TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Tên đề tài:
Tên đề tài:
GVHD:
GVHD:
TS. Bùi Văn Mưa
TS. Bùi Văn Mưa
Lớp:
Lớp:
CHKT K21 – Đêm 5
CHKT K21 – Đêm 5
Nhóm:
Nhóm:04
04
HVTH:
HVTH:PHẠM MINH ĐỨC - STT: 31
pháp lý hiện đại để tìm hiểu về học thuyết này chúng ta vẫn thấy toát lên những giá
trị tư tưởng bổ ích. Học thuyết pháp trị do phản ánh đúng quy luật khách quan nên
đã đáp ứng được yêu cầu của lịch sử. Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, chúng ta nên tham khảo, tiếp thụ những hạt nhân
tiến bộ của học thuyết này cũng như tránh những điểm không phù hợp của nó. Chính
như vậy nên tôi chọn đề tài: “ Tư tưởng triết học pháp gia và những giá tri, hạn
chế ” để nghiên cứu.
2. Mục đích của đề tài
Hiểu rỏ hơn phần nào về những giá trị và hạn chế của nó. Để có hướng áp dụng
cũng như nên tránh trong quản lý hiện nay.
3. Nội dung chính của đề tài
Giới thiệu sơ lược về lịch sử hình thành Phái pháp gia, những tư tưởng triết học
cơ bản của nó. Những nhận định về giá trị đóng góp cũng như hạn chế của nó
4. Phạm vi nghiên cứu, đối tượng và tài liệu sử dụng
Đề tài chỉ đi vào nghên cứu những giá trị và hạn chế của tư tưởng pháp trị.
Sử dụng các tài liệu như giáo trình triết học, lịch sử triết học Phương đông, lịch
sử triết học Trung Quốc, Hàn phi tử, một vài tài liệu từ internet.
5. Đóng góp và hạn chế của đề tài
Giúp cho người đọc hiểu một phần về những giá tri đóng và những hạn chế của
học thuyết pháp trị. Nhưng đề tài cũng chưa thực sự khai thác và nhận định đầy đủ
về nó.
Trang 1
Tư tưởng triết học Pháp gia Nhóm 4-CHKT- Đêm 5K21
Phần 1: Những tư tưởng cơ bản của triết học pháp gia
1.1 Khái quát sự hình thành của phái pháp gia
Lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được nói đến nhiều nhất: Xuân thu
(770-403 TCN) và Chiến quốc(403-221 TCN). So với thời Xuân Thu thì Chiến
Quốc loạn lạc và bất ổn định hơn về chính trị, nhưng lại phát triển hơn về kinh tế.
Đây là thời kỳ đạo đức suy đồi, người ta chỉ tìm mọi cách để tranh quyền đoạt lợi.
Trước tình cảnh xã hội như vậy, tầng lớp quý tộc và tầng lớp trí thức có sự chia rẽ về
định danh phận cho mỗi người, “lệnh” là để cho dân biết việc mà làm, “hình” là để
trừng trị những kẻ làm trái luật và lệnh, “chính” là để sửa cho dân theo đường ngay
lẽ phải.
Trong khi đề cao luật pháp, cần chú trọng đến đạo đức, lễ, nghĩa, liêm
trong phép trị nước. Như vậy có thể thấy rằng Quản Trọng chính là thủy tổ của Pháp
gia, đồng thời ông cũng là cầu nối Nho gia với Pháp gia.
Sau Quản Trọng phải kể đến Thân Bất Hại (401-337 TCN), là người nước
Trịnh chuyên học về hình danh, làm quan đến bậc tướng quốc. Thân Bất Hại đưa ra
chủ trương ly khai "Đạo đức" chống “Lễ” và đề cao “Thuật” trong phép trị nước.
Thân Bất Hại cho rằng “Thuật” là cái "bí hiểm" của vua, theo đó nhà vua không
được lộ ra cho kẻ bề tôi biết là vua sáng suốt hay không, biết nhiều hay biết ít, yêu
hay ghét mình bởi điều đó sẽ khiến bề tôi không thể đề phòng, nói dối và lừa gạt
nhà vua.
