ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &
Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
SVTH: Đặng Hồng Quý CH1001123
STT: 29 – Khóa 5
Nhóm: 3
Lớp: CH5 – Đợt 2
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
[Type text]
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin cám ơn Trường ĐH Công Nghệ Thông Tin – Đại học Quốc Gia TP.
HCM đã tạo điều kiện tốt nhất cho học viên có môi trường học tập và trau dồi kiến thức môn
Triết học ở bậc cao học.
Em xin chân thành cám ơn Tiến Sĩ Bùi Văn Mưa, người Thầy với tất cả sự nhiệt tình,
tận tụy đã truyền đạt những kiến thức quý báu và những kinh nghiệm thực tế cho lớp Cao học
Khóa 6.
Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tất cả các thành viên lớp Cao học Khóa 6 và các
bạn trong nhóm 3 đã tạo một không khí học tập hết sức sôi nổi và tinh thần đoàn kết, giúp đỡ
em rất nhiều trong quá trình thực hiên đề tài. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chắc chắn em
không tránh khỏi những hạn chế, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Thầy và các bạn.
Trân trọng!
SVTH: Đặng Hồng Quý - CH1001123 – CH5 Đợt 2 Trang 2
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………………3
1 Tư tưởng triết học Đạo gia 5
2 Những giá trị, hạn chế của đạo gia 9
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
1 Tư tưởng triết học Đạo gia
1.1 Lý luận đạo và đức
1.1.1 Quan niệm về đạo
Đạo - bản nguyên vô hình, phi cảm tính, phi ngôn từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật;
Con đường, quy luật chung của mọi sự sinh thành, biến hóa (thống nhất - vận hành của vạn
vật). Đạo mang tính khách quan, phổ biến.
Đạo là bản nguyên của vũ trụ, sáng tạo ra vạn vật, là phép tắc của vạn vật, quy luật biến
hóa tự thân của vạn vật. Theo Lão Tử, trời đất muôn vật do Đạo mà sinh thành. Đạo là cái hỗn
mang chưa phân, là cái nguyên thủy và là sự vận động hằng cửu mà ta không thể cảm, không
thể biết. Đạo vô danh vô hình, là căn nguyên và cốt lõi của muôn vật. Muôn vật đều khởi đi từ
Đạo, đi theo Đạo và quay về Đạo.
1.1.2 Quan niệm về đức
Chữ Đức ở đây không phải là đức hạnh hiểu theo lối luân lý thông thường, mà là phải
hiểu theo nghĩa của Lão Tử. Đức là “mầm sống ngấm ngầm” trong vạn vật. Đạo thì sinh ra còn
Đức thì nuôi nấng. Người sống có Đức là sống theo Đạo. Người bắt chước đất, đất bắt chước
trời, trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước tự nhiên.
Đức - sức mạnh tiềm ẩn của đạo; hình thức để vạn vật được định hình, phân biệt; là cái lý
để nhận biết vạn vật.
Nói tóm lại, Đạo gia đã đề cập đến Đạo một cách phi thường, siêu việt, không đứng trên
lập trường duy vật hay duy tâm thuần túy, mà ta chỉ nhận biết được điều đó khi xem xét trong
quá trình đề cập đến sự vận hành, tác động của nó. Khi dùng hai chữ “đạo đức”, tức là vừa nói
tới mặt bản thể của “đạo” nói chung vừa nhấn mạnh thêm mặt Dụng. Khi Đạo ở dạng “thể” thì
không có tên, nhưng đến “dụng” (đức) thì có tên. Vạn vật nhờ “đức” mà có tên, phân biệt, lễ
nghĩa… Cho nên: “Mất đạo rồi mới có đức, mất đức rồi sinh nhân, mất nhân sinh nghĩa, mất
nghĩa sinh lễ…” (Đạo đức kinh). Nó ẩn chứa lý lẽ sống chưa hiển lộ.
