NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
TÌNH TRẠNG TRÂU, BÒ CHẾT HÀNG LOẠT TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN TẠI MỘT
SỐ TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
TỔNG QUAN
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI Ở TRONG VÀ NGOÀI
NƯỚC
10.1. Ngoài nước (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trên thế giới,
liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh
giá tổng quan)
Trâu, bò là loài động vật phân bố khắp trên thế giới, chúng có mặt ở các vùng tự nhiên và
sinh thái khác nhau trên trái đất, chúng có khả năng tự kiếm thức ăn cao. Tuy nhiên, do tầm vóc,
khối lượng lớn nên trâu bò đòi hỏi lượng thức ăn lớn. Mỗi ngày, một con trâu bò có thể sử dụng
tới 30 - 50 kg thức ăn (Orskov, 1994). Vì vậy, để phát triển chăn nuôi trâu bò cần có diện tích bãi
chăn thả và trồng cây thức ăn cho chúng. Khác với những loài vật ăn thịt và động vật ăn tạp, dạ
dày trâu bò có 4 túi (dạ cỏ, tổ ong, lá sách, múi khế) để phù hợp với sự tiêu hóa thức ăn có nhiều
chất thô xơ như cỏ, rơm, xác thực vật. Tiêu hóa ở dạ cỏ chiếm vị trí rất quan trọng trong quá trình
tiêu hóa ở trâu bò vì hầu như thành phần chủ yếu của thức ăn trâu bò (rơm, cỏ) được tiêu hóa ở
đây. Dạ cỏ vừa có dung tích lớn nhất (200 - 250 lít) lại có hệ thống vi sinh vật cộng sinh rất phát
triển, chúng gồm nhóm động vật nguyên sinh (Protozoa), vi khuẩn (Bacteria), nấm (Philips,
2001). Protozoa có số lượng khoảng 1 triệu con/1g thức ăn dạ cỏ, có khả năng sinh sản rất
nhanh (4 - 5 thế hệ/ngày), chúng có khả năng công phá vỡ màng xenlulo (màng xơ khó tiêu hóa
nhất của tế bào thực vật). Từ đó, giải phóng ra các thành phần dinh dưỡng bên trong như tinh bột,
đường, các protit… Chúng sử dụng một phần cho sự phát triển bản thân chúng, mặt khác giúp vi
khuẩn phát triển. Vi khuẩn tiếp tục phân giải xenlulo, hemixenlulo thành các sản phẩm đường
mạch ngắn như disaccarit, polysaccarit và sau đó tiếp tục biến thành các axít béo bay hơi, axít
lactic. Nhóm vi khuẩn lactic, streptococcus cũng góp phần chuyển hóa chất bột đường. Quá trình
phân giải chất xơ của dạ cỏ sẽ tạo thành sản phẩm là các axít béo bay hơi (Axít acetic/60 - 70%,
Axít propionic/15 - 20 %, axít butyric /10-15 %), các thể khí như CO2, CH4, H2, O2, NH3…Các
axít béo bay hơi chính là nguồn cung năng lượng cho các hoạt động của cơ thể trâu bò và là chất
béo của sữa bò.
Sự có mặt của hệ thống vi sinh vật còn giúp trâu bò sử dụng được nguồn Nitơ phi protein
làm tăng khả năng thu nhận đồng thời giúp chúng chống chịu với thời tiết khắc nghiệt (Skerman &
Riveros, 1990).
Các tác giả Bailey, 2005; Franzluebbers & Stuedemann, 2006; Rinehart , 2006 đã tiến hành các
nghiên cứu trong các hệ thống chăn nuôi trâu, bò với quy mô lớn và nhỏ để tìm ra các biện pháp
khắc phục, các kỹ thuật phù hợp nhằm cải thiện năng suất và tình trạng dịch bệnh cũng như tình
trạng trâu, bò chết trong điều kiện môi trường nhiệt độ cao, thấp trong mùa đông lạnh và mùa hè
nóng. Kết quả chỉ ra rằng cần có một chiến lược tổng thể để giải quyết vấn đề bao gồm: chăn nuôi
có kiểm soát, có thức ăn đầy đủ, cải thiện về số lượng và chất lượng thức ăn, cải thiện việc sử
dụng phụ phẩm cây trồng, cho ăn bổ sung với nghé và bê vào những thời điểm quan trọng của
năm và cải thiệt điều kiện chuồng trại tốt hơn sẽ khắc phục được yếu tố stress do nhiệt độ.