Một đại biểu nữa của phái Pháp gia thời kỳ này là Thận Đáo (370-290 TCN),
ông là người nước Triệu và chịu ảnh hưởng một số tư tưởng triết học về đạo của Lão
Tử, nhưng về chính trị ông lại đề xướng đường lối trị nước bằng pháp luật. Thận
Đáo cho rằng pháp luật phải khách quan như vật "vô vi" và điều đó loại trừ thiên
kiến chủ quan, riêng tư của người cầm quyền. Phải nói rằng đây là một tư tưởng khá
tiến bộ mà sau này Hàn Phi đã tiếp thu và hoàn thiện. Trong phép trị nước, đặc biệt
Thận Đáo đề cao vai trò của "Thế". Ông cho rằng: "Người hiền mà chịu khuất kẻ bất
tiếu là vì quyền thế nhẹ, địa vị thấp: kẻ bất tiếu mà phục được người hiền vì quyền
trọng vị cao. Nghiêu hồi còn làm dân thường thì không trị được ba người mà Kiệt
khi làm thiên tử có thể làm loạn cả thiên hạ, do đó biết rằng quyền thế và địa vị đủ
để nhờ cậy được mà bậc hiền, trí không đủ cho ta hâm mộ. Cây ná yếu mà bắn được
mũi tên lên cao là nhờ sức gió đưa đi, kẻ bất tiếu mà lệnh ban ra được thi hành là
nhờ sức giúp đỡ của quần chúng, do đó mà xét thì hiền và trí không đủ cho đám
đông phục tùng, mà quyền thế và địa vị đủ khuất phục được người hiền".
Cùng thời với Thận Đáo, có một người cũng nêu cao tư tưởng Pháp trị, đó là
Thương Ưởng. Ông đã hai lần giúp vua Tần cải cách pháp luật hành chính và kinh tế
Trang 3
để duy trì sự thắng thế của nhà vua vì pháp luật là gốc của vương quyền và để bảo
Trang 4
Tư tưởng triết học Pháp gia Nhóm 4-CHKT- Đêm 5K21
vệ vương quyền, do vua đặt ra để bắt dân thi hành, theo quan niệm: “Pháp luật là
gốc của vua, hình phạt là đầu mối của tình thương”. Sự cần thiết của pháp luật ở chỗ
là mẫu mực để an dân, làm cho nước trị vì nó có mục đích xoá nguồn gốc của sự rối
loạn “làm cho trị là pháp luật, gây ra loạn là cái riêng tư”. Điều đó cho thấy, từ xa
xưa các nhà pháp trị đã nhận thức được vấn đề mang tính bản chất: Pháp luật do giai
cấp thống trị ban hành và là công cụ đắc lực để bảo vệ quyền lực chính trị. Bằng sự
kết hợp giữa quyền lực và luật pháp, Pháp trị đã cho chính trị ly khai khỏi sự chế
ngự của đạo đức và soi rõ thực chất của mối quan hệ giữa nhà cầm quyền và người
bị trị là quan hệ của quyền lực, vạch rõ cơ sở khoa học của mối quan hệ giữa luật
pháp với chính trị trong vai trò là công cụ của quyền lực chính trị.
1.2.2.2. Pháp luật phải phù hợp với đời sống xã hội
Một trong những quan điểm hàng đầu của Pháp trị cho rằng: việc ban hành
pháp luật phải thích ứng với thời đại. Ngoài ra, các nhà Pháp trị còn cho rằng, pháp
luật phải chiều theo tập quán của dân chúng, “thánh nhân cai trị thì xem phong tục
của thời đại thì pháp luật không đứng được, mà dân loạn”. Tư tưởng này thể hiện
cái khôn ngoan của kẻ cai trị: dùng sức mạnh của tập quán để củng cố sức mạnh cho
pháp luật và cũng chính tập quán là chất xúc tác quan trọng để pháp luật phát huy
vai trò trong cuộc sống. Điều đó cho thấy các nhà Pháp trị luôn thống nhất giữa tính
nguyên tắc với sự linh hoạt cần thiết của tư duy biện chứng sâu sắc. Pháp trị chủ
trương pháp luật phải đơn giản, dễ hiểu. Phải soạn thảo cho dân dễ biết, dễ thi hành.
Theo Hàn Phi, pháp luật phải công bằng, bênh vực kẻ yếu, số ít, như vậy mới tạo
nên trật tự trong nước. Pháp luật được quan niệm như là mẫu số chung để điều chỉnh
các mối quan hệ khác nhau trong xã hội quy về một trật tự thống nhất theo ý chí của
giai cấp thống trị.
