lời nói đầu
Đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế
giới. Để bắt kịp với nền kinh tế thế giới, tại đại hội Đảng khoá VIII, Đảng đã chủ
trương : “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại tự chủ, mở rộng đa phương hoá, đa
dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Vịêt Nạm muốn làm bạn với tất cả các
nước trên thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Hợp tác nhiều măt,
song phương và đa phương với các nước, các khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc
lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng cùng có lợi giải quyết các vấn đề
còn tồn tại và tranh chấp bằng thương lượng.
Trên cơ sở đó hoạt động thương mại quốc tế ở nước ta ngày càng phát triển, vì
thương mại quốc tế là tất yếu khách quan tạo ra hiệu quả cao nhất trong nền sản xuất
của mỗi quốc gia củng như trên toàn thế giới. ở nước ta, việc nhập khẩu đẩy nhanh quá
trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy
mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Hoạt động xuất khẩu ở nước ta còn hạn chế mà chủ yếu là nhập khẩu, có thể là
nhập thiết bị máy móc để phục vụ sản xuất, nhập nguyên vật liệu để gia công xuất
khẩu , nhập tư liệu về sản xuất phục vụ đời sống dân sinh . Vịêt Nam ta đã qua thơi
phải lo cho việc ăn sao cho đủ no mặc sao cho đủ ấm, mà bây giờ vươn lên nhu cầu tự
thoả mãn bản thân, mua sắm phục vụ đời sống, nhu cầu đi lại sao cho thuận tịên. Hịên
nay xe máy và xe đạp vẫn là những phương tiện đi lại chủ yếu của người dân Vịêt
Nam, thị trường xe máy hiện nay rất sôi động và kinh doanh mặt hàng xe máy đang là
nguồn lợi của nhiều công ty.
Công ty Quan Hệ Quốc Tế -Đầu Tư Sản Xuất củng tham gia vào thị trường đó
và hoạt động liên tục có lãi trong nhiều năm qua .Trong thời gian thực tập và nghiên
cứu tại công ty,tôi đã chọn đề tài:“Nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe máy của công ty
Quan Hệ Quốc Tế Đầu Tư Sản Xuất Thuận lợi , khó khăn và giải pháp”.
Đề tài gồm các nội dung chủ yếu sau:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về nhập khẩu
Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe máy của công ty
Quan Hệ Quốc Tế Đầu Tư Sản Xuất Giai đoạn năm 2000 –2002
tranh để làm sao chiếm được thị phần hay thị trường trong nước và nước ngoài. Để đạt
được điều này ,các doanh nghiệp cần phải cải tiến mẫu mã của mình thông qua việc
thúc đâỷ hoạt động nhập khẩu. Chẳng hạn như :nhập khẩu các máy móc thiết bị ,dây
chuyền công nghệ hiện đại…. có thế mới có thể hạ đượcđối thủ cạnh tranh và chiếm
lĩnh được thị trường.
Hoạt động nhập khẩu còn có vai trò khác đối với doanh nghiệp đó là mở rộng
quy mô sản xuất ,phân công lao động xã hội….
Nhập khẩu là một yếu mang tín quyết định cho việc mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp .Bỡi vì, khi doanh nghiệp đã có thị trường nhập khẩu thuận
lợi ,dĩ nhiên việc nhập khẩu có hiệu quả làm cho sản phẩm sản xuất có chất lượng cao
đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Do vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải mở rộng quy mô
để có sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng .khi đã có được một khoản lợi nhuận
doanh nghiệp phải chi cho một phần để duy trì cho tái sản xuất .qua trên cho thấy hoạt
động nhập khẩu có vai trò to lớn đối với doanh nghiệp đó là mở rộng quy mô sản xuất
và giúp cho quá trình tái sản xuất tốt.
Phân công lao động rỏ rệt khi hoạt động nhập có hiệu quả, điều này thể hiện ở
chổ khi hoạt động nhập khẩu trở nên thiết yếu của doanh nghiệp thì thì mỗi cá nhân
hay tập thể của doanh nghiệp điều có một trình độ chuyên môn ứng với công việc cụ
thể. Đây là, làm cho phân công lao động rỏ rệt vì khi nhập thiết bị hiện đại đòi hỏi phải
có cán bộ chuyên môn về lĩnh vực này, nếu không có thì không thể sử dụng được.
