TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TIỂU LUẬN
MÔN TRIẾT HỌC
TÊN ĐỀ TÀI:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA
& NHỮNG GIÁ TRỊ HẠN CHẾ CỦA NÓ
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
Học viên: HUỲNH THANH PHỤNG
Mã học viên: CH1101029
Khóa học: K6 - 2011
Nhóm: 3
STT: 29
TP.HCM – Tháng 12/2011
MỤC LỤC:
MỤC LỤC: 2
1. Tư tưởng triết học Đạo gia 3
1.1. Lý luận đạo và đức 3
1.1.2. Quan niệm về đức 4
1.2. Thế giới quan - Nhân sinh quan 4
1.2.1. Thế giới quan 4
1.2.2. Nhân sinh quan 4
1.3. Tư tưởng biện chứng 5
1.3.1. Luật quân bình (luật bù trừ) 5
1.3.2. Luật phản phục 6
1.4. Quan điểm về chính trị xã hội 6
1.5. Quan điểm trong phương châm xử thế 7
2. Những giá trị, hạn chế của đạo gia 7
2.1. Giá trị 7
2.1.1. Trong hoạt động nhận thức 7
2.1.2. Trong hoạt động thực tiễn 8
2.2. Hạn chế 10
Nam Hoa Kinh.
Những tư tưởng triết học cơ bản của trường phái Đạo gia được thể hiện chủ yếu
trong lý luận về đạo và đức. Lý luận này thể hiện quan niệm biện chứng về thế giới và
là cơ sở để Lão Tử xây dựng thuyết vô vi nhằm giải quyết những vấn đề do thời đại đặt
ra.
PHẦN NỘI DUNG
1. Tư tưởng triết học Đạo gia
1.1. Lý luận đạo và đức
1.1.1. Quan niệm về đạo
"Đạo" là sự khái quát cao nhất của triết học Lão – Trang, đạo là bản nguyên của
vũ trụ, nó là cơ sở tối sơ là nguồn gốc đầu tiên của vạn vật, sinh ra vạn vật. Vạn vật
nhờ có đạo mà sinh ra, sự sinh sản ra vạn vật theo trình tự "đạo sinh một, một sinh hai,
hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật". Đạo còn là chúa tể vạn vật, phép tắc của vạn vật và khi
mất đi là lúc vạn vật quay trở về với đạo. Đạo gia xem đạo không chỉ là nguồn gốc, bản
chất mà còn là quy luật của mọi cái đã, đang và sẽ tồn tại trong thế giới. Điều này cho
phép hiểu đạo như nguyên lý thống nhất - vận hành của vạn vật – Nguyên lý đạo pháp
tự nhiên. Cho thấy quan niệm về đạo, đức của trường phái Đạo gia thể hiện một trình
độ khái quát cao của tư duy biện chứng khi giải quyết vấn đề bản nguyên thế giới.
1.1.2. Quan niệm về đức
“Đức” là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng sự vật, đạo sinh ra vạn vật nhưng
làm cho vật nào hình thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức. Đạo vốn
không tên, đến đức mới bắt đầu có tên, vạn vật do đức chứa mà lớn nhỏ, dài ngắn…
khác nhau.
Mọi vật muốn tồn tại được đều phải có đức, nhưng đức nhờ đạo mà sinh ra, đức
nuôi lớn và bảo tồn mọi vật, nhưng lại luôn theo sự tồn tại của đạo, đạo mất thì đức
cũng không còn.
Nếu Đạo là cái Tĩnh vô hình thì Đức là cái Động hữu hình của Đạo. Nếu Đạo là
bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ. Đạo đức của Đạo gia là
một phạm trù vũ trụ quan. Khi giải thích bản thể của vũ trụ, Lão Tử sáng tạo ra phạm
trù Hữu và Vô, trở thành những phạm trù cơ bản của lịch sử triết học Trung Hoa.
hạ", thể hiện một sự bất mãn cao với hiện thực xã hội đương thời.