2.1.2.3. Thưởng phạt nghiêm minh
Việc ban hành pháp luật mới chỉ đáp ứng về điều kiện cần để điều chỉnh các
quan hệ xã hội. Điều quan trọng hơn là những quy định pháp luật đó được tổ chức
món hàng xa xỉ, những thứ đồ chơi của trẻ nhỏ. Cái quý nhất là pháp luật và chỉ có
thể là pháp luật “áp dụng pháp luật thì kẻ trí phải theo mà kẻ dũng không dám cãi,
khiến cho toàn dân noi theo một đường thì không gì bằng pháp luật. Pháp luật phân
Trang 6
Tư tưởng triết học Pháp gia Nhóm 4-CHKT- Đêm 5K21
minh thì người trên được coi trọng, không bị lấn. Người trên được coi trọng không
bị lấn thì vua mạnh, nắm được cái mối quan trọng”.
1.2.2.5 Chính danh và thực
Qui tắc căn bản của thuật dùng người theo pháp gia là thuyết hình danh. Người
đầu tiên lập thuyết về danh là Khổng tử. Thuyết chính danh của ông là một thuyết để
trị nước: chính danh là để “minh phận”, phân sự sang hèn, cũng để nhắc nhở nhà
cầm quyền nhớ đến bổn phận của họ: đã mang danh là vua, là cha mẹ của dân thì
phải giữ tư cách ông vua, làm tròn sứ mệnh ông vua. Mục đích chính danh của Tuân
tử là vừa để “minh phận” vừa để phân biệt đồng và dị. Hàn Phi là môn đệ của Tuân
Tử đã trực tiếp chịu ảnh hưởng của Tuân tử nhưng ông có óc thực tế, không bàn về
tri thức luận, chỉ áp dụng thuyết của Tuân tử vào chính trị: mà trong phạm vi chính
trị, ông cũng chỉ thu hẹp vào việc dùng người, gạt bỏ luân lí, đạo đức ra, vì vậy ông
không hề nói đến việc chính danh, chỉ nói đến hình danh hoặc danh thực. Sự vật hễ
có hình, có thực thì có danh. Danh và hình (hay thực) phải hợp nhau. Lấy pháp luật
làm danh thì việc là hình: sự việc mà hợp với pháp thì danh và thực hợp nhau. Lấy
quan vị làm danh thì chức vụ là hình: nếu hai cái không hợp nhau thì là hình danh
không hợp. Hàn phi cho qui tắc hình danh hợp nhau là quan trọng bậc nhất trong
việc trị nước, nếu không theo nó thì không sao phân biệt được kẻ giỏi người dở, kẻ
ngay người gian, không sao thưởng phạt cho đúng được, vua sẽ mất quyền, nước sẽ
loạn.
Pháp gia muốn duy trì cho có sự đồng hành giữa hình và danh và như thế họ tin
rằng một cái danh phải có một vật thực đii đôi với nó. Bởi thế nhà cầm quyền khi
giao việc cho một người nào đó phải bắt họ chịu trách nhiệm về công việc mình
nhận, kết quả công việc phải phù hợp với danh phận công việc. Một khi hệ thống
hình danh đã thiết định các chức danh ấy phải cố gắng làm tròn phận sự. Còn như
sao, mà là nền pháp trị của nước đó như thế nào.
• Sở dĩ tư tưởng chính trị của Hàn Phi đối lập với tư tưởng Nho gia là bởi
ông có một quan niệm hết sức sâu sắc về thực tiễn. Hàn Phi cho rằng, mọi suy nghĩ,
mọi hành động, mọi lý luận phải đều được bắt nguồn từ chính thực tiễn của đất
nước. Các nhà Nho trên mây trên gió bàn việc chính sự chẳng qua chỉ như trẻ con
nghịch đất, không thể đem lại hiệu quả thực tế: “Trẻ con đùa nghịch với nhau lấy đất
làm cơm, lấy bùn làm canh, lấy gỗ làm thịt. Nhưng chiều đến, thế nào cũng trở về
nhà ăn cơm. Cơm đất, canh bùn có thể đùa để chơi, nhưng không thể dùng để ăn.
Khen những điều truyền tụng từ thượng cổ, hùng biện mà không chắc chắn, nói
Trang 8
Tư tưởng triết học Pháp gia Nhóm 4-CHKT- Đêm 5K21
chuyện nhân nghĩa của các tiên vương mà không biết sửa đổi nước, thì đó cũng đều
là những điều có thể dùng để đùa chơi chứ không dùng để trị nước”.