SVTH: Đặng Hồng Quý - CH1001123 – CH5 Đợt 2 Trang 5
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
1.2 Thế giới quan – Nhân sinh quan
1.2.1 Thế giới quan
đất; là trạng thái trời đất giao hòa, muôn vật hanh thông, vũ trụ vạn vật vận động biến đổi theo
một trật tự điều hòa, tự nhiên, không có gì thái quá hay bất cập, “gãy thì liền, cong thì thẳng,
trống thì đầy, cũ thì mới, ít thì được, nhiều thì mất” (Lão Tử, Đạo đức kinh, chương 22); “Đạo
của trời bớt chỗ dư bù chỗ thiếu” (sđd, chương 42); “Một âm một dương”; “rắn thì nát, nhọn
thì nhụt” (Trang Tử, Nam Hoa kinh).
Thế quân bình của Đạo được ví như nước, mềm mại và linh hoạt, làm bằng phẳng tất cả.
Nước ở chỗ thấp, là nơi chỗ cao đổ về, là “nơi thiên hạ họp về”, như biển mênh mông rộng lớn,
không gì không thể chứa đựng. “Trong thiên hạ không có gì mềm yếu hơn nước, mà công phá
vật rắn mạnh thì không gì hơn được nó, không lấy gì thay thế được nó” (Lão Tử, Đạo đức kinh,
chương 78).
Nếu vi phạm luật quân bình, phá vỡ trạng thái vận động cân bằng của vũ trụ, thì vạn vật
sẽ rối loạn, trì trệ và có nguy cơ bị phá hoại, chẳng khác nào “nhón gót lên thì không đứng
vững, xoạc chân ra thì không bước được…”.
1.3.2 Luật phản phục
Quan niệm cái gì phát triển đến tột đỉnh thì tất sẽ trở thành cái đối lập với chính nó; sự
vật khi phát triển đến cực điểm các tính chất của nó thì những tính chất ấy sẽ đi ngược lại để trở
thành tính chất tương phản. Điều đó cần phải hiểu theo hai nghĩa.
SVTH: Đặng Hồng Quý - CH1001123 – CH5 Đợt 2 Trang 7
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
Nghĩa thứ nhất, phản phục là sự vận động, biến hóa có tính chất tuần hoàn, đều đặn, nhịp
nhàng và tự nhiên của vạn vật, như hết ngày đến đêm, hết đêm sang ngày, trăng tròn lại khuyết,
trăng khuyết lại tròn… Vạn vật cứ mập mờ, thấp thoáng, khi đầy khi vơi, lúc sinh lúc tử… Đó
là vòng biến đổi tuần hoàn bất tận.
Nghĩa thứ hai, phản phục là sự vận động trở về với Đạo (“phản giả đạo chi động”), “đến
chỗ cùng cực hư không là giữ vững được trong cái tĩnh. Vạn vật cùng đều sinh ra, ta lại thấy
nó trở về với gốc. Ôi! Mọi vật đều trùng trùng trở về với cội rễ của nó. Trở về với cội rễ gọi là
tĩnh, thế gọi là quay về với mạng” (Đạo đức kinh, chương 16). Sự trở về với Đạo của vạn vật
chính là sự trở về với trạng thái tự nhiên, nguyên sơ, tĩnh lặng, trống rỗng… Đó là tất yếu và
không thể cưỡng lại. “Đạo pháp tự nhiên” là vậy. Mọi sự can thiệp vào Đạo – luật tự nhiên –
nhất định sẽ thất bại.
thực tiễn.
2.1.1 Trong hoạt động nhận thức
Giúp nhìn nhận thế giới là sự chuyển hoá, dung hoà của 2 mặt đối lập, thế giới luôn có
sự chuyển hoá và bài trừ lẫn nhau và trong bản thân từng sự vật.
Thông qua luật quân bình (bù trừ) và luật phản phục, Đạo gia đã cung cấp nhân sinh
quan và nghệ thuật sống mang tính nhân văn sâu sắc, có tác dụng an ủi con người hài lòng và
hạnh phúc với những gì mình có trong cuộc sống, không nên ham muốn, tránh được những
ham muốn đua chen của dục vọng, mơ tưởng hão huyền, giúp con người hướng thiện, hướng
đến tự nhiên, dung hoà với tự nhiên, tĩnh tâm và tự tại.
