TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Tiểu luận Triết học :
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO
GIA VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ HẠN
CHẾ CỦA NÓ
GVHD: TS. BÙI VĂN MƯA
Sinh viên thực hiện: Liên Khánh Châu
STT:15
Lớp: Đêm 5
Khóa: 21
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 2 năm 2012
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Tiến sĩ Bùi Văn Mưa, Thầy
đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và truyền đạt kiến thức cho tôi
trong suốt khóa học cũng như để hoàn thành bài tiểu luận này. Bản thân tôi cũng rất
yêu thích môn học này, và đã cố gắng để hoàn thành tốt nhất, song chắc chắn cũng
không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Vì vậy tôi rất mong thầy sẽ có
những góp ý và bổ sung để tôi có thể sữa chữa bài tiểu luận được tốt hơn.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Thầy.
Tác giả
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Lời mở đầu 1
Chương 1: Khái quát về triết học Nho Gia………………………………… 2
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Triết học Nho gia………………… 2
1.2 Các trường phái của tư tưởng Triết học Nho Gia và những
tư tưởng của các trường phái này…………………………………………… 3
một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử Triết học.
Nghiên cứu về tư tưởng triết học Nho Gia, tác giả cần làm rõ những tư tưởng
về viêc tu thân để trở thành người quân tử là việc đạt đạo và đạt đức. Bên cạnh đó là
đường lối nhân trị và chính danh, thuyết thiên mệnh. Đồng thời tác giả nêu ra những
giá trị và hạn chế tư tưởng triết học Nho Gia, tư tưởng đó có giá trị như thế nào đối
với ai ? Đối với các tầng lớp nào trong xã hội và những mặt hạn chế của nó.
Tác giả đã dùng những tài liệu sau để làm tài liệu tham khảo như: Triết học-
Phần I.Đại cương về lịch sử triết học của TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên); Khổng Tử
thầy muôn thuở Phương Đông của Võ Thiện Điển, nhà xuất bản văn hóa- thông tin;
Đại Cương Triết học Đông Phương của Nguyễn Ước, nhà xuất bản tri thức.
Liên Khánh Châu 1
Tư tưởng Triết học Nho Gia và những giá trị hạn chế của nó GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIA VÀ NHỮNG GIÁ
TRỊ HẠN CHẾ CỦA NÓ.
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC NHO GIA
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Triết học Nho Gia
Nho gia là một trường phái triết học lớn được hoàn thiện liên tục và có ảnh
hưởng sâu rộng, lâu dài đến nền văn hóa tinh thần của Trung Quốc nói riêng, của
nhiều quốc gia phương Đông nói chung. [2,52].
Khổng Tử ( 551 – 479 TCN) tên Khâu, hiệu Trọng Ni, ngưới nước Lỗ (Sơn
Đông), là triết gia đầu tiên của Trung Hoa, có ảnh hưởng lâu dài và sâu rộng nhất, và
được rất nhiều người kính ngưỡng. [4,286].
Khổng Tử sáng lập ra Nho gia vào cuối thời Xuân Thu rất quan tâm đến các
vấn đề đạo đức – chính trị - xã hội. Ông coi hoạt động đạo đức là nền tảng của xã
hội, là công cụ để gìn giữ trật tự xã hội và hoàn thiện nhân cách cho con người. Đến
thời kì Chiến Quốc, do bất đồng về bản tính con người mà Nho gia bị chia thành 8
phái, trong đó có phái của Tuân Tử và phái của Mạnh Tử là mạnh nhất. Mạnh Tử đã
có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển của Nho gia nguyên thủy,ông đã khép
lại giai đoạn hình thành Nho gia. [2, 53].
Sang thời Tây Hán, Đổng Trọng Thư ( 179 – 104 TCN) đã dựa trên lợi ích của
Liên Khánh Châu 3
Tư tưởng Triết học Nho Gia và những giá trị hạn chế của nó GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
bình đẳng và mọi cái đều là của chung; là xã hội có đời sống vật chất đầy đủ, có
quan hệ người với người tốt đẹp; là xã hội có giáo dục, mọi người trong xã hội được
giáo hóa . [2, 61].