Nói tóm lại :hoạt động nhập khẩu đóng vai trò then chốt của doanh, nên các doanh
nghiệp cần quan tâm đến lĩnh vực này một cách triệt để, khai thác hết tiềm lực của
hoạt động này. Tuy nhiên, hoạt động nhập khẩu còn có vai trò to lớn đối với nền kinh
tế.
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế
Hoạt động sản xuất kinh doanh rất quan trọng đối với nền kinh tế.Thực tế cho
thấy nền kinh tế muốn phát triển được là nhờ hoạt động thương mại. Hoạt động nhập
khẩu chỉ là một vế chưa đầy đủ của hoạt động thương mại nhưng nó củng đã chiếm ưu
thế quan trọng của sự phát triển đến nền kinh tế thể hiện ở một số điểm sau:
Hoạt động nhập khẩu có vai trò tăng năng xuất lao động xã hội và giảm thất
Nói tóm lại : Hoạt động nhập khẩu có vai trò quan trọng,then chốt cho nền kinh
tế .Vì hoạt động này, giúp xã hội phát triển về nhiều mặt.
II. Các hình thức của hoạt động nhập khẩu
1. Nhập khẩu trực tiếp
Hoạt động nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh
nghiệp kinh doanh nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong nước và quốc
tế , tính toán chính xác các chi phí ,đảm bảo hiệu quả kinh doanh nhập khẩu , tuân thủ
đúng chính sách , luật pháp quốc gia và lụât pháp quốc tế . Trong hình thức này ,
doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải trực tiếp làm các hoạt động tìm kiếm đối tác
, đàm phán ,ký kết hợp đồng …. và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh hàng nhập
khẩu.
2. Nhập khẩu uỷ thác
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước
có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu muốn nhập khẩu một số loại hàng hoá nhưng lại
không có quyền tham gia các hoạt động nhập khẩu trực tiếp đã uỷ thác cho một doanh
nghiệp khác làm nhiệm vụ giao dịch trực tiếp và tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo
yêu cầu của mình . Bên uỷ thác phải tiến hành đàm phán với đối tác nước ngoài và làm
thủ tục nhập hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác .Bên nhận uỷ thác sẽ được hưởng
một phần thù lao được gọi là phí uỷ thác .
3. Nhập khẩu liên doanh
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động kinh doanh nhập hàng hoá trên cơ sở liên
kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp trong đó ít nhất một bên là
doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp nhằm phối hợp kỹ năng để cùng giao
dịch và đề ra các chủ trương , hướng hoạt động này sao cho có lợi nhất cho tất cả các
bên , cùng chia lợi nhuận và cùng chịu lổ.
4. Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu đổi hàng cùng trao trôi đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu của
buôn bán đối lưu, đó là hình thức nhập khẩu đi đôi với xuất khẩu. Thanh toán cho hoạt
động này không dùng tiền mà hàng hoá. Mục đích của nhập khẩu hàng đổi hàng là vừa
thu lãi từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu và vừa xuất khẩu được hàng hoá trong nước
Mặt hàng đó ở giai đoạn nào của chu kỳ sống ? Bất cứ một sản phẩm nào củng đều
có chu kỳ sống riêng. Nắm được mặt hàng mà doanh dự tính kinh doanh đang ở giai
đoạn nào của chu kỳ sống sẽ xác định được các biện pháp cần thiết để nâng cao doanh
số bán hàng và thu được nhiều lợi nhuận.
