+ Quan niệm về trí: Trí là sự sáng suốt nhận thức thấu đáo mọi vấn đề, hiểu
thấu đạo trời, đạo người, hiểu cả thiên hạ, biết sống hợp với nhân. Khổng Tử coi trí
là điều kiện để có nhân. Muốn có trí thì phải học.
+ Quan niệm về tín: Tín là lòng dạ ngay thẳng, lời nói và việc làm nhất trí với
nhau. Tín là đức trong mối quan hệ bạn bè và rất quan trọng với mọi người. Sách
Đại học chỉ rõ rằng “ Giao kết với người, cốt ở chữ tín”. Tín củng cố sự tin cậy giữa
người với người, củng cố lòng tin với đạo lý thánh hiền, tin vào sự tốt đẹp.
+ Quan niệm về dũng: Dũng là sức mạnh tinh thần, lòng can đảm, biết xấu hổ
vì cái sai, cái xấu để vứt bỏ chúng mà làm theo nhân nghĩa…Là đức nói lên tinh
thần hăng hái, quyết tâm khắc phục khó khăn, dũng cảm biểu hiện sức mạnh và ý
chí thực hiện mục đích của mình. Khổng Tử rất quan tâm tới chữ dũng, nhưng ông
vừa cổ vũ vừa dè dặt. Ông cổ vũ tinh thần quả cảm, khí phách anh hùng của những
nhân dân đối với vua chúa phong kiến. Mặt khác, ông lại dè dặt đối với dũng vì
người dũng là người không sợ sệt. Ông thường hay gắn dũng với nghĩa để kết luận
HVTH: Nguyễn Hoàng Thái Châu 5
Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
người quân tử coi trọng điều nghĩa, gắn dũng với lễ cho thấy rằng quân tử ghét
những kẻ có dũng mà không có lễ…
- Theo Nho gia, ngũ luân là năm mối quan hệ mà con người phải xác định và
làm tròn trách nhiệm của mình trong các quan hệ ấy, trong đó có ba quan hệ chính –
tam cương là vua tôi, cha con, chồng vợ. Trong tam cương có hai quan hệ mấu chốt
là vua - tôi, biểu hiện bằng đức trung, cha - con biểu hiện bằng đức hiếu. Giữa trung
và hiếu, thì trung đứng đầu. Những đức tính con người thường xuyên phải trau dồi
là ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Đứng đầu ngũ thường là nhân, nghĩa, trong
đó nhân là chủ. Vì vậy gọi đạo của Khổng Tử là đạo nhân. Nho gia đặt con người
trong năm mối quan hệ với những lập luận khá chặt chẽ, làm cơ sở cho mục tiêu
phấn đấu và nội dung tu dưỡng của con người là có tính hợp lý hơn. Nó thực sự góp
phần củng cố trật tự xã hội, nó là sản phẩm của xã hội và cũng là nguyên nhân trì trệ

- Khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc và Đạo giáo ra đời, Nho giáo hấp thụ
một số tư tưởng của hai học thuyết này để phát triển tiếp tục. Sang thời nhà Tống,
Nho giáo mới thật sự phát triển mạnh. Chu Đôn Di (1017-1073) và Thiệu Ung
(1011- 1077) là những người đã khởi xướng lý học trong Nho giáo. Theo thuyết thái
cực đồ, Chu Đôn Di cho rằng: Nguồn gốc của Vũ trụ là thái cực; Thái cực có thể
động và thể tĩnh; Động sinh ra dương, động cực rồi lại tĩnh, và ngược lại. Âm dương
tác động sinh ra Ngũ hành, rồi sinh ra vạn vật. Thời này còn có hai anh họ Trình là
Trình Hạo (1032-1085), Trình Di (1033-1107), và Chu Hy (1130-1200)… là những
nhà lý học xuất sắc. Họ đã nêu thuyết cách vật tri trí (cách vật, trí tri, thành ý, chính
tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)…[1,54]
1.2.4 Nho giáo thời Minh - Thanh
- Nho giáo tiếp tục chi phối đời sống tư tưởng xã hội Trung Quốc qua các triều
đại tiếp theo. Đến thời Minh - Thanh thì Nho giáo không có phát triển mới nổi bật
mà ngày càng khắc khe và bảo thủ. Sang thế kỷ XIX, Nho giáo trở nên già cỗi và
không còn hợp với thời đại nữa.
HVTH: Nguyễn Hoàng Thái Châu 7
Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC NHO GIA
2.1 Những giá trị của triết học Nho gia
2.1.1 Nho gia đã đưa ra những tiêu chuẩn đạo đức nhằm hoàn thiện nhân cách
cho con người
- Chúng ta nhận thấy, với tư cách là hệ tư tưởng chỉ đạo đường lối trị nước ở
Trung Quốc trên 2000 năm, Nho giáo đã đóng góp lớn vào sự nghiệp tổ chức và
quản lý xã hội, vào sự nghiệp phát triển văn hóa và giáo dục, quá trình rèn luyện đạo
đức cá nhân, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
- Dựa trên thuyết thiên mệnh, Mạnh Tử cho rằng nhân chi sơ tính bản thiện;
bởi vì, khi sinh ra mỗi con người đều có đủ nhân, lễ, nghĩa, trí. Nhân, lễ, nghĩa, trí là
xuất phát từ tâm. Là người ai cũng có cái tâm. Tâm là cội nguồn của tính thiện trong
con người. Vì vậy, con người cần phải trường kỳ tâm dưỡng kỳ tính, tức là giữ gìn
cái tâm thiện ấy. Để vãn hồi tính thiện cho con người thì phải lập lại trật tự kỷ cương

mối quan hệ với những lập luận khá chặt chẽ, làm cơ sở cho mục tiêu phấn đấu và
nội dung tu dưỡng của con người là có tính hợp lý hơn. Nó thực sự góp phần tạo ra
mục tiêu phấn đấu cho mỗi con người.
- Mục đích của giáo dục là học để ứng dụng cho có ích với đời, với xã hội, chứ
không phải là để làm quan hưởng bổng lộc, học để hoàn thiện nhân cách. Học để tìm
tòi đạo lý. Quan điểm giáo dục của Nho gia với mục đích cao cả thực sự là một quan
điểm mang tính nhân văn sâu sắc.
- Khổng Tử coi giáo dục cho dân đạo lý làm người là quan trọng, thể hiện tư
tưởng giáo dục của Nho giáo, tư tưởng của Khổng Tử là nhằm đào tạo lớp người lấy
đức trị là chính.
2.1.4 Những giá trị về mặt chính trị
- Khổng Tử mong muốn có một xã hội mà ở đó có trên dưới phân minh phổ
biến đó là trật tự về danh vị. Thuyết chính danh của Nho gia nhằm đưa xã hội loạn
trở thành trị. Khổng Tử cho rằng xã hội cần phải có chính danh. Chính danh có
HVTH: Nguyễn Hoàng Thái Châu 9
Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
nghĩa là một người cần phải có vị trí phù hợp với cái danh của họ. Theo Nho gia,
trong xã hội, mỗi người làm đúng theo danh của mình thì xã hội sẽ yên ổn và có trật
tự. Như vậy, thuyết chính danh của Nho gia đã góp phần tạo nên cơ sở để xác định
đúng danh vị và quan hệ trong xã hội, là cơ sở để ổn định chính trị của quốc gia.
- Nho gia chủ trương theo thuyết lễ trị. Những quan niệm về lễ của Nho gia
bao gồm: nghi thức, quy chế, kỷ cương, trật tự, tôn ti của cuộc sống chung trong xã
hội cũng là cơ sở tốt để quản lý xã hội. Như vậy, thuyết lễ trị của Nho gia đã góp
phần làm tiền đề cho việc xây dựng cơ sở để quản lý xã hội.
2.2 Những hạn chế của triết học Nho gia
2.2.1 Những hạn chế về mặt văn hóa
- Cuối thời đại phong kiến, do tính phục cổ, bảo thủ mà Nho giáo đã tạo ra tình
trạng trì trệ kéo dài của xã hội Trung Quốc, làm cho Trung Quốc không bắt kịp vào
trào lưu văn minh của thế giới.
- Quan niệm về nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp rõ ràng, ông cho rằng