- Thứ nhất nói về việc tu thân của quân tử thì cần phải đạt đạo, đạo là chỉ về ba
mối quan hệ hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ ( tam cương ) đây là ba mối quan hệ
trong gia đình - xã hội, và sẽ là nền tảng cho những quan hệ đạo đức – chính trị. Khi
các quan hệ này chính danh nghĩa là:
+ Quân thần: Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung
thành một dạ. Biểu hiện bằng đức trung.
+ Phụ tử: Trong quan hệ cha con, cha nuôi dạy con cái, con cái hiếu kính vâng
phục cha và khi cha già thì phải làm tròn chữ hiếu phụng dưỡng cha. Biểu hiện bằng
đức hiếu.
+ Phu thê: Trong quan hệ chồng vợ, chồng yêu thương và công bình với vợ, vợ
vâng phục và chung thủy giữ tiết với chồng.
Giữa trung và hiếu thì trung đứng đầu.
Sau này Đổng Trọng Thư đã thêm vào hai mối quan hệ nữa là huynh – đệ,
bằng – hữu và mở rộng thành ngũ luân- năm mối quan hệ mà con người phải xác
định và làm tròn trách nhiệm của mình trong các quan hệ ấy.
Do xã hội thời Xuân Thu – Chiến quốc loạn lạc, đạo đế vương đời trước mờ
tối, luân thường đạo đức suy đồi, kỷ cương phép nước lỏng lẻo, người đời say đắm
về đường công lợi là do ba mối quan hệ này rối loạn. Vì vậy muốn cải loạn thành trị,
muốn thực hiện xã hội đại đồng thì phải chấn chỉnh lại ba quan hệ đó.
Liên Khánh Châu 4
Tư tưởng Triết học Nho Gia và những giá trị hạn chế của nó GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
- Thứ hai của việc tu thân là cần phải đạt đức, Khổng Tử cho rằng người quân
tử phải có đủ tam đức ( trí, nhân, dũng ); do có trí nên người quân tử không nhầm
lẫn, do có nhân nên người quân tử không buồn phiền, do có dũng nên người quân tử
không có gì phải kinh sợ. Sang thời Chiến Quốc, Mạnh Tử bỏ dũng thay vào đó lễ
Xác định phân minh lẽ phải trái, tính thân sơ, trật tự trên dưới.
Tiết chế những thường tình dung tục của con người.[ 8].
Khổng Tử nói: “ Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận
mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành rối loạn. Ngay
thẳng mà thiếu lễ sẽ trở nên thô lỗ ”. [4, 295 ].
Trước hết lễ được hiểu là lễ giáo phong kiến như những phong tục tập quán;
những quy tắc, quy định về trật tự xã hội; thể chế, pháp luật nhà nước như: sinh, tử,
tang, hôn, tế lễ, luật lệ, hình pháp…; sau đó lễ được hiểu là luân lý đạo đức như ý
thức thái độ, hành vi ứng xử, nếp sống của mỗi con người trong cộng đồng xã hội
trước lễ nghi, trật tự, kỷ cương phong kiến. Nhân và lễ có quan hệ rất mật thiết.
Nhân là nội dung bên trong của lễ, còn lễ là hình thức biểu hiện nhân ra bên ngoài.
Khổng Tử cho rằng trên đời không hề tồn tại người có nhân mà vô lễ. Vì vậy ông
khuyên chớ xem điều trái lễ, chớ nghe điều trái lễ, chớ nói điều trái lễ và chớ làm
điều trái lễ. [ 2, 59].