Young (1981) cho rằng trong điều kiện lạnh có thể gây ra những thay đổi nội tiết và thích ứng của
trâu bò dẫn đến giảm hiệu quả tiêu hóa. Mader (2003) đã có nghiên cứu để tìm ra các biện pháp
làm giảm thiểu khó khăn trong chăn nuôi bò ở mùa giá lạnh. Để khắc phục những bất lợi về thời
tiết thì nhân tố cốt lõi là đảm bảo điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc tốt.
Khi thời tiết lạnh giá kết hợp với thiếu thức ăn sẽ làm giảm khả năng chống chịu của trâu bò. Các
nhà khoa học đã đưa ra một số chỉ tiêu để đánh giá mức độ ảnh hưởng của thời tiết đến khả năng
chống chịu của trâu bò, bao gồm nồng độ hormone glucocorticoid. Ngoài ra còn một số các chỉ
tiêu khác sẽ bị ảnh hưởng như tần số hô hấp, nhịp tim, khối lượng và tình trạng cơ thể ...(Collins
and Weiner, 1968); Christison and Johnson, 1972; Ingram và cs., 1980; Gould và Siegel, 1985;
McGlone và cs., 1987, Morrow-Tesh và cs., 1994); Zulkifli và cs., 1994; Hicks và cs., 1998;
Ishizaki and Kariya, 1999; Wolfensen và cs., 2000).
Các nghiên cứu khác cũng cho thấy, trong điều kiện lạnh giá, khả năng tiêu hóa và sử dụng thức
ăn của trâu bò cũng giảm rõ rệt, cụ thể trong điều kiện lạnh giá, trâu bò có thể tăng mức thu nhận
thức ăn lên từ 20 - 40% (Graham và cs., 1982) để bù đắp lượng nhiệt sản sinh ra cho duy trì thân
nhiệt. Do đó việc cung cấp đầy đủ thức ăn và phòng chống mất nhiệt bằng phương pháp cải tiến
điều kiện nuôi nhốt đóng vai trò quan trọng trong phòng chống rét cho trâu bò, đặc biệt là bê
nghé và trâu bò già.
Kinh nghiệm đúc kết qua các nghiên cứu trong các hệ thống chăn nuôi quy mô nhỏ ở Indonesia
11. Ørskov E R 1994 Recent advances in understanding of microbial transformation in ruminants.
Livestock Production Science. Volume 39: 53-60.
12. Weiss W 1994 Estimation of digestibility of forages by laboratory methods. In Fahey Jr G F
(ed.) Forage Quality, Evaluation, and Utilization. Madison. Wisconsin. USA. pp 644-681.
13. Singh, A., Jaiswal, R.S., Chauhan, S.S., Thakur, T.C., Singh, V., Joshi, Y.P.result1
Impact of feeding urea ammoniated paddy straw on utilization of nutrients, blood metabolites and
cost effectiveness on crossbred lactating cows Indian Journal of Animal Sciences 77 (7), pp. 595598
10.2. Trong nước (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở Việt Nam,
liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh
giá tổng quan
* Nghiên cứu về nguyên nhân gây chết trâu bò trong vụ đông
Các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam đã chỉ ra rằng: Trâu bò là loài vật nuôi có khả năng
thích nghi cao, chịu đựng kham khổ tốt và ít bệnh tật, do vậy rất dễ nuôi và ít rủi ro (Tô Du, 2004).
Tuy nhiên, trong những điều kiện khắc nghiệt về thời tiết (nhiệt độ dưới 100C trong mùa đông), thể
trạng gia súc không tốt (gầy gò, lao tác quá sức), nguồn thức ăn hạn chế, ký sinh trùng và dịch
bệnh tiềm tàng thì khả năng chịu đựng của trâu bò rất kém trong mùa đông (Trần Văn Tường,
Nguyễn Hưng Quang, 2004; Trần Huê Viên, 2005; Nguyễn Văn Bình và Trần Văn Tường, 2006).
Một nguyên nhân gây chết là do dịch bệnh xảy ra vào đúng mùa đông lạnh nhiều khi trâu bò vừa
bị rét vừa không đủ nguồn thức ăn dẫn đến tình trạng trâu bò chết (Đặng Xuân Bình và cs, 2010).