những quan hệ chính trị và đạo đức thực tế cho nên khi xã hội phong kiến rối loạn,
vấn đề số phận và yêu cầu giải phóng con người được đặt ra thì Nho giáo lại không
có cách giải quyết.
2.2.3 Những hạn chế về mặt kinh tế
- Các nhà Nho chỉ chăm lo vào học hành, thi cử mà không chăm lo phát triển
kinh tế, xa rời thực tế dẫn đến nền sản xuất kém phát triển. Chính sách kinh tế của
nhà nước là trọng nông, nhiều chính sách xã hội và văn hóa cũng cản trở cải cách.
Nho giáo cũng coi thường những người chạy theo lợi nhuận, không coi trọng thương
nghiệp.[6,16]
2.2.4 Những hạn chế về mặt chính trị, xã hội
- Đòi hỏi của Nho giáo nguyên thủy về người cai trị - người quân tử không thể
là dân võ biền mà phải là người có một vốn văn hóa toàn diện là một đòi hỏi chính
đáng. Nhưng chủ trương xây dựng một xã hội đại đồng của Nho giáo hoàn toàn
không dựa trên các quan hệ kinh tế - xã hội, không xuất phát từ việc xây dựng nền
HVTH: Nguyễn Hoàng Thái Châu 11
Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
sản xuất vật chất, không dựa vào quần chúng nhân dân bị trị mà chỉ dựa vào các
quan hệ đạo đức - chính trị - xã hội, xuất phát từ việc giáo dục, rèn luyện nhân cách
cá nhân cho tầng lớp thống trị là một chủ trương duy tâm, ảo tưởng, xa rời thực tế
cuộc sống bấy giờ. Do không phù hợp với ước vọng của quần chúng nhân dân, nó
mãi mãi chỉ là một lý tưởng.
- Do không hiểu nguyên nhân sâu xa của các sự biến lịch sử và bị những quyền
lợi giai cấp quy định nên những kế sách chính trị của Khổng Tử chỉ dừng lại ở tính
chất cải lương và duy tâm, chứ không phải bằng cách mạng hiện thực.[3,53]
- Phong kiến dựa vào Nho giáo để cai trị với những thủ tục hà khắc trong quan
hệ tam cương ngũ thường: Theo Nho giáo mọi người trong xã hội đều bị ràng buộc
bởi các mối quan hệ tự nhiên đó là quan hệ cha con, vua tôi, vợ chồng, anh em, bạn
bè. Các mối quan hệ này phản ánh quan hệ gia đình và quan hệ xã hội trong cuộc
sống. Trong xã hội phong kiến mỗi gia đình được củng cố bằng chế độ tông pháp và
chế độ gia trưởng, còn các quan hệ xã hội thì được củng cố bằng chế độ chính trị

nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), Nhà xuất bản Lý luận chính
trị, Hà Nội, 2006.
[3] GS,TS Nguyễn Hữu Vui và GS,TS Nguyễn Ngọc Long (đồng chủ biên), Giáo
trình Triết học Mác – Lênin (dùng trong các trường đại học và cao đẳng), Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
[4] TS Bùi Văn Mưa, Bài giảng Triết học phần I, Trường đại học Kinh Tế Thành
Phố Hồ Chí Minh, 2011.
[5] http://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20080328014503AATEqAK
[6]http://docs.4share.vn/docs/14937/Nhung_gia_tri_tich_cuc_va_han_che_trong_ho
c_thuyet_nho_giao_vaanh_huong_cua_noo_viet_nam_hien_nay.html
HVTH: Nguyễn Hoàng Thái Châu 14


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status