Nghiên cứu xác định nguyên nhân, đề xuất giải pháp khắc phục tình trạng trâu, bò chết hàng loạt trong vụ đông xuân tại huyện chi lăng, tỉnh lạng sơn - Pdf 13



1
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. Điều tra tình hình cơ bản ở địa phương
1.1.1. Điều tra tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Chi Lăng là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Nam của Tỉnh
Lạng Sơn, có diện tích tự nhiên khoảng 70.310 ha. Huyện có toạ độ địa lý
nằm trong khoảng từ 21
0
34’ - 21
0
48’ độ vĩ bắc và trong khoảng từ 106
0
25’ -
106
0
50’ độ kinh đông.
- Phía Đông giáp huyện Lộc Bình.
- Phía Nam giáp huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Phía Tây giáp huyện Hữu Lũng.
- Phía Bắc giáp huyện Văn Quan.
1.1.1.2. Khí hậu, thời tiết
Nhiệt độ trung bình từ 15
0
C - 25
0
C.
Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 7 từ 35

nghiệp chủ yếu của huyện, gồm nhiều đồi núi thấp, độ cao từ 200 – 350m (so với
mặt nước biển).
Đất đai Chi Lăng có nguồn gốc phát sinh trên các nền đá mẹ khác nhau
nên phân bố phức tạp và có tầng dầy thay đổi. Các loại đá chủ yếu bao gồm:
Đá sa thạch, đá vôi, đá phiến sét, cuội kết, dăm kết có hàm lượng Kali thấp.
Tổng diện tích đất tự nhiên của Chi Lăng là 70.310ha, chiếm 8,46%
tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, chủ yếu là đất feralít có nguồn gốc đá mẹ
là trầm tích, sa thạch xen lẫn, và nhóm đất dốc tụ phù sa sông suối với tổng
diện tích 55.948ha chia làm 4 nhóm chính: Đất feralít màu vàng nhạt trên núi
410ha, đất ferelít vàng núi cao có 30.166ha, đất feralít điển hình nhiệt đới (25-
300m) có 21.725ha, chiếm 38,81% đất lúa nước vùng đồi núi phân bổ chủ yếu
ven sông Thương và xen kẽ giữa các đồi núi có 3.683ha.
1.1.1.4. Giao thông vận tải
Huyện Chi Lăng hiện có 21 đơn vị hành chính cấp xã, huyện lỵ Chi
Lăng được đặt tại thị trấn Đồng Mỏ cách thành phố Lạng Sơn 36 km về phía
Tây Nam theo Quốc lộ 1A.
Huyện Chi Lăng có vị trí địa lý lợi thế hơn hẳn so với các huyện khác
trong tỉnh, nằm trong khoảng giữa thành phố Lạng Sơn với tỉnh Bắc Giang,
Bắc Ninh và Hà Nội, vừa có quốc lộ 1A; đường sắt liên vận quốc tế đi qua
tạo điều kiện cho huyện có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển sản xuất hàng
hoá mở rộng giao lưu trao đổi hàng hoá, dịch vụ khoa học công nghệ với
các tỉnh lân cận Hà nội, các tỉnh khác trong cả nước và với Trung quốc. Có
thể nói đây cũng là một thế mạnh của huyện, tạo cho sự phát triển các ngành
kinh tế khác và là điều kiện tốt để phát triển ngành chăn nuôi của địa phương. 3
1.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Tình hình dân cư, dân trí
- Huyện Chi Lăng gồm 21 xã, thị trấn với tổng số 74.052 người

quả của huyện khá lớn chủ yếu là: Na, vải, hồng, nhãn, ….
Theo số liệu thống kê của Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
huyện Chi Lăng về diện tích năng suất của các loại cây trồng năm 2010 như sau:
Bảng 1.1: Số lượng - Diện tích các loại cây trồng ở Chi Lăng
STT
Loại cây trồng
Diện tích
(ha)
Sản lượng
(tấn)
1
Cây nông nghiệp
- Cây lúa
- Cây ngô
- Sắn
- Rau, đậu