Theo thông báo của Cục chăn nuôi Quốc gia, trong 2 năm 2008 và 2010 là những năm trâu bò
chết nhiều do rét. Tại thời điểm 17/2/2008, tổng số các loại trâu bò đã bị chết rét, chết đói trong
đợt rét đậm tại các tỉnh phía Bắc là 51.962 con, trong đó chủ yếu là bê, nghé non (chiếm 75%);
bò, trâu già (25%). Tính tới 22/01/2011 số trâu bò chết rét (Từ Thừa Thiên Huế trở ra) lên tới
24.249 con. Nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết rét đậm và rét hại (nhiệt độ dưới 50C) và các
tỉnh này trâu bò thường bị bùng phát dịch lở mồm long móng (FMD) kết hợp với thiếu nguồn thức
ăn.
Theo Nguyễn Văn Quang và cs, 2010; Nguyễn Hưng Quang, Thào Mí Chá, 2010, trong thực tế
một tỷ lệ đường cần thiết cho trâu, bò ăn để tăng sức khoẻ, khả năng chống chịu rét cho trâu, bò
trong những ngày giá rét. Trong thức ăn của trâu bò, cho ăn kèm những chất (có tính dược ấm
nóng) để nâng cao sức chịu rét cho trâu, bò như gừng sống (Sinh khương). iv, Có thể dùng biện
pháp hơ (phương pháp cứu của Đông y), mồi lửa vào một số huyệt để tăng cường sức đề kháng,
chịu lạnh cho trâu, bò.
Theo khuyến cáo của Cục Chăn nuôi Quốc gia, 2010 thì cần có một số biện pháp phòng chống
đói, rét cho trâu, bò trong mùa đông như sau: Trước khi vào mùa đông: Chuẩn bị chuồng trại đảm
bảo diện tích đủ nuôi nhốt trâu, bò; củng cố lại nền chuồng, mái che, tường bao quanh, đảm bảo
nền chuồng luôn khô ráo trong mùa đông; che chắn chuồng nuôi đảm bảo đủ ấm, không bị gió
lùa, mưa hắt vào làm ẩm, ướt chuồng. Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ, tiêu độc khử trùng chuồng
trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi. Chuẩn bị nguồn cây thức ăn cho trâu, bò đảm bảo diện
tích cỏ hoặc cây thức ăn thô xanh khoảng 300 m2/con. Tận dụng triệt để nguồn phế phụ phẩm
nông nghiệp để chế biến, dự trữ thức ăn cho đàn trâu, bò, đặc biệt là rơm, thân, lá cây ngô trong
vụ thu đông (đảm bảo mỗi hộ chăn nuôi tối thiểu có 01 cây rơm). Khi mùa mưa, lượng thức ăn thô
xanh nhiều, phải có kế hoạch ủ chua thức ăn thô xanh, dự trữ cho trâu, bò (bình quân 01 tấn thức
ăn ủ chua trở lên/01 con trâu, bò) hoặc trồng cây ngô dày với diện tích khoảng 500m2/con.
Tăng cường chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, đảm bảo khẩu phần ăn đủ dinh dưỡng và sức khoẻ
cho đàn trâu, bò để chống rét, chống bệnh dịch. Những con trâu, bò già, yếu cần có kế hoạch
nuôi vỗ béo để bán giết thịt, hoặc phải có chế độ chăm sóc đặc biệt để giữ gìn sức khoẻ chống lại
đói, rét trong vụ đông - xuân. Đối với bê, nghé cần có chế độ chăm sóc hợp lý để tăng cường sức
đề kháng với bệnh, dịch và giá rét trong vụ đông. Thực hiện tiêm phòng các loại vắc xin phòng
các bệnh truyền nhiễm cho 100% số trâu, bò, bê, nghé trong diện phải tiêm phòng, tiêm định kỳ 2
lần/năm (vụ xuân - hè, vụ thu - đông) hoặc tiêm phòng bổ sung cho trâu, bò chưa được tiêm
phòng chính vụ, theo quy định của thú y. Tổ chức tẩy ký sinh trùng đường máu, ký sinh trùng
đường ruột cho trâu, bò, bê, nghé (tiên mao trùng, giun đũa cho bê, nghé,...). Định kỳ thực hiện vệ
sinh, tiêu độc, khử trùng, xử lý chất thải chăn nuôi để hạn chế dịch bệnh lây lan. Tăng cường kiểm
tra, giám sát chặt chẽ đàn trâu, bò để phát hiện và có biện pháp xử lý kịp thời khi bệnh, dịch xảy
ra.
