Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Sau Đại học
Tiểu luận Triết học
Đề tài:
Tư tưởng Triết học Nho gia và những giá trị,
hạn chế của nóThực hiện: Đào Đức Cẩm
(Số TT:11, Lớp đêm 5, K21)
Giảng viên hướng dẫn: TS. Bùi Văn Mưa
Tp Hồ Chí Minh, 02/2012
Mục lục
Lời mở đầu 1
Chương 1: Tư tưởng triết học Nho gia 2
3.1 Chính trị - Xã hội: 4
Chương 2: Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Nho gia 8
Lời mở đầu
Nho gia từ khi được Khổng Tử (551-479 TCN) sáng lập vào cuối thời Xuân Thu liên
tục được hoàn thiện, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn hóa tinh thần
Trung Quốc cũng như rất nhiều các quốc gia phương Đông, trong đó có Việt Nam nơi
Nho gia du nhập rất sớm từ thời Bắc thuộc. Trong mỗi cá nhân chúng ta, có thể nhận thấy
rõ ảnh hưởng của Nho gia thấm nhuần từ khi còn trên ghế nhà trường như truyền thống
hiếu kính ông bà cha mẹ, tôn sư trọng đạo, tiên học lễ hậu học văn, truyền thống hiếu
học… Ngoài ra các bài học về cần, kiệm, liêm, chính hay tam tòng tứ đức….vẫn luôn
được nhắc đến trong cuộc sống hiện đại. Vì vậy, học tập và nghiên cứu Nho gia thực sự
gần gũi đối với mỗi người Việt Nam.
Nho gia đã trải qua những thời kì phát triển rực rỡ nhưng cũng không tránh khỏi
những thăng trầm trong lịch sử. Tuy nhiên tư tưởng Nho gia đã và đang đóng góp những
phổ biến trong toàn xã hội [1,56], tức là Nho gia đã trở thành Nho Giáo.
Kế tiếp để trở thành tư tưởng chính thống, Nho giáo đã được bổ sung và hoàn thiện
qua nhiều giai đoạn lịch sử trung Đại sau thời Tây Hán của Đổng Trọng Thư như các
nhà: Đường, Tống, Minh, Thanh. Tiêu biểu hơn cả là dưới triều nhà Tống, gắn liền với
tên tuổi của các bậc danh Nho như Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di.
Nho giáo chi phối đời sống tư tưởng xã hội Trung Quốc qua nhiều thời kỳ tiếp theo,
nhưng nhìn chung trong thời kỳ Minh-Thanh không có sự phát triển nổi bật mà ngày
càng khắt khe, bảo thủ. Điều này tạo ra sự trì trệ và lạc hậu kéo dài của Trung Quốc khi
bước sang thế kỷ XIX, làm cho Trung Quốc không bắt kịp trào lưu văn minh thế giới
[1,57].
Tiểu luận Triết học Trang 2
2. Các tác phẩm nổi tiếng của Nho gia:
Kinh điển của Nho gia thường kể tới bộ Tứ thư và Ngũ kinh. Tứ thư có Trung dung,
Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử. Ngũ kinh có: Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu. Hệ thống kinh
điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự
nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị đạo đức là những
tư tưởng cốt lõi của Nho gia. Những người sáng lập Nho gia nói về vũ trụ và tự nhiên
không nhiều [2,19].
2.1Tứ thư:
Tứ thư là bốn quyển sách kinh điển của văn học Trung Hoa được Chu Hy thời nhà
Tống lựa chọn làm nền tảng cho triết học Trung Hoa và Khổng giáo. Chúng bao gồm :
Luận Ngữ, Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử.
2.2Ngũ kinh:
Kinh Thi: là sách sưu tập các bài thơ dân gian có với chủ đề chính là tình yêu nam nữ.
Khổng Tử muốn dùng nó nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và
cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng.
Kinh Thư: ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời trước nhằm làm gương cho các
đời sau.
Kinh Lễ: ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm
phương tiện để duy trì và ổn định trật tự.
cai trị dân mà dùng đạo đức, đưa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ
và thực lòng quy phục [1,55].
- Xã hội thời Xuân thu – Chiến quốc loạn lạc, luân thường đạo lý suy đồi, kỷ cương
phép nước lỏng lẻo. Vì thế lý tưởng của Nho gia là xây dựng một “xã hội đại đồng”. Đó
là một xã hội có trật tự trên dưới, có vua sáng - tôi hiền, cha từ - con thảo, trong ấm -
ngoài êm; trên cơ sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ
dân. Có thể nói đó là lý tưởng của tầng lớp quý tộc, thị tộc cũ cũng như của giai cấp địa
chủ phong kiến đang lớn lên.