1.3. Tư tưởng biện chứng
Đạo đức kinh của Lão Tử thể hiện tư tưởng biện chứng chất phác, ông cho rằng
sự tồn tại của sự vật là không cô lập, mà có mối liên hệ qua lại với nhau, theo Lão Tử
thế giới vận động trong một quy luật duy nhất đó là “Đạo”. Nơi cội nguồn của mối liên
hệ phổ biến và sự vận động biến đổi của vũ trụ vạn vật, mà nguồn gốc là do các mối
liên hệ, tác động, chuyển hóa giữa các mặt đối lập; cách thức là khi phát triển đến tột
đỉnh rồi sẽ trở thành cái đối lập, tương phản với chính nó; khuynh hướng của sự vận
động biến đổi là sự trở về với Đạo. Thông qua tư tưởng biện chứng đó, Đạo gia đã khái
quát thành hai quy luật căn bản chi phối toàn bộ vũ trụ vạn vật, đó là luật quân bình và
luật phản phục:
1.3.1. Luật quân bình (luật bù trừ)
Luật bình quân Lão Tử cho rằng mọi vật đều sinh luôn có hai mặt thống nhất với
nhau, vận động và chuyển hóa lẫn nhau. Lão tử nói: “Ngăn là ta biết nó ngắn bởi có vật
dài” hay “Phúc là chỗ tự của họa, họa là chỗ náo của phúc”.
Nhờ luật bình quân mà vạn vật biến đổi theo một quy luật nhất định, chuyển hóa
lẫn nhau giữa các mặt đối lập một cách tự nhiên. Ông cho rằng “cái gì vơi ắt sẽ được
đầy cái gì cũ ắt sẽ được mới”.
Được chi phối bởi luật bình quân mọi vật tồn tại trên trời đất theo một lẽ tự nhiên
rất hợp lý, công bằng và chu đáo, đó chính là “đạo của trời”.
1.3.2. Luật phản phục
Ngoài luật bình quân vạn vật trong vũ trụ còn tuân theo luật phản phục, theo luật
phản phục thì cái gì phát triển đến đỉnh cao sẽ trở thành cái đối lập với chính nó. Như
hết ngày lại đến đêm, hết mưa thì tới nắng, dao sắc rồi lại cùn…
Luật phản phục làm cho mọi vật vận động biến hóa một cách nhịp nhàng, tự
nhiên. Nhờ có luật phản phục mà vạn vật trong tự nhiên biến đổi một cách tuần hoàn
bất tận như trăng khuyết rồi lại tròn, tròn rồi lại khuyết.
Phản phục còn là sự trở về với đạo của vạn vật “phản giả đạo chi động”, “đến chỗ
cùng cực hư không là giữ vững được trong cái tĩnh”. Vạn vật cùng đều sinh ra, ta lại
thấy nó trở về với gốc
Từ: nhân từ là ăn ở hiền lành, rộng thương kẻ khác, thương yêu, xem mọi
người như mình, không phân biệt người lành kẻ dữ, nên không bao giờ
có kẻ thù.
Kiệm: Tiết kiệm, chi tiêu dè xẻn đúng mực, không xa hoa, phung phí,
không khêu gợi lòng tham dục của con người, làm gì luôn luôn cũng có
mực độ, lòng dạ quảng đại quang minh. “Từ cố năng dũng, Kiệm cố năng
quảng”.
2. Những giá trị, hạn chế của đạo gia
2.1. Giá trị
2.1.1. Trong hoạt động nhận thức
Một là, Những quan điểm triết học cơ bản của Đạo gia nêu trên đã cung cấp cho
chúng ta một số hạt nhân hợp lý về sự tồn tại, vận động và biến đổi không ngừng của
thế giới khách quan, độc lập với ý thức con người. Thế giới thống nhất trong đa dạng
và phong phú, thể hiện muôn hình vạn trạng, vô vàn các mối liên hệ, là sự chuyển hoá,
dung hoà của 2 mặt đối lập, nó luôn có sự chuyển hoá và bài trừ lẫn nhau và trong bản
thân từng sự vật. Thế giới không do ai sáng tạo ra hoặc chi phối nó dưới bất kỳ hình
thức nào, mà tự sinh thành và hoạt động theo những quy luật tự nhiên vốn có. Với ý
nghĩa đó, nếu chúng ta rút ra bài học tư tưởng tích cực và tiến bộ, đồng thời là cơ sở
quan trọng để xây dựng và phát triển quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
chống lại chủ nghĩa duy tâm, quan điểm siêu hình.