Trong mùa đông, khi nhiệt độ dưới 120C người chăn nuôi cần thực hiện lùa trâu, bò về
chuồng, lán tạm, tuyệt đối không thả rông tự do ngoài đồng, ngoài bãi chăn thả, trên rừng qua
dinh dưỡng, tỷ lệ tiêu hoá, khả năng tổng hợp bằng hệ vi sinh vật dạ cỏ ở rơm ủ urea cao hơn
rơm không ủ 2 - 4%; ăn rơm ủ làm tăng năng suất sữa và không ảnh hưởng đến chất lượng
sữa.
Về chế biến và sử dụng rơm làm thức ăn cho gia súc nhai lại, Nguyễn Xuân Trạch (2005) đã
nghiêu cứu rất tỉ mỉ các giải pháp chế biến và hiệu quả của chúng được đánh giá bằng phương
pháp in sacco cũng như thí nghiệm sinh trưởng trên bò. Nguyễn Thị Tịnh và cs (2000) cũng
nghiên cứu đánh giá hiệu quả của một số công thức chế biến rơm cho bò và đánh giá bằng
phương pháp in sacco. Tác giả đã tiến hành đánh giá 4 công thức ủ gồm đối chứng (không ủ);
rơm ủ 4% urea ở 14 và 21 ngày; rơm ủ 4% Ca(OH)2 ở 14 và 21 ngày; rơm ủ 2% urea + 2%
Ca(OH)2 ở 14 và 21 ngày. Kết quả cho thấy nhìn chung các phương pháp xử lý đều làm tăng
chất lượng của rơm, trong đó xử lý rơm bằng 4% urea cho kết quả tốt nhất.
Ngoài nghiên cứu chế biến, xử lý rơm lúa, còn có một số tác giả khác nghiên cứu chế biến sử
dụng các loại phế phụ phẩm nông nghiệp khác làm thức ăn cho gia súc nhai lại. Lã Văn Kính và
cs (1996) nghiên cứu các biện pháp chế biến, bảo quản quả điều, bã điều làm thức ăn cho bò
sữa. Vũ Chí Cương (2007) sử dụng phụ phẩm công nông nghiêp (lá và thân cây sắn, bã dứa...)
để nuôi vỗ béo bò thịt nhằm nâng cao năng suất, chất lượng thịt. Các nghiên cứu trên đã được áp
dụng tương đối hiệu quả và rộng rãi vào thực tiễn sản xuất. Các phương pháp này sẽ là cơ sở cho
các nghiên cứu sau này về bảo quản và chế biến thức ăn cho gia súc nhai lại trong những điểu
kiện và hoàn cảnh cụ thể.
* Các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan
1. Bùi Văn Chính, Nguyễn Hữu Tào (1995), Nghiên cứu chế biến và sử dụng phụ phẩm nông
nghiệp và nguồn thức ăn sẵn có ở nông thôn, Tuyển tập những công trình nghiên cứu KHKT chăn
nuôi (1969-1995), Viện chăn nuôi
2. Lê Xuân Cương (1993) Chế biến cỏ thành thịt sữa, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Thành phố Hồ
Chí Minh.
3. Vũ Chí Cương (2007), Nuôi dưỡng bò sữa ở các trang trại gia đình miền Bắc Việt Nam. NXB
Lao động - Xã hội
cứu.
1.2. Điều tra trực tiếp thực trạng chăn nuôi trâu bò, tình hình trâu bò chết rét tại hộ chăn
nuôi.
1.3. Xác định nguyên nhân và giải pháp khắc phục tình trạng trâu, bò chết rét
- Nội dung 2: Nghiên cứu khả năng sản xuất, chế biến dự trữ thức ăn xanh trong vụ đông xuân
nhằm phát triển chăn nuôi trâu bò bền vững.
2.1. Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số giống cỏ phù hợp với điều kiện sinh thái tại vùng
nghiên cứu.
2.2. Nghiên cứu chế biến dự trữ thức ăn xanh trong vụ đông xuân và đánh giá chất lượng sau chế
biến.
