TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VIỆN QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA VÀ
NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
GVHD: Bùi Văn Mưa
SVTH: Lê Phúc Đạt - STT: 27
LỚP: CHKT Đêm 5 – Khóa 21
TP Hồ Chí Minh, 2012
Tiểu Luận Triết Học Mục Lục
MỤC LỤC
Lời Mở Đầu 1
1.Vấn đề nghiên cứu 1
2.Nội dụng nghiên cứu 1
3.Mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu 1
Chương 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA TRƯỜNG PHÁI ĐẠO
GIA 2
1.Sơ lược sự hình thành và phát triển Đạo gia 2
2.Một số tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia 3
2.1Tư tưởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử 3
2.2Trang Tử và sự phát triển của Đạo gia 5
Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA
7
1.Những giá trị của tư tưởng triết học trường phái Đạo gia 7
1.1Quan niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử 7
1.2Quan niệm nhân sinh và chính trị - xã hội 7
1.3Quan niệm biện chứng về thế giới của Trang Tử 8
2.Những hạn chế của tư tưởng triết học trường phái Đạo gia 8
2.1Quan niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử 8
Tiểu Luận Triết Học Chương 1
Chương 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA
TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA
1. Sơ lược sự hình thành và phát triển Đạo gia
Đạo giáo (tiếng Trung: 道教), Giáo lí về Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo
Trung Quốc, được xem là tôn giáo đặc hữu chính thống của xứ này.
Sự hình thành của Đạo Giáo là quá trình dài, thu thập nhiều trao lưu thượng cổ
khác nhau, trong đó có các tư tưởng được phổ biến từ thời nhà Chu (1040-256
trước CN).Đạo giáo được xác nhận là hình thànhkhi tác phẩm Đạo Đức kinh của
Lão Tử xuất hiện. Kiệt tác của Lão Tử là quyển Đạo Đức Kinh và có được khi
ông rời khỏi nhà Châu. Lúc đó, do nhận thức rằng chính sự của vương quốc này
đã đến hồi suy đồi nên Ngài bèn quyết định ra đi. Theo truyền thuyết, Ngài cưỡi
trâu về phía Tây, ngang qua nước Tần và biến mất vào sa mạc rộng lớn. Lúc đó,
có một người lính gác cửa tên Doãn Hỷ ở cửa phía tây của Vạn Lý Trường
Thành thuyết phục Lão Tử viết lại những hiểu biết của mình trước khi ra đi. Cho
tới lúc ấy, Lão Tử mới chịu viết để lại cuốn Đạo Đức Kinh.Đạo Đức Kinh gồm
trong 5.000 chữ, với lời từ chối giảng đạo thể hiện trong hai dòng đầu tiên:
Đạo khả đạo phi thường đạo
Danh khả danh phi thường danh.
Đạo giáo là một trong Tam giáo có ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hoá dân
tộc Trung Quốc , tồn tại từ thời Trung Quốc cổ đại, song song với Nho giáo và
Phật giáo. Ảnh hưởng Tam giáo trong lĩnh vực tôn giáo và văn hoá vượt khỏi
biên giới Trung Quốc, được truyền đến các nước Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật
Bản.
Tại Trung Quốc, Đạo giáo đã ảnh hưởng sâu rộng đến các lĩnh vực chính trị, kinh
tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y khoa, hoá học, vũ
thuật và địa lí.
Hiện tại Đạo giáo có hơn 400 triệu tín đồ theo Đạo giáo với các trường phái ,
tông phái khác nhau ở các nước Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaysia &
cộng đồng người Hoa ở nước ngoài.
luật phản phục.
Qui luật bình quân giữ cho sự vật cân bằng theo một trật tự điều hòa tự nhiên,
không có gì thái quá, bất cập.“Cái gì khuyết sẽ được tròn đầy, cái gì cong sẽ
được thẳng, cái gì ít sẽ được, nhiều sẽ mất, cái gì cũ thì lại mới.Qui luật phản
phục là sự phát triển đến cực điểm thì chuyển quay trở lại phương hướng cũ.