4.859,25
2.753,03
657,39
1.212,02

18.991,63
3.755,29
6.667,24
13.127,62
2
Cây công nghiệp hàng năm
- Thuốc lá
- Cây lạc

các hộ nông dân. 5
Tuy nhiên ngành chăn nuôi ở huyện chủ yếu theo lối tự cung tự cấp,
sản phẩm đưa ra thị trường còn ít. Trong những năm gần đây khoa học kỹ
thuật phát triển cùng với sự quan tâm của nhà nước các hộ gia đình đã mạnh
dạn đầu tư vốn, kỹ thuật, con giống mới có năng suất cao, trang thiết bị hiện
đại vào chăn nuôi nên sản phẩm của ngành chăn nuôi từng bước được nâng
cao và đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Ngoài việc phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm huyện Chi Lăng còn phát
triển các ngành nghề khác như: Nuôi ong lấy mật, thả cá, chăn nuôi một số động
vật quí hiếm như nhím, lợn rừng, phát triển đàn gia cầm với số lượng nhiều.
Bảng 1.2: Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm ở huyện Chi Lăng
2008 - 2011
Năm
Vật nuôi
2008
2009
2010
2011
Đàn trâu (con)
16.671
17.452
17.626
15.676
Đàn bò (con)
9.125
9.474
9.627

hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi.
d. Tình hình chăn nuôi gia cầm
Hiện nay công tác chăn nuôi gia cầm phát triển khá rộng rãi. Mặc dù
quy mô sản xuất còn nhỏ xong mang lại nguồn thu nhập thường xuyên cho
người dân. Tuy nhiên, người dân vẫn chăn nuôi theo hình thức tận dụng, sử
dụng con giống địa phương nên năng suất vẫn còn thấp. Bên cạnh đó công tác
tiêm phòng của các hộ chăn nuôi gia cầm còn kém, chưa áp dụng các biện
pháp kỹ thuật và chăn nuôi nên hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gia cầm
không cao.
1.1.4. Công tác thú y
Công tác thú y đóng vai trò quan trọng then chốt trong chăn nuôi, nó
quyết định đến thành công hay thất bại của người chăn nuôi, đặc biệt trong điều
kiện chăn nuôi quảng canh. Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng
đồng, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của người dân. Vì vậy công tác thú y
luôn được các cấp, ngành, địa phương cùng người chăn nuôi hết sức quan tâm,
chú trọng như:
+ Tuyên truyền lợi ích vệ sinh phòng dịch bệnh cho người và vật nuôi.
+ Tập trung chỉ đạo tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn.
+ Thường xuyên đào tạo, tập huấn đội ngũ cán bộ thú y cơ sở.
+ Theo dõi tình hình, diễn biến của dịch bệnh để kịp thời có hướng
chỉ đạo. 7
1.1.5. Đánh giá chung
Qua điều tra thực tế ở cơ sở chúng tôi rút ra một số thuận lợi và khó
khăn như sau:
1.1.5.1. Thuận lợi
Huyện Chi Lăng là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh. Địa bàn này
có đường quốc lộ 1A đi qua nên thuận lợi cho việc đi lại giao lưu buôn bán

