TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ - Pdf 11

ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
o0o
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài số 03:
“TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ”
SVTH : Phan Nguyễn Thụy An
Mã SV : CH0901001
STT : 03 (Khóa 4)
Nhóm : 03
Lớp : Cao học K4
GVHD : TS. Bùi Văn Mưa
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2012
2
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong số sáu học phái triết học lớn của triết học Trung Quốc cổ- trung đại, Đạo gia
là một trong những trường phái triết học giữ vai trò quan trọng trong đời sống tư
tưởng của nhân dân Trung Quốc. Đạo gia ra đời và phát triển rực rỡ từ cuối thời
Xuân Thu đến cuối thời Chiến Quốc và sau đó có ảnh hưởng to lớn đến nhiều lĩnh
vực như chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, y thuật, sinh
học, hoá học, vũ thuật, địa lí… ở Trung Quốc và một số nước châu Á khác. Nguồn
gốc tư tưởng của Đạo gia xuất phát từ những quan điểm về vũ trụ luận, thiên địa,
ngũ hành, âm dương, Kinh Dịch…
Sáng lập ra Đạo gia là người nước Sở - Lão Tử (khoảng 580- 500 trước Công
Nguyên). Học thuyết Đạo gia được ông trình bày trong cuốn Đạo đức kinh.
Ngoài Lão Tử là người sáng lập chính, còn có hai yếu nhân khác được thừa nhận và
tôn vinh muôn đời, đó là Dương Chu và Trang Tử. Trong đó vị trí của Trang Tử
được sánh ngang với Lão Tử, nên còn gọi là Đạo Lão – Trang. Trang Tử (khoảng
369 – 286 TCN), nhờ ông mà học thuyết của Lão Tử mới được người đời chú ý.

Tuy vậy nó cũng thể hiện một quan điểm rõ ràng về tư tưởng triết học của một
trường phái và có một giá trị nhất định.
1.1. Quan niệm về đạo
“Đạo” là một danh từ triết học đã được người Trung Hoa dùng từ thời
thượng cổ, nhưng chỉ đạt được tầm quan trọng đặc biệt và trở nên phổ biến nhờ
bộ Đạo Đức kinh của Lão Tử. Theo tiếng Hán cổ, Đạo có nghĩa là "con đường",
"phương tiện", "nguyên lý"…
Theo Lão Tử, Đạo là nguyên thủy của trời đất, của vạn vật. “Đạo là cái tổng
nguyên lý do đó mà muôn vật sinh, Đạo là đường lối muôn vật noi theo, là cái
tổng quy luật chi phối sự sinh thành biến hóa của trời đất muôn vật”. Lão Tử
thừa nhận là không thể dùng ngôn ngữ để mô tả được bản chất của Đạo “Đạo
khả đạo phi thường Đạo, danh khả danh phi thường danh” (Đạo mà có thể gọi
được là Đạo thì không phải là đạo thường, tên mà có thể là tên được thì không
phải tên thường). Như vậy, ông đã thể hiện được quan điểm chủ đạo trong vấn
đề nhận thức thế giới vạn vật thông qua sự nhìn nhận về khái niệm Đạo. Điều
này có một giá trị rất lớn trong việc đánh giá sự vật.
Từ quan niệm về Đạo, Lão Tử - đại diện của Đạo gia đã phủ nhận quan
điểm: Trời sinh ra mọi vật. Tuy mơ hồ nhưng ông cũng đã đưa ra được luận
điểm về nguồn gốc của mọi vật đều phải xuất phát từ một bản căn nào đó, ngay
cả trời đất cũng không phải là sự xuất hiện đầu tiên (Hữu vật hỗn thành, tiên
thiên địa sinh). Cái nguồn gốc của mọi sự vật ấy được ông gọi là Đạo.
5
Lão tử cho rằng Đạo sinh ra vạn vật, Đức nuôi nấng, bảo tồn vạn vật. Vạn
vật nhờ đạo mà được sinh ra, nhờ đức mà thể hiện và khi mất đi là lúc vạn vật
quay trở về với đạo.
Tóm lại, đạo là bản nguyên vô hình, phi cảm tính, phi ngôn từ, sâu kín,
huyền diệu của vạn vật. Đạo là con đường, quy luật chung của mọi sự sinh
thành, biến hóa. Đạo mang tính khách quan (vô vi), phổ biến…
1.2. Quan niệm về đức
Đức là sức mạnh tiềm ẩn của đạo, là hình thức để vạn vật được định hình,