• Then chốt của việc xây dựng đất nước giàu mạnh là phải dựa vào pháp
luật: Có pháp luật, pháp luật được thi hành một cách phổ quát và đúng đắn thì xã hội
mới ổn định, xã hội ổn định lại là tiền đề quan trọng để xây dựng đất nước giàu
mạnh, làm cho dân chúng được yên bình, hạnh phúc. Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng
“trị nước bằng luật pháp”, chủ trương “luật pháp không phân biệt sang hèn”, “hình
phạt không kiêng dè bậc đại thần, tưởng thưởng không bỏ sót kẻ thất phu”. Ông hết
sức coi trọng tác dụng của pháp luật và chủ trương xây dựng một lý luận pháp trị
hoàn chỉnh, trong đó lấy “pháp” làm hạt nhân, kết hợp chặt chẽ “pháp”, “thuật” với
“thế”.
• Hàn Phi hiểu rất rõ và sâu sắc về pháp luật, coi “pháp luật là mệnh lệnh
ban bố rõ ràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với lòng dân, thưởng cho
những kẻ cẩn thận giữ pháp luật, nhưng phạt những kẻ làm trái lệnh”. Đây là một tư
tưởng hết sức tiến bộ so với đương thời. Cái gọi là “mệnh lệnh ban bố rõ ràng nơi
cửa công” khác xa so với cách cai trị bởi ý muốn chủ quan của các cá nhân quý tộc
nắm quyền đương thời.
• Sử dụng “pháp”, “thuật”, “thế” cốt yếu là để tăng cường sức mạnh của
tập quyền quân chủ, tạo nên bối cảnh chính trị “việc tuy ở bốn phương song then
thu lượm cái lợi lớn”(Hàn phi tử-Hiển học).
Giải thích mục tiêu pháp luật quá chú trọng đến phương diện vật chất; thực
ra, luật pháp cần phải giúp phát triển một cách bình đẳng các lợi ích khác nhau.
Cái hại của pháp trị nó còn thể hiện ở chỗ công hiệu của nó chỉ có hiệu quả
trong một thời gian ngắn, mà không phải là lâu dài. Cũng tức là nói, nó chỉ có thể
cấm điều ác, không thể khuyên điều thiện. Do vậy, về hành vi ác, chỉ có thể ngăn
chặn mà không thể tiêu diệt. Mà một tổ chức điều mong mỏi là yên ổn lâu dài. Điều
này nếu chỉ dựa và pháp trị không thôi thì không làm nổi. Vừa có vấn đề đã phải
ngăn chặn. Đối tượng không pháp trị có thể thi hành chức năng của mình, cũng có
tính giới hạn rất lớn.
Do xuất phát từ lợi ích của giai cấp thống trị nên nội hàm của khái niệm
công bằng theo Hàn Phi còn phiến diện và khác xa so với hiện nay bởi đó mới chỉ là
quy định công bằng trong phục tùng nghĩa vụ giữa các thành viên trong xã hội, (còn
công bằng về quyền lợi chưa được đề cập đến.
Trang 10
Tư tưởng triết học Pháp gia Nhóm 4-CHKT- Đêm 5K21
Kết luận
Như vậy, tư tưởng pháp trị đã hình thành khá sớm trong lịch sử tư tưởng Trung
Quốc cổ đại. Sự nghiệp thống nhất và phát triển đất nước của Trung Quốc lúc bấy
giờ đòi hỏi tư tưởng pháp trị phải phát triển lên một trình độ mới trong đó tư tưởng
về “Thế”, “Thuật”, “Pháp” vừa được phát triển hoàn thiện vừa thống nhất với nhau
trong một học thuyết duy nhất. Trên quan điểm duy vật lịch sử, học thuyết pháp trị
đã phản ánh đúng quy luật vận động của lịch sử, mang lập trường của giai cấp tiến
bộ đương thời, các nhà pháp trị đã tìm thấy vai trò vô cùng quan trọng của pháp luật
trong việc duy trì, bảo vệ quyền lực thống trị, coi đó là vũ khí đặc biệt trong việc
quản lý xã hội, nhờ đó tạo được sự thống nhất bên trong để có điều kiện đối phó với
tình hình bên ngoài để hoàn thành sứ mệnh lịch sử: lần đầu tiên đưa sự nghiệp thống
nhất Trung Quốc đến thắng lợi.(nhà Tần là một đại biểu).Học thuyết pháp trị do
phản ánh đúng quy luật khách quan nên đã đáp ứng được yêu cầu của lịch sử.
Ngày nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
8. Http://Vi.Wikipedia.Org/Wiki/Phapgia
9. Vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid
10. Http://Www.Vientriethoc.Com.Vn/?
Cat=48&Id=344&Pcat=&Vientriet=Articles_Deltails
Trang 12