Đạo gia đã hé lộ cho chúng ta những khát vọng chân chính về một xã hội công bằng,
bình đẳng, xóa bỏ mọi bất công, áp bức, bóc lột, không còn chế độ tư hữu và nhà nước, con
người được sống tự do… Nó khiến chúng ta liên tưởng tới và rất có thể là nguồn gốc lịch sử
gián tiếp cho những tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng ở Tây Âu sau này.
SVTH: Đặng Hồng Quý - CH1001123 – CH5 Đợt 2 Trang 9
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
Với ý nghĩa đó, nếu chúng ta biết rút ra bài học từ những hạt nhân tư tưởng tích cực và
tiến bộ, thì nó sẽ cung cấp cho chúng ta những cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển quan
điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; chống lại chủ nghĩa duy tâm, quan điểm siêu
hình…
2.1.2 Trong hoạt động thực tiễn
Với việc chỉ ra luật quân bình (bù trừ) và luật phản phục, Đạo gia đòi hỏi con người cần
tránh mọi cực đoan, thái quá, nóng vội, chủ quan duy ý chí… Mà phải luôn luôn tạo dựng sự
cân bằng, hợp lý, tự nhiên; khách quan nhưng không ỷ lại, thụ động trước các điều kiện khách
quan, không nên “cầm đèn chạy trước ô tô”…
Đạo gia còn dạy con người phải biết sống khiêm tốn, giản dị, mà vẫn ung dung, tự tại,
không lo sợ, không đau buồn… trước mọi biến động xảy ra trong đời; không tham lam, vụ lợi,
giả dối; không đấu tranh, giành giật; không đua đòi, bon chen, đố kỵ… Mà cần phải sống hòa
nhã, trung dung, ngay thẳng, tự nhiên thuần phác, “thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi”…
Sự thâm nhập và phát triển của Đạo gia ở Việt Nam, cũng giống như ở Trung Hoa, Đạo
gia đã được người dân sử dụng làm vũ khí chống lại kẻ thống trị. Ngay khi thâm nhập nó đã là
đối, thuyết bất khả tri…
Về tư tưởng biện chứng
Đạo gia đã đề cập đến nguồn gốc, cách thức và khuynh hướng của sự vận động biến đổi,
nhưng còn hết sức đơn giản, tuần tự khép kín, chuyển hóa hình thức, không có sự thâm nhập và
phủ định biện chứng.
Rõ hơn, mâu thuẫn trong xã hội được thủ tiêu bằng cách đẩy mạnh một trong hai mặt đối
lập để tạo ra sự chuyển hóa theo quy luật phản phục (quay trở lại cái ban đầu), hay cắt bỏ một
trong hai mặt đối lập để làm cho mặt đối lập kia tự mất đi theo quy luật bình quân (cân bằng
SVTH: Đặng Hồng Quý - CH1001123 – CH5 Đợt 2 Trang 11
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
nhau). Với quan niệm này, ông cho rằng, trong đời sống xã hội, nếu dẹp bỏ trí tuệ thì dân sẽ
chất phác; nếu không coi trọng người hiền thì dân không tranh nhau; nếu không coi trọng của
cải quý báu thì dân không có trộm cắp.
Tư tưởng biện chứng đó tuy đã vẽ lên bức tranh muôn hình vạn trạng, đa dạng và phong
phú về vũ trụ vạn vật, với các mặt đối lập, các mối liên hệ phổ biến và sự vận hành thống nhất
của Đạo, nhưng về cơ bản nó vẫn còn chất phác, ngây thơ, trực quan cảm tính, tiên nghiệm. Nó
chưa có sơ sở để vạch ra cái bản chất, tất yếu bên trong của sự vật hiện tượng. Vạn vật chỉ vận
động tuần hoàn, lặp đi lặp lại một cách buồn tẻ mà không có sự ra đời của cái mới, nghĩa là
không có sự phát triển.