- “Vô vi” là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo,
không gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên;
là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để không làm mất đức. Chỉ khi nào từ bỏ tư
lợi thì mới nhận thấy đạo; và chỉ khi nhận thấy đạo mới có thể vô vi được.
- Trái với tư tưởng “Nhập thế” của Nho giáo, Đạo giáo với tư tưởng “Xuất
thế” cho rằng con người cần phải “thuận theo tự nhiên”, không được làm
trái quy luật tự nhiên, không được cải tạo tự nhiên theo những toan tính lợi
ích tầm thường của mình, không được gò ép trái với bản tính của mình và
ngược lại với bản tính của tự nhiên, chỉ làm cho dân no bụng, xương cốt
mạnh mà lòng hư tĩnh, khiến cho dân không biết, không muốn.
- Đạo gia còn dạy con người phải biết sống khiêm tốn, giản dị, mà vẫn ung
dung, tự tại, không lo sợ, không đau buồn… trước mọi biến động xảy ra
trong đời; không tham lam, vụ lợi, giả dối; không đấu tranh, giành giật;
7
không đua đòi, bon chen, đố kỵ… Mà cần phải sống hòa nhã, trung dung,
ngay thẳng, tự nhiên thuần phác, “thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi”…
- Đạo gia chủ trương con người không nên tăng cường các hoạt động sáng
tạo, không cần mở mang trí tuệ, cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội, mà quay
về sống như thời nguyên thủy, đúng với bản tính tự nhiên thuần phác của
một loài động vật bậc cao được sinh ra từ “đạo”… phủ nhận mọi hoạt động
thực tiễn của con người.
3. Tư tưởng biện chứng
Quan điểm biện chứng của Đạo gia được thể hiện ngay trong tư tưởng về Đạo,
nơi cội nguồn của mối liên hệ phổ biến và sự vận động biến đổi của vũ trụ vạn vật,
mà nguồn gốc là do các mối liên hệ, tác động, chuyển hóa giữa các mặt đối lập;
cách thức là khi phát triển đến tột đỉnh rồi sẽ trở thành cái đối lập, tương phản với
chính nó; khuynh hướng của sự vận động biến đổi là sự trở về với Đạo.
Đặc biệt, thông qua tư tưởng biện chứng đó, Đạo gia đã khái quát thành hai quy
luật căn bản chi phối toàn bộ vũ trụ vạn vật, đó là luật quân bình và luật phản phục.
3.1. Luật quân bình (luật bù trừ)

vi”, chống lại chủ trương “hữu vi” cùng mọi chuẩn mực đạo đức và thể chế pháp
luật, vì coi đó là sự áp đặt, cưỡng chế, can thiệp vào bản tính tự nhiên của con
người.
Tư tưởng “vô vi” chủ trương thực hiện triệt để chính sách ngu dân, “không làm
cho dân sáng mà làm cho dân ngu”; “Trí tuệ sinh thì có đại ngụy”. Bởi hiểu biết
9
càng nhiều thì trí xảo càng nhiều, trí xảo càng nhiều thì ham muốn càng nhiều, càng
muốn tranh đoạt và xâm phạm lẫn nhau, làm trái với đạo tự nhiên. Con người càng
“theo học thì càng phiền phức, mà theo đạo thì ngày càng bớt, bớt rồi thì lại bớt, bớt
đến mức vô vi”.
Mẫu hình xã hội lý tưởng của Lão Tử là “nước nhỏ, dân ít. Dù khí cụ gấp trăm
gấp chục sức người cũng không dùng đến. Ai nấy đều coi sự chết là hệ trọng nên
không đi đâu xa. Có xe thuyền mà không ai ngồi. Có gươm giáo mà không bao giờ
dùng. Bỏ văn tự, bắt người ta trở lại dùng lối thắt dây ghi dấu thời thượng cổ. Ai
nấy đều chăm chú vào việc ăn no, mặc ấm, ở yên, vui với phong tục của mình. Xã
hội được cai trị bằng cách không cai trị, không cai trị mà coi như đã được cai trị…
Con người bỏ mọi ham muốn dục vọng, không cần đến cả tri thức, văn hóa hay bất
cứ sự tiến bộ xã hội nào… Xã hội càng xa đạo càng có nhiều mâu thuẫn (tai họa).
Thủ tiêu mâu thuẫn trong xã hội bằng cách: đẩy mạnh một trong hai mặt đối lập để
tạo ra sự chuyển hóa (phản phục) hay cắt bỏ một trong hai mặt đối lập để làm cho
mặt kia tự mất đi (quân bình).
Hành động hay nhất là không can thiệp đến việc đời, nhưng nếu phải làm thì hãy
làm cái không làm một cách kín đáo (vô vi).
Thánh nhân trị vì thiên hạ bằng vô vi, vì thế xóa mọi ràng buộc về đạo đức, pháp
luật; trả lại cho con người cái bản tính tự nhiên của nó.
Xã hội lý tưởng là xã hội nguyên thủy, chất phác, tự nhiên (vô vi): con người
tách khỏi xã hội, hòa tao vào đạo (nước nhỏ dân ít biệt lập; không dùng thuyền, xe,
gươm, giáo ; bỏ văn tự, tư lợi, không học hành …).
5. Quan điểm trong phương châm xử thế
Đạo gia giáo huấn con người theo thuyết “vô vi”: sống và hành động theo lẽ tự