Tình hình sản xuất của mặt hàng đó trong nước như thế nào ? Muốn kinh doanh có
hiệu quả thì bất kể doanh nghiệp nào củng phải quan tâm đến quan hệ cung cầu về mặt
hàng kinh doanh.Vấn đề mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cần xem xét
ở đây là : khả năng sản xuất , thời vụ sản xuất , tốc độ phát triển của mặt hàng đó trong
nước . Việc lựa chọn mặt hàng nhập khẩu không chỉ dựa vào những tính toán , ước
tính và những biểu hiện cụ thể của hàng hoá mà còn dựa vào kinh nghiệm của người
nghiên cứu thị trường để dự đoán các xu hướng biến động của giá cả thị trường trong
nước và nước ngoài, khả năng thương lượng để đạt tới điều kiện mua bán ưu thế hơn.
Bứơc2 - Nghiên cứu dung lượng thị trường và các nhân tố ảnh hưởng
Đối với nhập khẩu , việc tìm hiểu dung lượng thị trường hàng hoá cần nhập là
rất quan trọng. Có thể hiểu dung lượng thị trường của một hàng hoá là một khối hàng
hoá được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất định (thế giới , khu vực, quốc gia
) trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm. Nghiên cứu dung lượng thị trường
cần xác định nhu cầu thật của khách hàng, kể cả lượng dự trữ, xu hướng biến động của
nhu cầu trong từng thời điểm, các khu vực trên từng lĩnh vực sản xuất và tiêu dùng.
Cùng vớiviệc xác định nắm bắt nhu cầu là việc nắm bắt khả năng cung cấp của thị
trường, bao gồm việc xem xét đặc điểm, tính chất, khả năng sản xuất hàng thay thế,
khả năng lựa chọn mua bán.
Dung lượng thị trường là không cố định, nó thay đổi tuỳ theo diễn biến của tình hình
tác động tổng hợp của nhiều nhân tố trong những giai đoạn nhất định. Có thể chia làm
3 loại nhân tố ảnh hưởng dung lượng thị trường căn cứ vào thời gian ảnh hưởng của
chúng :
- Các nhân tố làm dung lượng thị trường biến động có tính chất chu kỳ. Đó là sự
vận động của tình hình kinh tế tư bản chủ nghĩa và tính chất thời vụ trong sản xuất lưu
thông và phân phối hàng hoá. Sự vận động của tình hình kinh tế các nước phát triển có
tính chất quan trọng ảnh hưởng đến tất cả thị trường hàng hoá trên thế giới. Có thể nói
giá cả hàng hoá.
Các nhân tố tác động đến giá cả hàng hoá trên thị trường thế giới có rất nhiều và có thể
phân loại theo nhiều cách khác nhau. Khi dự đoán xu hướng biến động lâu dài như:
chu kỳ , giá trị … khi dự đoán xu hướng biến động của giá cả trong thời gian ngắn cần
phân tích đánh giá ảnh hưởng trực tiếp của những biến đổi về cung cầu và các nhân tố
mang tính chất tạm thời như: thời vụ , nhân tố tự nhiên.
2. Lựa chọn phương thức giao dịch nhập khẩu
Sau khi tiến hành công việc nghiên cứu thị trường quốc tế , cần lựa chọn hình
thức giao dịch thích hợp trước khi tiến hành kí kết hợp đồng. Trong hoạt động mua
bán quốc tế có một số phương thức giao dích chủ yếu sau:
Giao dịch thông thường là giao dịch có thể thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc, trong đó
người bán và người mua tiếp quan hệ với nhau cách gặp mặt hoặc qua thư từ, điện tín
để bàn bạc với nhau về các điều kịên giao dịch . Những nội dung này được thoả thuận
một cách tự nhiên, không có sự ràng buộc với lần giao dịch trước, việc mua không
nhất thiết phải gắn với việc bán. Phương thức giao dịch này có ưu điểm là hai bên có
thể thảo luận trực tiếp dễ dàng, giảm chi phí trung gian và dễ thâm nhập thị trường.
Tuy nhiên, nó củng có phần hạn chế với thị trường trong nước.
Giao dịch qua trung gian
Trong hình thức giao dịch này có người thứ ba làm trung gian giữa người bán và người
mua. Người trung gian phổ biến trên thị trường là các đại lý và môi giới.