Đối với quan hệ vua tôi, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống và chủ
trương không phân biệt đẳng cấp xuất thân của người ấy. Trong việc chính trị vua phải
biết trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự. Quan hệ vua
tôi thì vua phải lấy điều nhân nghĩa làm gốc chứ không được chỉ vui thú lợi lộc riêng, tà
dâm bạo ngược, dùng sức mạnh để đàn áp dân. Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con
đối với cha phải lấy chữ hiếu làm đầu và cha đối với con phải lấy lòng tự ái làm trọng.
Trong đạo hiếu của con đối với cha mẹ, dù rất nhiều mặt, nhưng cốt lõi phải ở tâm thành
kính.
- Về cách trị nước an dân, Nho gia kiên trì vương đạo và chủ trương lễ trị. Trong việc
trị nước cũng như tu thân, học đạo sửa mình để đạt được đức nhân, “lễ” được Khổng Tử
rất mực chú trọng. Lễ ở đây là những quy phạm nguyên tắc đạo đức. Ông cho rằng do
vua không giữ đúng đạo vua, cha không giữ đúng đạo cha, con không giữ đúng đạo con
nên thiên hạ vô đạo, phải dùng lễ để khôi phục lại chính danh. Lễ với cách hiểu trên là cơ
sở, là công cụ chính trị, là vũ khí của một phương pháp trị nước, trị dân lâu đời của Nho
giáo. Phương pháp ấy gọi là "lễ trị"[2,21].
3.2 Đạo đức – Giáo dục:
- Từ kinh nghiệm của mình, Khổng Tử đã tổng kết được nhiều quy luật nhận thức,
nhưng chủ yếu là thực tiễn giáo dục và về phương pháp học hỏi. Để đạt tới "đạo nhân",
Nho gia rất quan tâm tới giáo dục. Nho giáo lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt
Tiểu luận Triết học Trang 5
tới xã hội lý tưởng đại đồng. Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội nên
nền giáo dục dục Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người [2,21].
tính con người là thiện nên Nho gia đề cao sự giáo dục để con người trở về đường thiện
với những chuẩn mực đạo đức sẵn có. Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là thiện, Tuân
Tử lại coi bản tính con người vốn là ác. Mặc dù bản thân con người ác, nhưng có thể giáo
hoá thành thiện. Xuất phát từ quan điểm đó về tính người, Tuân tử đã chủ trương đường
lối trị nước kết hợp Nho gia với pháp gia.
Tiểu luận Triết học Trang 7
Chương 2: Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học Nho gia
1. Những mặt tích cực:
1.1 Đạo đức – Giáo dục:
Khổng Tử chủ trương cải tạo xã hội bằng đạo đức. Theo ông làm người cần phải có
đức vì vậy Nho gia đã đưa ra các tiêu chuẩn đạo đức nhằm cải tạo con người, hoàn thiện
nhân cách của con người. Nho giáo hướng con người vào con đường ham tu dưỡng đạo
đức theo Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, ham học tập để phò Vua giúp nước. Vì vậy những
tư tưởng về đạo đức của Nho gia có ảnh hưởng lớn tới sự hình thành nhân cách, đạo đức
của mỗi người trong xã hội, không những trong xã hội phong kiến thời xưa mà cả trong
xã hội ngày nay.
Để thực hiện xã hội lý tưởng, xã hội đại đồng Nho gia không đặt vấn đề về một cuộc
cách mạng, không sử dụng bạo lực, mà tìm cứu cánh ở một nền giáo dục. Về mặt giáo
dục, theo Khổng Tử có giáo dục và tự giáo dục thì mỗi người mới biết phận vị của mình
mà nhìn nhận hành động trong cuộc sống cho đúng. Ông coi giáo dục không chỉ mở
mang nhân tính, tri thức, giải thích vũ trụ mà ông chú trọng tới việc hình thành nhân cách
con người, lấy giáo dục để mở mang cả trí, nhân, dũng, cốt dạy con người ta hoàn thành
con người đạo lí. Ngoài ra tư tưởng Nho gia (Tuân Tử) cho rằng hành vi đạo đức của con
người là do thói quen mà thành, phẩm chất con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội
và kết quả của sự học tập, giáo dục lâu ngày mà nên, từ đó nhờ giáo dục có thể cải hoá
con người từ ác thành thiện được. Nếu ra sức tu dưỡng đạo đức thì bất cứ người nào cũng
đều có thể đạt được địa vị "người quân tử".