Vạn vật biến hoá trao đổi cho nhau theo một vòng tuần hoàn đều đặn, kế tiếp,
nhịp nhàng bất tận như bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông thay đổi, qua lại. Đây là
luật bất di, bất dịch của tự nhiên.Nghĩa là vạn vật sẽ trở lại gốc.
Lão Tử nhìn sự vật thường xuyên biến đổi và nhận ra luật mâu thuẫn nơi vẻ
ngoài của vạn vật,“cái yên tĩnh là chủ của cái xáo động, cái quí lấy cái tiện làm
gốc, cái cao lấy cái thấp làm gốc,cái thật đầy thì giống như trống không, con
người thật khôn khéo thì trông giống như vụng về ”. Lão Tử cho rẳng sự vật
Tiểu Luận Triết Học Chương 1
nào cũng là sự thống nhất của hai mặt đối lâp , chúng ràng buộc, bao hàm lẫn
nhau.Lão Tử còn cho rằng các mặt đối lập không chỉ thống nhất mà còn xung
đột đấu tranh lẫn nhau tạo ra sự vận động, thay đổi, biến hóa không ngừng của
vạn vật.
Lão Tử khẳng định càng tách xa đạo thì xã hội càng chứa nhiều mâu thuẫn và
mâu thuẫn là tai họa của xã hội. Để giải quyết Lão Tử cho rằng phải xóa bỏ mọi
mâu thuẫn bằng cách đẩy mạnh một trong hai mặt đối lập để sự vật chuyển hóa
theo qui luật phản phục để trở lại cái ban đâu hay bỏ đi một trong hai mât đối
lập để mặt đối lập kia mất đi theo qui luật bình quân.
2.1.3Quan niệm nhân sinh và chính trị - xã hội
Dựa trên nguyên lý đạo pháp tự nhiên và mở rộng quan điểm về đạo vào các lại
vực xã hội, Lão Tử xây dựng thuyết vô vi để trình bày quan điểm của mình về
các vấn đề nhân sinh và chính trị - xã hội.
Vô vi la sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không
gò ép trái với bản tính của mình và ngược với bản tính của tự nhiên.
Về nhân sinh
Quan niệm của Lão Tử đối với nhân sinh được tóm tắt trong mấy chữ “tĩnh tọa
chẳng lành, không phải việc của quân tử. Nếu bắt buộc phải dùng binh thì phải
điềm đạm. Nếu thắng cũng đừng cho là hay. Đắc thắng mà cho là hay tức là kẻ
thích giết người, cuộc chiến tranh phải xử bằng tang lễ".
Ông nói: “Ta vô vi mà dân tự hóa. Ta vô tình mà dân tự tính. Ta vô dục mà dân
tự giàu. Ta vô dục mà dân chất phác” (Đạo đức kinh, chương 57).Lão Tử chủ
trương xóa bỏ mọi lễ giáo, pháp luật, văn hóa, kĩ thuật; bỏ mọi điều trái với tự
nhiên làm tổn hại đến bản chất tự nhiên của con người. Ông còn cho rằng :
"Không chuộng hiền khiến dân không tránh, không trọng vật khiến dân không
trộm cướp, không thấy vật đáng ham khiến lòng dân khỏi loạn. Cho nên lối trị
dân như vậy, thường khiến cho lòng dân trống, bụng no nhược trĩ, xương cứng
cáp, thường khiến cho dân không biết, không muốn"(Đạo đức kinh, chương 3)
Lão Tử mơ ước đưa xã hội trở lại đời sống chất phát của thời đại nguyên thủy
chât phác, mơ ước cô lập cá nhân với xã hội để hòa tan vào đạo.Ông nói:
"Thánh nhân coi toàn dân như trẻ sơ sinh". Vì trẻ nhỏ vốn sống hồn nhiên,
không có ham muốn, dục vọng, chưa xa cái đức tự nhiên, vô vi. Lão Tử nói :
"Không xa đức trở lại thời kì trẻ thơ". Hơn thế, thánh nhân còn "không làm cho
dân sáng, mà làm cho dân ngu".