Đại lý : Là các tư nhân hay pháp nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo sự uỷ thác
của người uỷ thác. Quan hệ giữa người uỷ thác với các đại lý .Căn cứ vào quyền hạn
uỷ thác người ta người ta chia ra làm loại đại lý , đó là : đại lý toàn quyền, tổng đại lý,
đại lý đặc biệt .
Sử dụng đại lý và môi giới có nhiều thuận lợi như : doanh nghiệp sẽ có những thông
tin chính xác thị trường, giảm bớt chi phí nghiên cứu thị trường. Song hình thức này có
nhược điểm là gây ra sự mất liên lạc trực tiếp với khách hàng và lợi nhuận bị chia sẻ.
Giao dịch tại hội chợ triển lãm
Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ tổ chức vào thời gian nhất định, tại đó bán
trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng.
Hai bên ký vào một hợp đồng mua bán ngoại thương (bằng văn bản)
Người bán xác định bằng văn bản là người mua đã đồng ý với các điều khoản của thư
chào hàng tự do , nếu người mua víêt đúng thủ tục cần thiết
Người bán xác nhận bằng văn bản đơn đặt hàng của người mua
Trao đổi bằng thư xác nhận những thoã thuận bằng đơn đặt hàng từ trước đây của hai
bên
Trước khi ký hợp đồng cần có sự thống nhất với nhau tất cả mọi điều khoản cần thiết .
Những điều khoản trong hợp đồng:
- Các điều khoản về đối tượng hợp đồng
+Tên hàng :Cần ghi tên thông dụng , tên thương mại và tên khoa học ….
+Số lượng :Phải ghi rỏ đơn vị đo lường được hai bên lựa chọn , quy định cụ thể số
lượng hàng giao dịch.
+Trọng lượng : Có thể tính trọng lượng hàng theo nhiều cách
Các điều khỏan về giá cả:
Đồng tiền tính giá: Có thể dùng đồng tiền tính giá của bên mua hoặc bên bán hoặc của
nước thứ ba nhưng phải là đồng tiền ổn định , tự do chuyễn đổi
+Mức giá: Là giá cả quốc tế
+Phương pháp định giá : Có một số cách như : giá cố định , giá quy định sau, giá linh
hoạt, giá di động .
+Giảm giá : Bên bán có thể giảm giá cho bên mua nếu bên mua là khách quen , mua số
lượng lớn , thanh toán ngay.
-Điều khoản giao hàng :
+ Thời hạn giao hàng : Cần ghi rỏ trong hợp đồng vì nếu không đúng thời hạn có thể
gây thiệt hại lớn cho người mua .
+Địa điểm giao hàng
Phương thức giao hàng
+Thông báo giao hàng
-Điều khoản thanh toán :
+Đồng tiền thanh toán :Phải là đồng tiền ổn định , có khả năng chuyển đổi .
+Phương thức thanh toán : Có thể trả ngay , trả trước hoặc trả sau và có thể kết hợp
Bước 1-thủ tục
Người nhập khẩu ký một hợp đồng cho cơ quan vận tải về việc giao nhận hàng .
Xác nhận với cơ quan vận tải về kế hoạch tiếp nhận hàng nhập khẩu cơ cấu mặt hàng,
điều kiện kỹ thuật khi bốc xếp , bảo quản , vận chuyễn .
Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải lập biên bản về hàng hoá và giải
quyết trong phạm vi của mình những vấn đề xẩy ra.
Bước 2-Tổ chức tiếp nhận
Sau khi hàng hoá đã về đến nước mình, bên nhập khẩu phải đệ trình những chứng từ
và thủ tục cần thiết cho cơ quan hải quan : giấy phép nhập khẩu , những chứng từ liên
quan .Hải quan sẽ xem xét các chứng từ đó , nếu hợp lệ thì bên nhập khẩu mới được
quyền tiếp nhận hàng hoá của mình .
Người nhập khẩu cần phải kiểm tra tính phù hợp về số lượng, chất lượng hàng hoá
Bên nhập khẩu sẽ mời cơ quan giám định và cơ quan bảo hiểm đến để kiểm tra hàng
hoá . Việc giám định này do công ty kiểm tra trung gian giám định .