Về quan niệm nhân sinh và chính trị - xã hội
Về đường lối trị nước an dân: Chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ thành chất phác, chính
phủ tích cực làm việc thì dân đầy tai họa. Bậc Thánh nhân trị vì thiên hạ phải bằng lẽ tự nhiên
của đạo vô vi, và chủ trương xóa bỏ hết mọi ràng buộc về mặt đạo đức, pháp luật.
Đạo gia chủ trương xây dựng một xã hội phi thể chế, phi nhà nước, phi giáo dục, phi
khoa học – kỹ thuật, chẳng cần văn hóa với văn minh; một cộng đồng ít dân ngu đần ấu trĩ,
sống bằng săn bắn hái lượm gắn với trồng trọt và chăn nuôi tự cấp tự túc, khép kín hoàn toàn,
không trao đổi qua lại với bên ngoài. Đây là tư tưởng lạc hậu và thụt lùi về quan điểm chính trị
- xã hội.
2.2.2 Trong hoạt động thực tiễn
Trong hoạt động thực tiễn, Đạo gia chủ trương con người không nên tăng cường các hoạt
trong mối quan hệ với đời sống tâm linh, giúp con người cân bằng tâm hồn mình. Hơn bao giờ
hết xã hội càng văn minh thì con người càng đánh mất chính mình. Sự tranh giành về quyền lợi,
SVTH: Đặng Hồng Quý - CH1001123 – CH5 Đợt 2 Trang 13
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
vật chất đã làm cho con người ngày càng mất dần những giá trị đạo đức. Quan niệm vô vi của
Lão Tử đã trở nên quan trọng, đã góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn.
Mặc dù tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia về nhận thức luận và nhân sinh quan muốn
ngăn cản tính năng động, sáng tạo của ý thức con người cả trong quá trình hoạt động nhận thức
lẫn trong hoạt động thực tiễn, song vượt lên tất cả, với tinh thần cầu thị và tôn trọng lịch sử,
chúng ta vẫn có thể rút ra rất nhiều bài học có giá trị cả trong nhận thức lẫn trong thực tiễn
trước bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ đương đại. Trong đó có các
quan điểm về phát triển bền vững, phát triển hài hòa, bảo vệ môi trường, cân bằng đời sống vật
chất và tinh thần, cân bằng giữa tự nhiên và xã hội, mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái cục bộ,
cũng như quan điểm trong việc giải quyết các vấn đề (mặt) đối lập mà thực tiễn đặt ra…
Thông qua hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người, Đạo gia còn cung cấp cho
chúng ta nghệ thuật sống vô cùng phong phú, tinh tế và đáng vận dụng như: Lấy mềm thắng
cứng, lấy tĩnh chế động, lấy mặt đối lập để khống chế mặt đối lập, tôn trọng sự khác biệt… Đặc
biệt là luật bù trừ và luật phản phục. Từ đó, ông cha ta đã đúc kết nên những thành ngữ và
phương châm ứng xử trong hoạt động thực tiễn, như: Lạt mềm buộc chặt, lấy nhu thắng cương,
lấy ít địch nhiều, lấy độc trị độc, dĩ bất biến ứng vạn biến, không ai giàu ba họ không ai khó ba
đời, lá rụng về cội…
Ngày nay, mặc dù tồn tại xã hội và ý thức xã hội đã thay đổi vượt bậc, song những tư tưởng
triết học của Đạo gia vẫn có sức sống và tác động đáng kể đối với đời sống con người, đặc biệt
ở những nước vốn chịu sự ảnh hưởng truyền thống của nó.
SVTH: Đặng Hồng Quý - CH1001123 – CH5 Đợt 2 Trang 14
Tư Tưởng Triết Học Đạo Gia &Những Giá Trị, Hạn Chế Của Nó
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách tham khảo:
TS. Bùi Văn Mưa, “Đại Cương Về Lịch Sử Triết Học”, Trường ĐH Kinh Tế TP. HCM,
Khoa Lý Luận Chính Trị, Tiểu Ban Triết Học