Xã hội lý tưởng với ông là những nước nhỏ, dân ít, có thuyền xe nhưng không
đi, có gươm giáo nhưng không dùng, bỏ văn tự, từ tư lợi, không học hành…;
Dân hai nước ở cạnh nhau dù cách nhau một bờ dậu nhỏ hay một con mương
cạn, cùng nghe tiếng chó sủa tối, tiếng gà gáy sáng nhưng đến già đến chất
không bao giờ qua lại thăm nhau.
2.2 Trang Tử và sự phát triển của Đạo gia.
Sau Lão Tử khoảng hai trăm năm, có một triết gia chiêm bao thấy mình hóa
bướm nhởn nhơ bay lượn tới độ khi tỉnh giấc, không biết giờ đây mình đang là
bướm hay bướm chính là mình.Kẻ ấy là triết gia và văn hào Trang Tử, người để
lại cho đời tuyệt phẩm Nam Hoa Kinh.
Sử ký của Tư Mã Thiên viết về ông: “Sở học của ông không sách gì không
xem, nhưng cái gốc chủ yếu quy về lời Lão Tử, cho nên ông viết sách hơn
mười vạn chữ (Nam Hoa Kinh), đại để dùng dụ ngôn Lời ông mênh mông
thực sự của mọi sự mâu thuẫn - đó là mối quan hệ biện chứng giữa động và tĩnh
giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Vì mối quan hệ biện chứng
của các mặt đối lập chính là nguồn gốc của mọi sự vận động, biến đổi. Ông cho
rằng mâu thuẫn là tai họa của xã hội và đề ra cách giải quyết những vấn đề của
xã hội là giải quyết các mâu thuẫn có nguồn gốc chủ quan trong xã hội.
Đây là nơi tập trung giá trị của quan điểm biện chứng của Lão Tử, thể hiện một
trình độ khái quát cao và tư duy biện chứng khi giải quyết vấn đề bản nguyên
thế giới.
1.2 Quan niệm nhân sinh và chính trị - xã hội
Về nhân sinh
Mặc dù Lão Tử đề cao mặt tự nhiên của con người, phủ nhận mặt xã hội, nhưng
quan điểm "vô vi" của Lão Tử vẫn biểu hiện sâu sắc nghệ thuật sống, thái độ
ứng xử của con người, phương pháp trị nước của vua chúa hay bộ máy nhà
nước, và đây cũng chính là chỗ tập trung giá trị hệ thống triết học của ông.
Lão Tử cho rằng nếu không hành động theo tự nhiên, đem cái hữu vi trong bản
chất con người mà áp đặt vào cái tự nhiên có sẵn sẽ làm mất tính tự điều hòa,
làm xáo trộn trật tự tự nhiên sẽ dẫn đến thất bại. Ông hướng con người đến lối
sống gần gũi với thiên nhiên, cây trong rừng mọc làm sao thì để tự như vậy .
Nếu chúng ta cứ để cho sự việc xảy ra tự nhiên thì là phải đạo nhất. Lý thuyết
này thực sự hiệu quả khi giải thích lý do tại sao phải bảo tồn thiên nhiên, không
phải động chạm gì mà chỉ bảo tồn thế là đủ.
Lão Tử viết : "Ngũ sắc làm cho mắt mờ, ngũ âm làm cho tai điếc, ngũ vị làm
cho miệng chán. Cưỡi ngựa săn bắn làm cho phát cuồng, vật khó kiếm khiến
cho lòng tà vậy".Quan niệm của Lão Tử cho rằng con người không bị ràng
buộc bởi bất cứ ý tưởng, dục vọng, đam mê, ham muốn nào. Nếu trong đời
sống người ta cố chạy theo những nhu cầu, ham muốn trái với khả năng, bản
tính tự nhiên của mình thì sẽ đánh mất chính bản thân mình
Tiểu Luận Triết Học Chương 2
Lão Tử đã nâng quan điểm vô vi lên thành một nghệ thuật sống cho con người
trong xã hội Trung Hoa, đó là từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan dung.
hóa, vận động là sự thay thế, chuyển đổi một cách tuần tự, bình quân, phản
phục không có sự đấu tranh, loại bỏ lẫn nhau, phủ định lẫn nhau giữa các mặt
đối lập.Vạn vật chỉ vận động tuần hoàn lập đi lập lại một cách buồn tẻ mà
không có sự ra đời của cái mới, nghĩa là không có sự phát triển.