Trên đây là một số khâu quan trọng của công tác nhập khẩu hàng hoá . Để đạt hiệu quả
cao trong hoạt động nhập khẩu các đơn vị nhập khẩu phải thực hiện đúng , đủ và tốt
các khâu này.
IV.Các yếu tố ảnh hưởng tới nhập khẩu
1. Thuế quan và chính sách quản lý của quốc gia về nhập khẩu
Thuế quan là công cụ để nhà nước điều chỉnh nguồn hàng hóa từ bên ngoài vào
hoặc đi ra một cách thích hợp .Bằng hình thức đánh thuế cao hay thấp của từng chủng
loại hàng hoá .
Thuế quan nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu. Thuế quan nhập
khẩu đước áp dụng rất phổ biến trên thế giới .Thuế nhập khẩu tác động tiêu cực ,tích
cực đến doanh nghiệp hay nền kinh tế ,cụ thể như sau:
Về tích cực
Tạo nguồn thu quan trọng cho nhà nước
Điều chỉnh hàng hoá từ thị trường nước ngoài vào trong nước
Bảo vệ thị trường nội địa
Về tiêu cực
pháp quốc gia là những thông lệ tập quán chung hay những quy địnhmà các quốc gia
thống nhất trở thành những điều ước chung,buộc các quốc gia phải tuân thủ về mọi
hoạt động trong đó có hoạt động thưong mại .Hiện nay, có những điều ước có thể tạo
đà cho các quốc xúc tiến hoạt động nhập khẩu chẳng hạn như điều ước về hải phận….
Bên cạnh đó luật pháp quốc tế còn nghiêm cấm các quốc gia nhập khẩu những mặt
hàng có ảnh hưởng xấu tới cộng đông như thuốc phẹn, vủ khí hạt nhân…
Tuy nhiên , nhân tố chính trị tác động mạnh đến hoạt động nhập khẩu .Nếu như
một quốc gia tình hình chính trị không ổn định thì hoạtđộng nhập khẩu hạn chế vì các
nhà xuất khẩu sợ rủi ro.
Từ trên cho thấy luật pháp quốc gia ,và luật pháp quốc tế tác động mạnh mẽ đến
hoạt động nhập khẩu rất sâu sắc.
3. Sức Cạnh tranh và Nhu cầu của thị trường
Để thắng được đối thủ cạnh tranh ở thị trường trong nước và quốc tế .Đòi hỏi
các doanh nghiệp trong nước phải xúc tiến hoạt động nhập khẩu có hiệu quả
.Đó là nhập khẩu những máy móc ,vật tư ,dây chuyền công nghệ …Để phục vụ cho
quá trình sản xuất kinh doanhcó những sản phẩm chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu
của thị trường.Cho nên nhu cầu của thị trường củng là nhân tố tác động đến hoạt động
nhập khẩu.
4. Các yếu tố khác
Các quan hệ quốc tế
Các quốc gia muốn phát triển để đuổi kịp nền văn minh nhân loại thì cần mở
rộng giao lưu với nhịều quốc gia khác . Khi các quan hệ quốc tế đã hình thành thì rất
thuận lợi cho các hoạt động kinh tế … Trong đó có hoạt động thương mại và cụ thể
hoạt động nhập khẩu thuận lợi. Thực tế cho thấy ,từ các quan hệ tốt đã hình thành nên
các hiệp định như hiệp định song phương ,đa phương… Chẳnh hạn như việt nam và
liên minh châu đã có những cam kết về hiệp định khung về hàng dệt may.Điều này đã
tạo điều kiện cho đôi bên điều có lợi về hoạtđộng xuất nhập khẩu.
Qua trên cho thấy quan hệ quốc tế rất quan trọng đối với hoạt động nhập khẩu.
Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe máy của công ty
Quan Hệ Quốc Tế Đầu Tư Sản Xuất Giai đoạn năm 2000 -2002
- Kế hoạch tiêu thụ tại Việt Nam và xuất khẩu ra nước ngoài .
b) Đối với loại nguyên chiếc mới : Giao việc nhập khẩu cho các doanh nghiệp có giây
phép kinh doanh xuất nhập khẩu ngành hàng với số lượng hợp lý.