- Công tác thú y: Vận động bà con vệ sinh tiêm phòng dịch bệnh cho
đàn trâu bò, kết hợp với cán bộ thú y vùng tham gia tiêm phòng và tìm hiểu
nguyên nhân gây bệnh trên trâu bò tại huyện Chi Lăng.
1.2.1.2. Công tác nghiên cứu khoa học
Thực hiện đề tài: "Nghiên cứu xác định nguyên nhân, đề xuất giải
pháp khắc phục tình trạng trâu, bò chết hàng loạt trong vụ đông xuân tại
huyện Chi Lăng, Tỉnh Lạng Sơn”
1.2.2. Biện pháp thực hiện
Đề thực hiện tốt nội dung thực tập nêu ở trên tôi đã đề ra các biện pháp
thực tập sau:
- Xây dựng đề cương chi tiết, thực hiện theo hướng dẫn của thầy giáo
hướng dẫn, các cán bộ phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trạm thú
y huyện và các cán bộ thú y vùng.
- Tham khảo tài liệu chuyên ngành, tài liệu về kết quả chăn nuôi - thú y,
cộng tác trồng trọt và các tài liệu khác có liên quan nhằm nâng cao trình độ
chuyên môn và nắm bắt được thực trạng chăn nuôi của các hộ gia đình.
- Tìm hiểu diễn biến tình trạng dịch bệnh trên đàn trâu bò trong huyện,
để từ đó hướng dẫn cho người chăn nuôi về kỹ thuật chăn nuôi, tuyên truyền
cho họ về thành tựu khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi.
- Nhiệt tình với công việc, khiêm tốn học hỏi trau dồi kiến thức, đồng
thời vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào công tác chăn nuôi và
phòng trừ dịch bệnh trên đàn gia súc. 9
- Nắm vững chủ trương, kế hoạch, lịch tiêm phòng hàng năm của vùng
và kết hợp với UBND huyện cùng Phòng Nông nghiệp và phát triển nông
thôn, Trạm thú y cơ sở để tham gia kế hoạch tiêm phòng.
- Lắng nghe và tham khảo những ý kiến đóng góp của cán bộ thú y lâu
năm. Điều tra theo dõi các chỉ tiêu nằm trong nội dung đề tài nghiên cứu.

+ Newcastl, gumboro, chủng đậu ở gà.
1.3.3. Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh
Ngoài công tác tiêm phòng để tăng sức đề kháng cho vật nuôi và công
tác chăn nuôi tốt đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật thì trong chăn nuôi thú y
việc phát hiện và điều trị những gia súc, gia cầm ốm kịp thời có ý nghĩa rất
quan trọng vì nó làm giảm thiệt hại do bệnh tật gây ra.
Bằng những kiến thức đã học trong trường và những kinh nghiệm học
hỏi trong thực tế tôi đã quan sát khám và điều trị được một số trường hợp gia
súc gia cầm bị bệnh.
Trong quá trình thực tập tôi đã thu được một số kết quả nhất định trong
công tác chẩn đoán và điều trị như sau:
* Bệnh ghẻ chó
Triệu chứng
- Trên mặt da có những đám mụn đỏ, sau mọng nước, rồi vỡ loét da,
đóng vảy nâu rồi lại lan ra đám da khác. Đám da ghẻ thường thấy ở khắp nơi
trên mặt da: quanh mắt, tai, mõm, lông, đùi
- Mụn nước ăn sâu vào lớp bao lông, gây nhiễm trùng có mủ, ấn tay vào
dịch mủ chảy ra.
- Nơi da ghẻ lông chó bị rụng trụi từng đám, lở loét đỏ, rỉ nước vàng,
làm cho chó ngứa ngáy và gãi liên tục.
Điều trị
Thuốc điều trị ghẻ: dùng 1 trong 2 hoá dược sau 11
- Taktic (Amitaz) bôi vào đám da ghẻ, trước khi bôi cần tắm cho chó để
khô nước, có rọ mõm chó khi bôi thuốc. Mỗi lần bôi không quá 1/3 mặt da
của chó để tránh ngộ độc, dùng thuốc liên tục 6-7 ngày.
- Hammectin: (Ivermectin, Ivomec) dùng liều 0,2 mg/kg thể trọng, tiêm
cho chó 5 lần, mỗi lần cách nhau 1-2 ngày.

+ Gentamycin: Tiêm bắp liều 8-10 mg/kg thể trọng, chia 2lần trong ngày.
+ Stretomycin: Tiêm bắp liều 20-25mg/kg thể trọng, chia 2 lần trong ngày.
Hiện nay trên thị trường thuốc thú y có một số biệt dược sử dụng điều trị
viêm phế quản ở chó, mèo:
+ Cefa.Doc: Thành phần gồm: Cefalexine, Liodocaine HCl và dung
môi. Tiêm bắp liều 1ml/5kg thể trọng.
+ Cefadox.T: Thành phần gồm cefalextine, Doxycylin, Sulfadiazine,
Trimethoprime và B. Complex. Thuốc bột hoà nước cho uống, liều 1g/5kg
thể trọng.
+ Kanacolin: Thành phần gồm Kanamycin sulfate và Ampiciline
sodium. Tiêm bắp liều 1mg/5kg thể trọng.
Thuốc chữa triệu chứng:
+ Ephedrin: Thuốc giảm ho, chống khó thở. Tiêm bắp 1-2 ống
X1mg/ngày.
+ Dimedron: Giảm ho, an thần. Tiêm bắp 1-2 ống X1ml/ngày.
Thuốc trợ sức:
+ Cafein 5%: tiêm bắp 3-6ml/con
+ Vitamin B1 25%, tiêm bắp 3-5ml/con.
+ Vitamin C 5% tiêm bắp 3-5ml/con
+ Glucoza 30% tiêm bắp 5ml/con 13
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
STT
Nội dung công việc
Số lượng
(con)
Kết quả
Tỷ lệ