Tiểu Luận Triết Học Chương 2
Mặc dù đã chỉ nên được bức tranh sinh động về sự vận động nhưng chỉ mang
tính ngây thơ, chất phát, dựa trên tính trực quan cảm tính. Không vạch được
yếu tố cốt lõi khi giải quyết mâu thuẫn là sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà
chủ trương lấy cái tĩnh, cái vô vi để tạo thành sự chuyển hoá theo luật quân
bình
2.2 Quan niệm nhân sinh và chính trị - xã hội
Về nhân sinh
Ông chủ trương bỏ trí năng, bỏ văn tự, bỏ việc dạy dỗ dân, để dân chúng sống
mộc mạc, tự nhiên. Có thể thấy rằng Lão Tử không khuyến khích con người
học hành, phát triển tri thức, văn hóa, kĩ thuật mà “bỏ hẳn cái học đi thì không
lo lắng gì cả, hiện ra cái nõn nà, âm lầy cái chất phát, ít lòng tư, bớt lòng
dục”(Đạo Đức Kinh, Chương 20.
Ông phản đối việc áp đặt luật pháp và các chuẩn mực về đạo đức trong cuộc
sống sẽ làm con người mất tự nhiên, làm mất đạo.Theo ông khi đạo lớn bị phá
bỏ sẽ xuất hiện nhân-nghĩa, khi trí tuệ ra đời thì sinh ra giả dối, khi loạn nước
mới sinh ra tôi trung, khi gia tộc bât hòa mới sinh ra con hiếu thảo….Như vậy
khiến con người không có ý chí phấn đấu để cải thiện bản thân.
Về đường lối an dân trị nước
Có thể thấy rằng, quan điểm triết học của Trang Tử đã thể hiện tư tưởng và địa
vị giai cấp của tầng lớp quý tộc sa sút trong thời kỳ loạn lạc.
Quan niệm xã hội lý tưởng của ông là “nước nhỏ, dân ít” , không ngoại giao
với bên ngoài mà chỉ cô lập xã hội và hòa tan vào đạo, vào cái tự nhiên. Điều
này khiến xã hội trì trị chậm phát triển.
Ông chủ trương các bậc Thánh nhân khi trị vì thì phải xỏa bỏ hết mọi lễ tục,
mọi ràng buộc về đạo đức và pháp luật, không có thể chế khuôn phép.\
trong sự vận hành của vũ trụ đã thể hiện rất sâu sắc quan điểm biện chứng của
Lão Tử.Những tư tưởng sâu sắc của Lão Tử đã nâng ông lên vị trí nhà triết học
hàng đầu trong nền triết học Trung Hoa.Chúng góp phần to lớn vào sự phát triển
của triết học phương Đông ,làm suối nguồi làm phát sinh nhiều tư tưởng triết học
đặc sắc của nền triết học phương Đông.
Tiểu Luận Triết Học Tài Liệu Tham Khảo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Hồng Giang ,Về Vấn Đề Con Người Và Xã Hội Con Người Trong Triết
Học Lão Tử, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐHQG-HCM,
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 12, SỐ 01 – 2009
2. Bùi Văn Mưa, Triết Học, phần 1 : Đại Cương Về Lịch Sử Triết Học, Trường
Đại Học Kinh Tế HCM, năm 2010
3. Bùi Văn Mưa , Slide bài giảng Triết Học, lớp CHKT k21-đêm 5, 2011-2012
4. Hàn Sinh Tuyên ( Lê Anh Minh dịch ), Tư Tưởng Đạo Gia, NXB Tam Giáo
Đồng Nguyên, năm 2008
5. />6. />7. />