- Đạo gia còn dạy con người phải biết sống khiêm tốn, giản dị, mà vẫn ung dung,
tự tại, không lo sợ, không đau buồn… trước mọi biến động xảy ra trong đời;
không tham lam, vụ lợi, giả dối; không đấu tranh, giành giật; không đua đòi,
bon chen, đố kỵ… Mà cần phải sống hòa nhã, trung dung, ngay thẳng, tự nhiên
thuần phác, “thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi”…
1.2. Trong hoạt động thực tiễn
- Đạo gia hướng con người về với tự nhiên, vì thế trong hoạt động thực tiễn giúp
con người điều chỉnh hành vi (hoạt động) của mình cho phù hợp với tự nhiên và
cuộc sống, tôn trọng các quy luật, tránh lối hành xử lỗ mãng, bất chấp
- Những quan điểm triết học cơ bản của Đạo gia đã góp phần chỉ ra cho chúng ta,
trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải tôn trọng quy luật khách quan,
nắm vững và vận dụng phù hợp các quy luật tự nhiên vào cuộc sống, nếu không
sẽ phải trả giá và chuốc lấy hậu quả khôn lường, như Lão Tử cảnh báo: “Lưới
trời lồng lộng, thưa mà khó lọt”.
- Đặc biệt, Đạo gia yêu cầu trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải “thuận
theo tự nhiên”, không được làm trái quy luật tự nhiên, không được cải tạo tự
nhiên theo những toan tính lợi ích tầm thường của mình. Điều này có tính thời
sự đặc biệt và sâu sắc trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, với
thiên tai và dịch bệnh luôn đe dọa nghiêm trọng, cộng thêm những bất ổn về
chính trị - xã hội, một hệ lụy trực tiếp từ quá trình con người “nhân tạo hóa thiên
nhiên”, tạo dựng một nền “văn minh” không tương thích với bản tính tự nhiên
của vũ trụ vạn vật.
12
- Đồng thời, trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải biết quý trọng mọi sự
sống nói chung, gắn với quý trọng môi trường tự nhiên, không được tàn sát sinh
vật và hủy hoại môi trường một cách tùy tiện.
- Bên cạnh đó, với việc chỉ ra luật quân bình (bù trừ) và luật phản phục, Đạo gia
đòi hỏi con người cần tránh mọi cực đoan, thái quá, nóng vội, chủ quan duy ý
chí… Mà phải luôn luôn tạo dựng sự cân bằng, hợp lý, tự nhiên; khách quan
nhưng không ỷ lại, thụ động trước các điều kiện khách quan.

về sống như thời nguyên thủy, đúng với bản tính tự nhiên thuần phác của một
loài động vật bậc cao được sinh ra từ “đạo”… phủ nhận mọi hoạt động thực tiễn
của con người.
- Tư tưởng vô vi: sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phát, không giả tạo,
không gò ép. Lão tử phản đối mọi chủ trương hữu vi, vì ông cho rằng hữu vi chỉ
làm xáo trộn trật tự tự nhiên vốn mang tính điều hòa, làm mất bản tính tự nhiên
của con người.
- Về đường lối trị nước an dân: Chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ thành chất
phác, chính phủ tích cực làm việc thì dân đầy tai họa. Bậc Thánh nhân trị vì
thiên hạ phải bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi, và chủ trương xóa bỏ hết mọi ràng
buộc về mặt đạo đức, pháp luật. Đạo gia chủ trương xây dựng một xã hội phi thể
chế, phi nhà nước, phi giáo dục, phi khoa học – kỹ thuật, chẳng cần văn hóa với
văn minh; một cộng đồng ít dân ngu đần ấu trĩ, sống bằng săn bắn hái lượm gắn
với trồng trọt và chăn nuôi tự cấp tự túc, khép kín hoàn toàn, không trao đổi qua
lại với bên ngoài. Đây là tư tưởng lạc hậu và thụt lùi về quan điểm chính trị - xã
hội.
14
- Chủ trương phải toàn sinh và vị ngã, nghĩa là phải yên theo thời gian mà ở
thuận, vì cái tự nhiên nào cũng hợp lý cả; không khen chê phải – trái, tốt – xấu
làm gì, phải lánh nạn để bảo toàn sinh mạng.Tư tưởng này khiến cho con người
nhu nhược, ích kỷ, sống vì bản thân, không biết đấu tranh vì lợi ích chung.
Chương 3: Kết luận
Đạo gia là một trong những trường phái triết học lớn, ra đời ngay trong buổi bình
minh của lịch sử triết học Trung Quốc và nhân loại. Đạo gia còn có tác động ảnh
hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực ở nhiều nước châu Á
Nhìn chung, Đạo gia đã đạt được những bước tiến bộ vượt bậc so với tư tưởng
đương thời về một số quan điểm duy vật và biện chứng nhưng lại lạc hậu và thụt lùi
về quan điểm chính trị - xã hội.
Mặt dù tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia về nhận thức luận và nhân sinh quan
muốn ngăn cản tính năng động, sáng tạo của ý thức con người cả trong quá trình

3.
4.
5.
6.
16
7.
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status