15
8

75
80
Qua bảng trên cho thấy quá trình điều trị bệnh cho gia súc, tuy đã đạt
được những kết quả tốt xong hiệu quả điều trị vẫn chưa cao do những nguyên
nhân sau:
- Tay nghề còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm trong điều trị bệnh cho
vật nuôi.
- Một số con mắc bệnh quá cấp tính làm cho hiệu quả điều trị chưa cao.
1.4. Tồn tại và đề nghị
1.4.1. Tồn tại
Qua khảo sát thực tế tại cơ sở, tôi nhận thấy do trình độ dân trí thấp đã
gây khó khăn cho việc phổ biến tiến độ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Người dân chưa phát huy hết nội lực của địa phương để phát triển kinh tế xã
hội, đặc biệt là thế mạnh của ngành chăn nuôi.
Mặt khác thiếu cán bộ kỹ thuật lành nghề để khuyến cáo và chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi cho nhân dân, làm cho kinh tế địa phương
chậm phát triển, thu nhập chủ yếu dựa vào cây lương thực và ngành trồng trọt
là chính. Tập quán chăn nuôi còn lạc hậu, chưa có sự đầu tư thích đáng cho
ngành chăn nuôi nên dẫn đến hiệu quả kinh tế thu được từ ngành này còn
thấp. Một số loại dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra gây thiệt hại cho các hộ 14
chăn nuôi. Công tác tiêm phòng và phòng chống dịch cho gia súc, gia cầm đạt
chưa cao do đó khi phát hiện đã gây ra thiệt hại lớn, làm cho người chăn nuôi
thất thu. Công tác con giống của địa phương chưa được chú ý, khâu quản lý
con giống không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, làm cho vật nuôi xảy ra hiện

khắc phục tình trạng trâu, bò chết hàng loạt trong vụ đông xuân tại huyện
Chi Lăng, Tỉnh Lạng Sơn"
2.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là nước có nền nông nghiệp từ lâu đời. Trong đó ngành chăn
nuôi chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt là ngành chăn nuôi trâu bò đóng
một vị trí quan trọng. Trâu bò cung cấp thực phẩm có giá trị cao đối với con
người là thịt và sữa. Ngoài ra còn có vai trò to lớn trong trồng trọt đó là cung
cấp sức kéo, phân bón. Ngoài ra nó còn giải quyết chất đốt cho người dân, cung
cấp một số nguyên liệu cho ngành công nghệ chế biến và thủ công mỹ nghệ.
Đối với nông thôn và miền núi trâu bò còn được coi như một tài sản cố
định, là phương tiện tích lũy tài chính hay một ngân hàng sống để đảm bảo an
ninh kinh tế cho hộ gia đình.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, một trong những hạn chế lớn nhất cản trở phát
triển chăn nuôi trâu bò ở miền núi đó là tập quán và phương thức chăn nuôi.
Người dân ở đây chủ yếu chăn thả tự do đàn gia súc của mình. Đặc biệt là tại
các xã, bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa, chỉ có một số ít hộ dân ở các nơi
thấp, ven đường giao thông nuôi nhốt trâu bò tại chuồng.
Với đặc điểm khí hậu thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, ở miền núi
Bắc bộ, vào mùa đông, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, trời lạnh giá, thức ăn
khan hiếm đã làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe trâu bò, làm cho trâu bò ở các
tỉnh miền núi bị chết rét khá nhiều, gây tổn thất rất lớn cho người nông dân,
đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc nghèo sống ở vùng cao, cuộc sống chủ
yếu phụ thuộc vào kết quả chăn nuôi. Đây cũng là một trong những nguyên
nhân chủ yếu làm giảm số lượng và chất lượng đàn trâu bò của vùng qua các
đợt rét vừa qua. 16
Một thực tế cũng phải thừa nhận là yếu tố về điều kiện sinh thái khí hậu
khắc nghiệt của từng vùng cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trâu bò