+ Quan niệm về trí: sự sáng suốt nhận thức thấu đáo mọi vấn đề, hiểu thấu đạo
trời, đạo người, hiểu cả thiên hạ, biết sống hợp với nhân. Khổng Tử coi trí là điều
Liên Khánh Châu 6
Tư tưởng Triết học Nho Gia và những giá trị hạn chế của nó GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
kiện để có nhân. Và muốn có trí thì phải học “học không biết chán, dạy không biết
mỏi”. Khi học cần coi trọng mối liên hệ mật thiết giữa các khâu: tư – tập, hành. [ 2,
59].
+ Quan niệm về tín: lòng dạ ngay thẳng, lời nói và việc làm nhất trí với nhau.
Tín là đức trong mối quan hệ bạn bè và rất quan trọng với tất cả mọi người. Tín
củng cố sự tin cậy giữa người với người, củng cố lòng tin với đạo lý thánh hiền, tin
vào sự tốt đẹp và vững bền của các mối quan hệ trong xã hội phong kiến.[ 2, 59].
+ Quan niệm về dũng: sức mạnh tinh thần, lòng can đảm, biết xấu hổ vì cái sai
cái xấu để vứt bỏ chúng mà làm theo nhân nghĩa…Là đức nói lên tinh thần hăng hái,
gan dạ dám hy sinh, quyết tâm khắc phục khó khăn, dũng biểu hiện sức mạnh và ý
chí thực hiện mục đích của mình. Khổng Tử rất quan tâm tới chữ dũng nhưng ông
vừa cổ vũ vừa dè dặt. Ông thường gắn dũng với nghĩa để kết luận người quân tử coi
Liên Khánh Châu 8
Tư tưởng Triết học Nho Gia và những giá trị hạn chế của nó GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Chương 2: GIÁ TRỊ VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA TRIẾT
HỌC NHO GIA
2.1 Những giá trị của triết học Nho Gia
2.1.1 Quan điểm về giáo dục
Tư tưởng cốt lõi của Nho gia là chú trọng đến việc lập đạo cho người mà muốn
lập đạo thì phải thực hiện giáo dục cho cả nước. Nho Gia rất coi trọng trí thức, coi
trọng việc học hành. Đây là một tư tưởng rất tiến bộ vào thời này. Muốn cả đất nước
tốt thì những con người trong đất nước đó cũng phải tốt. Nho gia coi trọng đức là coi
trọng cách làm người, coi người là yếu tố quyết định. Giáo dục của Nho Gia góp
phần nâng cao tri thức cho mọi người đặc biệt là về văn hóa, lịch sử và triết học.
Nho gia đã thổi lên một ngọn lửa hiếu học vào đông đảo quần chúng nhân dân thời
bấy giờ.
2.1.2 Quan điểm về chính trị
Nho Gia xem trọng thuyết lễ trị. Đó là các lễ giáo phong kiến, tập tục, quy tắc,
quy định về trật tự xã hội; pháp luật Nhà nước và các luân lý đạo đức quy định ý
thức, hành vi ứng xử, trật tự kỷ cương phong kiến… Điều này đã góp phần lập lại
trật tự và khôi phục lại kỷ cương phép nước cho xã hội lúc bấy giờ. Tư tưởng này
cũng đã có ảnh hưởng rất sâu sắc và rộng lớn đến các nước trên thế giới chứ không
riêng gì Trung hoa. Con người sống trong xã hội không thể thiếu lễ vì vậy Khổng tử
đã dốc sức san định lại lễ để giúp phân định trật tự trong gia đình và cả ngoài xã hội,
giúp giáo huấn con người sống phải biết tuân thủ pháp luật và không được làm trái
luân thường đạo lý, đi ngược lại với xã hội.
2.1.3 Quan điểm về quản lý xã hội
Liên Khánh Châu 9
Tư tưởng Triết học Nho Gia và những giá trị hạn chế của nó GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Nho Giáo nhấn mạnh việc cai trị theo đường lối nhân trị và chính danh. Điều
này góp phần xây dựng một xã hội có tôn ti trật tự, và gắn con người vào năm mối
quan hệ ngũ luân , trong đó Nho Giáo đặt mối quan hệ vua – tôi lên vị trí quan trọng
cỗi, không còn sức sống và dần dần bị lụi tàn.