Hai là, Thuyết vô vi giúp con người sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần
phác, không giả tạo, không gò ép trái với bản tính của mình ngược lại với bản tính của
tự nhiên; là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức. Triết lý vô vi áp dụng
vào đời sống cá nhân là “chỉ vì không tranh nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình”.
Từ thuyết này Lão Tử đã rút ra nghệ thuật sống dành cho con người là từ ái, cần kiệm,
khiêm nhường và khoan dung, không tham lam, vụ lợi, giả dối; không đấu tranh, giành
giật; không đua đòi, bon chen, đố kỵ
Ba là, Về chính trị - xã hội Lão Tử không tán thành lối cai trị cưỡng chế, áp đặt
đương thời, phê phán sự áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ phong kiến, lên án sự lộng
hành và tàn bạo của vua chúa, quyền lực của nhà vua và những đạo luật nhằm mục
điều kiện khách quan.
Bốn là, Đạo gia còn dạy con người phải biết sống khiêm tốn, giản dị, ung dung,
tự tại, không lo sợ, không đau buồn… trước mọi biến động xảy ra trong đời; không
tham lam, vụ lợi, giả dối; không đấu tranh, giành giật; không đua đòi, bon chen, đố
kỵ… Mà cần phải sống hòa nhã, trung dung, ngay thẳng, tự nhiên thuần phác, “thản
nhiên mà đến, thản nhiên mà đi”.
Năm là, Quốc gia lý tưởng theo ông là mong ước, hy vọng của con người và có lẽ
chỉ khi nào loài người bước vào giai đoạn CNCS thì những lý tưởng mà Lão Tử ấp ủ
mới hiện thực hoá. Tuy rằng những chủ trương của ông chỉ là lý tưởng (thậm chí có cả
tính không tưởng) nhưng vẫn đóng góp đáng kể vào sự phát triển của tư tưởng phương
Đông cũng như của Trung Quốc.
Sáu là, Sự thâm nhập và phát triển của đạo giáo ở việt nam, cũng giống như ở
Trung Hoa, Đạo giáo đã được người dân sử dụng làm vũ khí chống lại kẻ thống trị.
Ngay khi thâm nhập nó đã là vũ khí chống lại phong kiến phương Bắc. Phong trào
nông dân khởi nghĩa ở các tỉnh Nam Trung Hoa vào thế kỷ II đều có liên hệ với các
cuộc khởi nghĩa nông dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân. Vào thời kỳ phong kiến dân
tộc ở Việt Nam, Đạo giáo thường được dùng để thu hút nông dân tham gia vào các
cuộc bạo động chống lại cường hào ác bá địa phương và quan lại trung ương.
Bảy là, Không chỉ dạy con người trở về với gốc Đạo, huyền đồng cùng vũ trụ, nó
còn đóng góp rất nhiều cho nền văn minh Trung Quốc. Rất nhiều sinh hoạt độc đáo của
người Trung Quốc đã lan truyền khắp thế giới như :
Khuynh hướng hội họa của dòng tranh "Thủy mặc" hay "Tranh sơn thủy" thể
hiện sự cân bằng tuyệt hảo giữa Âm - Dương.
Thuật Phong thủy chỉ rõ cách chọn hướng, cách thiết kế môi trường xây dựng
theo một hệ thống phối hợp các yếu tố quan trọng của không gian và thời gian
nhằm mang lại sự hài hòa tối đa trong mọi tương tác giữa con người và thiên
nhiên.
Võ thuật với nguyên tắc "mềm như nước" nhưng hết sức hiệu quả, giúp cho con
người giải tỏa những tắt nghẽn sinh lực, đưa thân thể trở về trạng thái cân bằng,
vừa hài hòa thể lý lẫn tinh thần mà ngày nay rất phổ biến. Đó là môn Thái Cực
không cần phân biệt cái này với cái kia, đúng – sai, trên – dưới, sang – hèn, bần – tiện
… đều là như nhau; mà nếu chúng là như nhau thì cần loại bỏ chúng ra một bên để tiến
vào vương quốc tiêu dao, coi sống chết bằng nhau, quên vật quên ta, trời đất với ta là
một.