- Nội dung 3: Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật (chăm sóc, thức ăn, chuồng trại, phòng bệnh)
đảm bảo giảm thiểu thiệt hại 30 - 35% đối với trâu bò trong vụ đông xuân tại một số tỉnh miền núi
phía Bắc.
3.1. Nghiên cứu các biện pháp chăm sóc trâu bò, bê nghé để phòng chống rét trong vụ đông
xuân.
3.1.1. Nghiên cứu các biện pháp chăm sóc trâu bò trong vụ đông xuân
3.1.2. Nghiên cứu các biện pháp chăn sóc bê nghé trong vụ đông xuân
3.2. Nghiên cứu các giải pháp thức ăn cho trâu bò để phòng chống rét trong vụ đông xuân.
3.2.1 Nghiên cứu sử dụng khẩu phần bổ sung thức ăn tinh cho trâu, bò trong vụ đông
xuân.
3.2.2 Nghiên cứu sử dụng thức ăn thô xanh bảo quản, chế biến cho trâu, bò trong vụ
đông xuân.
3.3. Nghiên cứu lựa chọn kiểu chuồng trại chăn nuôi trâu bò để phòng chống rét trong vụ
đông xuân.
3.4. Nghiên cứu các biện pháp phòng bệnh cho trâu, bò trong vụ đông xuân.
3.4.1. Nghiên cứu xác định nguyên nhân gây bệnh và cách phòng trừ một số bệnh truyền nhiễm
trên đàn trâu, bò, bê, nghé trong vụ đông xuân.
3.4.2. Nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh tiêu chảy và cách phòng trừ bệnh trên đàn bê nghé trong
2.1.2. Nội dung 2: Nghiên cứu khả năng sản xuất, chế biến dự trữ thức ăn xanh trong vụ Đông
- Xuân nhằm phát triển chăn nuôi trâu bò bền vững.
- Nghiên cứu thực trạng các loại cỏ, cây thức ăn tự nhiên trâu bò sử dụng trong năm trên bãi chăn
thả bằng cách:
+ Theo dõi, thu mẫu biến động số lượng loài, cá thể trên một đơn vị diện tích đồng cỏ, bãi chăn
thả thường xuyên tại các địa phương điểm hình nghiên cứu.
+ Xác định tên khoa học và phân loại của các loại cỏ, cây thức ăn tự nhiên dựa trên khoá phân
loại hiện hành của các tác giả Nguyễn Tiến Bân và cs (2001, 2003, 2005), Lê Khả Kế (1969,
1975) (trích theo Hoàng Chung (2004) và Hoàng Chung và Giàng Thị Hương (2006) và một số tài
liệu liên quan đến phân loại.
- Nghiên cứu thành phần cây thức ăn, phụ phẩm nông nghiệp được dùng làm thức ăn cho trâu bò
bằng cách theo dõi, điều tra hỏi đáp nông hộ chăn nuôi trong vùng.
- Nghiên cứu năng suất chính, phụ phẩm nông nghiệp bằng cách xác định ô thí nghiệm lấy mẫu
trên điểm đánh giá đặc trưng của giống, vùng miền và cách thức gieo trồng. Sau đó khoanh thành
hình vuông, chia theo đường chéo để tìm ra 5 ô lấy mẫu tại 4 góc và 1 điểm chính giữa giao nhau
của 2 đường chéo. Mỗi một ô lấy mẫu dùng thước đo 1 m2 diện tích. Tiến hành thu hoạch toàn bộ
chính và phụ phẩm. Phân loại, xử lý và định lượng bằng cân. Sau đó dựa vào mục đích, thực tế sử
dụng của từng loại mà tính toán khối lượng kg/1 m2 diện tích.
- Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số giống cỏ phù hợp với điều kiện sinh thái tại vùng
nghiên cứu bằng sơ đồ bố trí thí nghiệm sau:
+ 05 giống cỏ bao gồm cỏ Guatemala, cỏ Ghine TD58, cỏ Mulato 2, cỏ VA06, cỏ Stylo được bố
trí trồng vào 5 ô thí nghiệm tại các hộ gia đình diện tích mỗi ô 100 -150 m2 (3 lần lặp lại) tại hai
vùng (vùng cao: có độ cao 800 - 1000 m và vùng thấp có độ cao từ 30 -
150
4
VA 06
120
100
5
Stylo
120
120
- Nghiên cứu chế biến dự trữ thức ăn thô xanh trong vụ đông xuân và đánh giá chất lượng sau chế
biến như sau:
+ Thức ăn bảo quản bằng phương pháp ủ xanh: tiến hành bố trí 01 nghiên cứu lựa chọn tại một
trong ba xã vùng nghiên cứu phù hợp sử dụng phương pháp ủ xanh với 02 loại nguyên liệu từ cỏ
và thân lá cây ngô trong nông hộ. Sau đó theo dõi, thu thập mẫu để phân tích, đánh giá chất
lượng thức ăn ủ trong phòng thí nghiệm.