tạp, dạ dày trâu bò có 4 túi (dạ cỏ, tổ ong, lá sách, múi khế) để phù hợp với sự
tiêu hóa thức ăn có nhiều chất thô xơ như cỏ, rơm, xác thực vật. Tiêu hóa ở dạ
cỏ chiếm vị trí rất quan trọng trong quá trình tiêu hóa ở trâu bò vì hầu như
thành phần chủ yếu của thức ăn trâu bò (rơm, cỏ) được tiêu hóa ở đây. Dạ cỏ
vừa có dung tích lớn nhất (200 - 250 lít) lại có hệ thống vi sinh vật cộng sinh
rất phát triển, chúng gồm nhóm động vật nguyên sinh (Protozoa), vi khuẩn
(Bacteria), nấm (Philips, 2001). Protozoa có số lượng khoảng 1 triệu con/1g
thức ăn dạ cỏ, có khả năng sinh sản rất nhanh (4 - 5 thế hệ/ngày), chúng có
khả năng công phá vỡ màng xenlulo (màng xơ khó tiêu hóa nhất của tế bào
thực vật). Từ đó, giải phóng ra các thành phần dinh dưỡng bên trong như tinh
bột, đường, các protit… Chúng sử dụng một phần cho sự phát triển bản thân
chúng, mặt khác giúp vi khuẩn phát triển. Vi khuẩn tiếp tục phân giải xenlulo,
hemixenlulo thành các sản phẩm đường mạch ngắn như disaccarit,
polysaccarit và sau đó tiếp tục biến thành các axít béo bay hơi, axít lactic.
Nhóm vi khuẩn lactic, streptococcus cũng góp phần chuyển hóa chất bột
đường. Quá trình phân giải chất xơ của dạ cỏ sẽ tạo thành sản phẩm là các
axít béo bay hơi (Axít acetic/60 - 70%, Axít propionic/15 - 20%, axít butyric
/10 - 15 %), các thể khí như CO
2
, CH
4
, H
2
, O
2
, NH
3
…Các axít béo bay hơi
chính là nguồn cung năng lượng cho các hoạt động của cơ thể trâu bò và là
chất béo của sữa bò.

giới hạn nhiệt độ tối ưu từ -5°C đến 21
0
C. Tuy nhiên nó cũng có thể tồn tại
trong điều kiện - 37
0
C một thời gian ngắn. Khi nhiệt độ môi trường xuống -
18°C thì trâu bò sẽ bị stress nặng ngay cả trong điều kiện đầy đủ thức ăn,
không dịch bệnh. Nếu nhiệt độ -12°C sẽ ảnh hưởng đến sản lượng sữa. Khi
nhiệt độ môi trường xuống thấp, trâu bò sẽ tăng cường trao đổi chất để duy trì
nhiệt độ cơ thể. Khi đó khả năng tiêu thụ thức ăn của trâu bò sẽ tăng lên, nhu
động dạ cỏ tăng dẫn đến thức ăn bị chuyển nhanh khỏi dạ cỏ và các chất chứa
trong dạ cỏ bị mất nước nhanh chóng. Để duy trì thân nhiệt, trâu bò phải huy
động nguồn năng lượng từ các nguồn trong cơ thể, bắt đầu từ các nguồn
gluxit, nếu thiếu sẽ phải lấy từ các nguồn lipid rồi đến protein để sản sinh
năng lượng. Khi đó các cơ quan tổ chức sẽ bị tổn thương, hệ thống men
trao đổi chất bị rối loạn, trâu bò có biểu hiện: niêm mạc nhợt nhạt, run rẩy,
phù thũng, gầy yếu và chết. Lúc này các loại thức ăn cung cấp năng lượng 19
hết sức quan trọng đối với trâu bò để chúng duy trì quá trình trao đổi chất.
Các loại thức ăn cần được chế biến để nâng cao giá trị dinh dưỡng và tính
ngon miệng, làm tăng khả năng thu nhận đồng thời giúp chúng chống chịu với
thời tiết khắc nghiệt.
2.2.1.2.Một số nguyên nhân làm cho trâu bò chết rét
* Do trời quá rét, nhiệt độ xuống thấp:
Nguyên nhân chính làm cho trâu bò chết nhiều là do thời tiết hiện nay
ngày càng thất thường, giá rét, sương muối, mưa phùn kéo dài… không còn
theo quy luật, khó lường trước (Chu Thị Thơm và cs, 2006 [12]).
Khi nhiệt độ xuống thấp (dưới khu nhiệt điều hoà nhiệt độ giới hạn, tốc