Chủ trương phải toàn sinh và vị ngã, nghĩa là phải yên theo thời gian mà ở thuận, cái tự
nhiên nào cũng hợp lý cả; không khen chê phải – trái, tốt – xấu làm gì, phải lánh nạn
để bảo toàn sinh mạng…, bởi vì, một người quân tử chết vì nghĩa và một kẻ tiểu nhân
chết vì của cải, thì hai cái chết đó như nhau. Những tư tưởng này khiến con người
không có động lực phấn đấu, dửng dưng trước thời thế.
Bốn là, Về tư tưởng văn nghệ, Chủ trương “diệt văn chương, tán ngũ thái” (dứt
văn chương, bỏ năm màu) (Trang Tử, Khư khiếp), vì bởi cho rằng “ngũ sắc linh nhân
mục manh, ngũ âm linh nhân nhĩ lung” (năm màu khiến người tối mắt, năm giọng
khiến người điếc tai) (Lão Tử, chương 12), chỉ có “tuyệt thánh khí trí” (dứt thánh bỏ
trí) mới có thể khiến cho “dân lợi bách bội” (dân lợi trăm phần) (Lão Tử, chương 19).
Trang Tử thậm chí còn cho rằng văn chương ngôn từ là vô dụng, sách vở thư tịch là
cặn bã, trực tiếp phủ nhận tác dụng biểu đạt của ngôn ngữ; nhưng tự mình lại trứ thư
lập thuyết, cật lực tuyên truyền tư tưởng Đạo gia, điều ấy làm lộ ra chỗ mâu thuẫn
trong tư tưởng của ông. Chính từ trong mâu thuẫn ấy, chúng ta mới có thể thấy được tư
tưởng văn nghệ của Đạo gia ẩn tàng sau “mậu du chi thuyết, hoang đường chi ngôn, vô
đoan nhai chi từ” (diễn những thuyết viển vông vô cứ, lời lẽ hư vô, không đầu đuôi).
2.2.2. Trong hoạt động thực tiễn
Một là, Đạo gia chủ trương con người không nên tăng cường các hoạt động sáng
tạo, không cần mở mang trí tuệ, chấm dứt cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội, mà quay
về sống như thời nguyên thủy, đúng với bản tính tự nhiên thuần phác của một loài
động vật bậc cao được sinh ra từ “đạo”… phủ nhận mọi hoạt động thực tiễn của con
người.
Hai là, Thuyết "vô vi" của Lão Tử dễ bị người ta mượn cớ trốn tránh trách nhiệm,
nhất là những người công chức ăn lương nhà nước, lại có tâm lý tiêu cực, họ bảo nhau:
"Ít làm ít lỗi, chẳng làm thì không có lỗi". Nếu không đánh giá đúng mức thì con người
dễ bị lối cuốn theo những tư tưởng không phân biệt thiện ác, sai đúng, khiến cho cuộc
Ngày nay, mặc dù tồn tại xã hội và ý thức xã hội đã thay đổi vượt bậc, song
những tư tưởng triết học của Đạo gia vẫn có sức sống và tác động đáng kể đối với đời
sống con người, đặc biệt ở những nước vốn chịu sự ảnh hưởng truyền thống của nó.
Việc nghiên cứu đề tài này vô cùng ý nghĩa và hết sức cần thiết cho thời đại ngày
nay. Nó góp phần đẩy lùi những ô nhiễm xã hội do hiện đại hóa mang lại và góp phần
làm cân bằng trạng thái tinh thần của môi trường sống. Vận dụng những tinh hoa,
những giá trị cốt lỗi nhất vào đời sống hiện tại đồng thời nhận ra những điểm giá trị
hạn chế trong tư tưởng Đạo gia để rút kinh nghiệm cho mỗi chúng ta và cải thiện cho
phù hợp với thời đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Triết học Đại Cương về lịch sử triết học, phần I. TS. Bùi Văn Mưa. Nhà xuất
bản Kinh tế TPHCM.
2. Giáo trình triết học Mác - Lênin. GS,TS. Nguyễn Hữu Vui - GS,TS. Nguyễn
Ngọc Long và Tập thể tác giả. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
3. Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, tập II. Nguyễn Khắc Thuần. Nhà xuất bản
giáo dục.
4. Các Website:
http://vi.wikipedia.org
http://cuocsongviet.com.vn
http://www.giangvien.net
http://mic.edu.vn
http://hoivankhoa.blogtiengviet.net
http://triethoc.edu.vn
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
http://vnthuquan.net