Cũng chính vì mang đậm tính nguyên tắc mà trong một thời gian dài Nho Giáo
đã làm ảnh hưởng và trì trệ tình hình phát triển của xã hội thời bấy giờ so với các
nước phương Tây.
2.2.3 Nho Giáo quá xem trọng tư tưởng thiên mệnh
Khổng tử cho rằng sự hiểu biết về thiên mệnh được xem là điều kiện tiên quyết
để trở thành con người hoàn thiện.” Không hiểu mệnh trời thì không trở thành người
quân tử. Đã biết có mệnh trời thì phải sợ và thuận mệnh. Đó là cái đức của người
quân tử. Sống chết có mệnh, giàu sang tại trời…” [3, 28 ]. Vì quá xem trọng thuyết
thiên mệnh này mà con người thời nay thường an phận và cam chịu những gì được
cho là số phận an bài mà không chịu phấn đấu để vượt lên số phận. “ Con quan thì
lại làm quan, con sải ở chùa lại quét lá đa”. Cũng chính vì như vậy mà con người
thường ỷ lại vào số phận và thân thế, còn những người có tài thì không có cơ hội để
vươn lên. Đây cũng chính là một tư tưởng góp phần tạo nên tính quan liêu, phong
kiến trầm trọng thời bấy giờ.
2.2.4 Nho Giáo mang đậm tính duy tâm tôn giáo
Liên Khánh Châu 11
Tư tưởng Triết học Nho Gia và những giá trị hạn chế của nó GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Nho giáo đưa con người quá hướng nội, chuyên chú suy xét trong tâm mà
không hướng dẫn con người hướng ra bên ngoài, thực hành những điều tìm được,
chinh phục thiên nhiên, vạn vật xung quanh. Điều này làm cho nền văn minh, khoa
học tư nhiên, kỹ thuật sau một thời gian phát triển đã bị chựng lại so với nền văn
minh phương Tây vốn xuất hiện sau.
2.2.5 Nho Giáo với quan điểm hạn chế là phân biệt nam nữ
Đây là một tư tưởng sai lầm và gây ảnh hưởng rất lớn đến tận thời nay. Vào
thời này người phụ nữ thường không được đi học chữ, mà chỉ học cầm, kì, thi, họa,
sau đó đến tuổi lấy chồng thì “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu” [7]. Điều này đã
làm cho người phụ nữ thời bấy giờ bị xem thường và phụ thuộc quá nhiều vào đàn
ông. Làm cho người phụ nữ chân yếu tay mềm và trở thành đối tượng bị áp bức
nhiều nhất trong xã hội. Họ đã bị tước đi quyền được quyết định cuộc đời mình, tất
Thông Tin, 2009
2. TS. Bùi Văn Mưa (chủ biên), Triết học-Phần I Đại cương về lịch sử triết học,
Khoa lý luận chính trị tiểu ban triết học Trường ĐHKT Tp.HCM, 2011.
3. TS. Nguyễn Ngọc Thu ( chủ biên), Lịch Sử Triết học, Khoa lý luận chính trị
tiểu ban triết học Trường ĐHKT Tp.HCM, 2003.
4. Nguyễn Ước, Đại Cương Triết Học Đông Phương, NXB Tri Thức, 2009.
5. Tạp chí Triết học, số 8, tháng 11-2001 bài “Nhân, nhân nghĩa, nhân chính trong
“Luận Ngữ” và “Mạnh Tử”” - Hoàng Thị Bình.
6. www.diendankienthuc.net ngày truy cập: 15/2/2012.
7. www.vn.net ngày truy cập : 20/2/2012.
8. www.dunglac.org ngày truy cập : 24/2/2012.