đuôi, tai và đoạn dưới của chân dễ bị nhất. Bệnh cước chân của trâu bò ở
miền núi hoặc ở những miền trâu phải cày bừa ruộng bùn nước giá buốt, là
do bị lạnh cục bộ kéo dài. Bệnh thấp khớp của trâu bò cũng do tác dụng kéo
dài của lạnh
* Do thiếu thức ăn
Theo Nguyễn Quang Tính (2004) [13] thì sức đề kháng của cơ thể phụ
thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng. Ảnh hưởng của điều kiện dinh dưỡng
đến sức đề kháng của gia súc và của người được kiểm tra và xác minh bằng
thực nghiệm.
Số gia súc chết rét đều tập trung ở các huyện vùng cao. Có một thói
quen của người dân chưa thể từ bỏ, đó là để trâu bò "đi chơi" tự do ngoài
rừng, tự kiếm cỏ mà ăn. Khi mùa rét về, hết cỏ lẫn lá cây nhưng người dân
vẫn không bổ sung thêm thức ăn tinh cho trâu bò dẫn đến tình trạng trâu bò
gầy yếu, thiếu dinh dưỡng không đủ sức đề kháng chống chọi với thời tiết nên
bị chết hàng loạt.
Theo Nguyễn Văn Quang và cs, 2010 [11]; Nguyễn Hưng Quang, Thào
Mí Chá (2010) [10], trong thực tế sản xuất, không phải tất cả các nông hộ đều
giải quyết tốt việc cung cấp thức ăn cho đàn gia súc của mình. Kết quả điều
tra tại các tỉnh miền núi phía Bắc cho thấy có tới gần 70% số hộ thiếu thức ăn 21
cung cấp cho trâu bò trong cả 12 tháng, trong đó đặc biệt là những tháng mùa
khô mức độ thiếu hụt nguồn thức ăn lên đến 60 - 80%; còn trong mùa mưa
mức độ thiếu hụt chỉ khoảng 20 - 40%. Đáng chú ý là 100% số hộ chăn nuôi
được điều tra cho thấy trâu bò thiếu thức ăn ít nhất 6 tháng/năm đặc biệt vào
mùa khô lạnh. Chính vì lý do này mà tình trạng trâu bò chết rét càng diễn ra
nghiêm trọng trong những năm có mùa đông lạnh giá.
Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Quang và cs, (2010) [11] thì lượng thức
xanh được các hộ bổ sung vào khẩu phần ăn cho gia súc nhai lại đạt mức thấp,