+ Loại thức ăn ủ xanh: Cỏ voi/VA 06 ủ chua và thân lá cây ngô ủ chua
+ Quy mô: 02 hộ chăn nuôi; số lượng thức ăn ủ xanh 1 tấn/hộ.
+ Các bước tiến hành ủ xanh thức ăn: Bước 1. Chuẩn bị nguyên vật liệu, dụng cụ: nguyên vật liệu
dùng để ủ xanh trong đề tài là thân cây ngô và cỏ voi/VA 06. Chuẩn bị dụng cụ: đào hố đất có
trải tấm nylon, yêu cầu hố sạch kín, không khí không lọt vào, hố đào ở vị trí trên cao tránh đọng
Công thức ủ rơm với urê
Công thức ủ thân lá ngô với urê
1
Rơm khô
100 kg
-
2
Thân lá ngô
-
100 kg
3
Nước
100 lít
100 lít
4
8
9
7
Số trâu, bò theo dõi
Con
20
20
20
Tuổi trung bình của trâu, bò
Tháng
12 - 30
12 - 30
12 - 30
Thời gian theo dõi
Tháng
biến 14 ngày cho đến 90 ngày sau ủ.
+ Bố trí thí nghiệm chế biến thức ăn theo sơ đồ như sau:
Bảng 2.4. Tỷ lệ phối trộn các công thức thức ăn bổ sung
TT
Nguyên liệu
ĐVT
Công thức 1 (CT1)
Công thức 2 (CT2)
1
Thân ngọn cây sắn tươi
%
4,0
4,0
2
Rỉ mật đường
%
32,0
32,0
6
Ure
%
0,8
0,8
7
Premix khoáng, vitamin
%
0,8
0,8
cs (2008):
ME (kcal/kgDM) = 1885 + 21*GP24 + 2,49*DM - 21,6*CP.
+ Phương pháp ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ bằng phương trình của Menke và Steingass
(1988): OMD (%) = 31,55+0,8343*GP24.
(Trong đó: GP24 (ml) là thể tích khí trong xilanh chứa mẫu tại thời điểm 24 giờ sau ủ).
Bảng 2.5. Thành phần dinh dưỡng hỗn hợp thức ăn bổ sung
Diễn giải
ĐVT
Công thức 1 (CT1)
Công thức 2 (CT2)
Giá trị dạng sử dụng
Giá trị dạng vật chất khô
Giá trị dạng sử dụng
Giá trị dạng vật chất khô
Vật chất khô (DM)
%
1,27
1,90
Xơ thô (CF)
%
7,60
11,10
6,37
9,54
Khoáng tổng số (Ash)
%
3,19
4,61
3,16
4,73
Năng lượng trao đổi (ME)
để sáng hôm sau đặt vào bể nước ấm 390C trước khi pha chế với dịch dạ cỏ.
+ Sau khi đã chuẩn bị xong hỗn hợp dung dịch ủ, cho dung dịch ủ vào xylanh mẫu (ở mức 30
ml/xylanh) và nhẹ nhàng đặt xylanh giá gỗ. Xylanh sẽ được đưa vào tủ ấm có quạt đối lưu đảm
bảo nhiệt độ luôn luôn là 39 ± 0,50C ủ liên tục 96 giờ. Trong quá trình ủ, cứ 3 giờ xylanh được
lắc một lần để đảm bảo chất nền được trộn đều trong dịch dạ cỏ.
+ Thí nghiệm chăn nuôi bò sử dụng khẩu phần thức ăn bổ sung, tiến hành trên các bò đực giai
đoạn 20 - 24 tháng tuổi, với 3 lô thí nghiệm bố trí như sau:
Bảng 2.6. Sơ đồ bố trí thí nghiệm chăn nuôi bò sử dụng thức ăn bổ sung
Diễn giải
ĐVT