Nho giáo thể hiện là một học thuyết có tính nhân văn cao, nhìn thấy nét đẹp của con
người và rất tin tưởng vào con người, tin tưởng vào khả năng giáo dục con người. Chính
vì thế Nho gia có đóng góp đặc biệt quan trọng vào việc thúc đẩy giáo dục hình thành và
- Tư tưởng Nho gia hạn chế vai trò của phụ nữ, trọng nam khinh nữ, phân biệt đẳng
cấp. Phụ nữ chỉ được xếp vào hạng tiểu nhân, họ không được học hành, thi cử, bị phân
biệt đối xử trong gia đình và xã hội. Nho gia coi kẻ có nhân là quân tử trong đó nông dân
ở đẳng cấp riêng, sự đối lập giữa tiểu nhân và quân tử là sự đối lập giữa nhân dân lao
Tiểu luận Triết học Trang 9
động với tầng lớp quí tộc. Sự phân biệt rõ ràng giữa các tầng lớp quan lại, nho sĩ, dân
thường này thể hiện rõ sự phân biệt giai cấp trong quan niệm của Nho gia.
- Khổng Tử tin có trời nhưng đối với ông, trời có ý chí, ý trời là thiên mệnh không thể
thay đổi được, không thể cải được mệnh trời vì vậy Nho gia quan niệm số phận của mỗi
người đều được định từ trước và việc hiểu biết mệnh trởi là một điều kiện để trở thành
người hoàn thiện, đó là điểm hạn chế lớn của Nho gia. Đối với quỷ thần ông có tư tưởng
thiếu nhất quán với việc tin có quỷ thần nhưng quỷ thần ở đây mang tính chất lề giáo là
chủ yếu, và quỷ thần là do khí thiêng trong trời đất tạo thành. Như vậy vẫn tồn tại mâu
thuẫn đối lập nhau giữa việc thừa nhận có thiên mệnh nhưng đối với quỷ thần lại xa lánh
nên Nho gia mang tính hai mặt đan xen giữa các yếu tố vô thần duy tâm tôn giáo, các học
thuyết còn mang tính cải lương duy tâm.
2.2 Kinh tế - Chính trị:
Tư tưởng Nho gia bảo thủ về mặt xã hội và duy tâm về mặt triết học, nó được sử dụng
để bảo vệ, củng cố các xã hội phong kiến trong lịch sử và góp phần không nhỏ trong việc
duy trì quá lâu chế độ phong kiến ở phương Đông.
- Chế độ phong kiến dựa vào tư tưởng Nho gia để cai trị với những thủ tục hà khắc
trong quan hệ tam cương ngũ thường. Mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi các
mối quan hệ gia đình (chế độ tông pháp, gia trưởng) và xã hội (phân biệt đẳng cấp, chính
danh). Cùng với tư tưởng lễ trị, chế độ phong kiến đã bóp nghẹt đời sống kinh tế, văn hóa
và tinh thần của các tầng lớp nhân dân thời phong kiến.
- Nho giáo với tư tưởng Nho gia ở vị trí độc tôn thời phong kiến làm cho bệnh khuôn
sáo phát triển mạnh mẽ với việc lấy các bài học xưa và xã hội cổ làm chuẩn mực. Chính
việc này đã làm cho xã hội mang tính giáo điều, khuôn mẫu, triệt tiêu hết sức sáng tạo,
làm cho xã hội, con người trì trệ, lạc hậu mà hậu quả có thể thấy được khi xã hội Trung
Quốc bước vào thế kỷ 19 so với văn minh của các nước phương Tây.
những giá trị này vẫn tồn tại và được khuyến khích trong xã hội hiện đại ngày nay.
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Văn Mưa (Chủ biên), Triết học (Phần I), Trường Đại học Kinh tế TP
HCM, Tp Hồ Chí Minh, 2010.
2. Nguyễn Ngọc Long - Nguyễn Hữu Vui (Đồng chủ biên), Giáo trình Triết học
Mác-Lenin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
3. />triet-hoc-nho-gia-ve-chinh-tri-dao-duc.html#ixzz1lc65lNlJ (Truy cập ngày
19/01/2012)
4. />co-ban-cua-nho-giao-va-su-anh-huong-cua-no-toi-nuoc-
ta.html#ixzz1lcA0u7M8 (Truy cập ngày 6/2/2012)
Tiểu luận Triết học Trang 12