trâu bò (Đỗ Văn Chung, 2011 [3]).
Triệu chứng:
Bốn chân của trâu bò sưng to, căng lên, ngoài da đỏ, sau thâm lại, ấn
ngón tay vào có vết lõm và chúng có phản ứng đau co chân lên. Bệnh kéo dài
từ 6-12 ngày. Nếu không điều trị kịp thời chỗ chân bị sưng nứt ra, chảy dịch
màu vàng, lộ ra một lớp tổ chức màu đỏ thẫm. Tập khuẩn có thể xâm nhập
vào gây viêm khớp móng, biến chứng nặng là móng chân bị viêm loét, chân
bị liệt. Nếu phát hiện chăm sóc, điều trị kịp thời, bệnh sẽ khỏi.
Bệnh cước chân ở trâu, bò xảy ra trên 3 cấp độ:
Cấp 1: Da dày cộm, vùng sưng có hiện tượng xung huyết, nứt nẻ.
Cấp 2: Lớp biểu bì bị bong ra, chảy dịch màu vàng, lộ ra một lớp tổ
chức dưới da màu đỏ thẫm, nếu vết thương sâu làm cho trâu, bò bị què phải
nằm tại chỗ.
Cấp 3: Da và tổ chức dưới da bị hoại tử. Nếu nặng, các tổ chức hoại tử
ăn sâu xuống thành hoại thư, làm lộ cả cơ và xương.
Bệnh cần được điều trị kịp thời, nếu không có thể làm tắc mạch máu
gây xung huyết ở phổi và bầm huyết ở não.
Phòng bệnh
- Thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y như chuồng trại luôn khô ráo,
sạch sẽ. Về mùa đông, nên dùng chất độn chuồng, không để chuồng ẩm ướt,
nhất là những ngày thời tiết quá lạnh. 23
- Những ngày thời tiết giá lạnh (dưới 15ºC) cần cho trâu bò nghỉ cày
kéo, cho ăn rơm, cỏ dự trữ, bổ sung thêm thức ăn tinh, với khoảng 2 - 3 kg
thức ăn tinh - cám gạo, ngô, thóc/ngày. Thực hiện chế độ chăn thả và làm việc
hợp lý (những ngày quá lạnh, không chăn thả trâu bò ngoài bãi mà nên cắt cỏ
cho ăn tại chuồng, đốt lửa cho trâu bò sưởi, thực hiện chế độ đi muộn về sớm,
mặc áo cho trâu bò, sẽ hạn chế bệnh cước chân ở trâu bò).

4 - 5 ngày. Dùng thuốc trợ sức như vitamin B1, C, long não nước tiêm phối
hợp. Nếu được điều trị kịp thời đúng quy trình, trâu bò sẽ khỏi sau 5 - 7 ngày.
* Bệnh Lở mồm long móng
Nguyên nhân
Bệnh do siêu vi trùng gây ra, lây lan mạnh do sự tiếp xúc trực tiếp giữa
trâu bò, dê bệnh với trâu bò, dê mạnh. Cũng có thể lây gián tiếp cho người,
súc vật, hoặc thịt thú bệnh được mang từ vùng này sang vùng khác .
Triệu chứng
Trâu, bò, dê bệnh sốt cao 40 - 42
o
C kéo dài trong 2 - 3 ngày, ăn ít, nặng
nề khi nằm xuống đứng lên, sau 3 - 4 ngày những mụn nước bắt đầu mọc ở
niêm mạc miệng, chân và chỗ da mỏng, gia súc cái thường bị mọc mụn ở núm
vú, đầu vú.
Mụn nước bằng hạt đậu xanh, hạt bắp có khi lớn bằng đầu ngón tay.
Mụn nước trong vàng, dần dần bị vẩn đục, sau vài ngày thì vỡ ra làm
cho niêm mạc bong ra từng mảng thượng bì để lộ những vết loét đỏ. Nếu
không bị nhiễm tạp khuẩn những vết loét này trong 2 - 3 ngày sẽ hồi phục và
thành sẹo. Dịch từ các mụn loét hòa với nước dãi chảy liên tục ra hai bên mép
trắng như bọt xà phòng, đôi khi có dính những tia máu. Những vết loét này
thành sẹo và hồi phục rất nhanh. Nếu điều kiện vệ sinh và chăm sóc kém,
những mụn loét ở quanh móng chân có thể bị nhiễm trùng sinh mủ tạo thành 25
những ổ loét sâu trong móng chân và làm sút móng. Bê nghé thể hiện viêm
ruột cấp tính: ỉa chảy nặng, xuất huyết đường tiêu hoá, hoặc viêm phế quản và
viêm phổi cấp làm cho bê nghé chết sau 2 - 3 ngày.
Phòng bệnh
- Tiêm vắcxin phòng bệnh lở mồm long móng đúng theo type gây bệnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status