2.Tình hình nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe máy vào việt nam, giai đoạn
2000-2002
Hiện nay có 06 liên doanh hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp xe máy
với:
- Tổng vốn đăng ký gần 476,546 triệu USD
- Tổng vốn pháp định 142,35 triệu USD
- Tổng công suất lắp ráp khoảng hơn 1,6 triệu xe/năm
- Đã thực hiện đầu tư 173.754 triệu USD.
Từ năm 1999-2001sản lượng xe máy do các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư
nước ngoài(FDI)sản xuất lắp ráp liên tục tăng từ 211.676 xe đến 425.704 xe.
Nhìn chung, hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực sản xuất lắp ráp đều
có lãi, mặc dù có sự cạnh tranh tương đối gay gắt giữa các doanh nghiệp này với các
doanh nghiệp lắp ráp trong nước. Các số liệu tỷ suất lãi/vốn, lãi/doanh thu, lãi/nộp
ngân sách của các doanh nghiệp FDI đều rất cao.
Việc các hãng sản xuất xe máy nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đã đặt nền tảng bước
đầu phát triển cho nền công nghiệp xe máy Việt Nam. Nhưng có một điều chúng ta
nhận thấy rằng với 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 54 doanh nghiệp trong
nước sản xuất xe gắn máy hiện nay cũng chưa thực sự tiến hành chương trình nội địa
hoá theo đúng nghĩa của nó mà chủ yếu vẫn là lắp ráp, mặc dù đã được nhà nước bảo
hộ bằng nhiều biện pháp .
Nhà nước chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe gắn
máy dạng IKD phát triển, gia tăng mạnh về đầu tư dây chuyền sản xuất xe máy và linh
kiện phụ tùng xe máy. Chủ trương đó dẫn đến việc số lượng xe máy sản xuất
và lắp ráp ở Việt Nam cũng tăng lên rất nhanh trong thời gian qua.
Qua trên cho thấy hoạt động Nhập khẩu linh kiện lắp ráp ngày càng có vị trí
quan trọng trong ngành xe máy việt nam. Chính vì vậy hàng năm các doanh nghiệp
với giá các loại xe cùng chủng loại được sản xuất tại các nước ASEAN và Đài Loan,
thậm chí còn cao hơn nhiều so với luận chứng kinh tế kỹ thuật. Việc làm này gây thiệt
hại đến lợi ích của người tiêu dùng nhưng mang lại siêu lợi nhuận cho các nhà sản xuất
lắp ráp và kinh doanh xe máy. Chính vì vậy, một bộ phận lớn người dân vẫn chưa thể
mua được xe máy, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và miền núi.
Nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược chính sách Công nghiệp - Bộ Công nghiệp
II.Thực trạng nhập khẩu linh kiện lắp ráp xe máy của công ty Quan Hệ Quốc Tế Đầu
Tư Sản Xuất ,giai đoạn 2000-2002
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú nhưng khai thác sữ
dụng thì công nghệ đang còn kém so với thế giới và khu vực . Điều này có thể khẳng
định nếu như nhà nước không thiết lập tạo điều kịên cho các doanh nghiệp trong nước
.
Công Ty Quan Hệ Quốc Tế Đầu Tư Sản Xuất là một trong những công ty rất
nhạy bén về thị trường tiêu thụ những sản phẩm mà khách hàng trong nước cần đến.
Chính vì vậy , trong quá sản xuất kinhj doanh công ty đã phục vụ cho quá trình sản
xuất có sản phẩm đáp ứng cho người tiêu dùng.Đó là sản phẩm đáp ứng hình thành từ
lắp ráp các linh kiện nhập các nước trong khu vực và quốc tế . Hiện nay, Công ty đã
nhập các linh kiện lắp ráp xe máy chủ yếu là tư các doanh nghiệp của trung quốc .
Với mục tiêu phát triển đi lên của công ty là đầu tư chủ yếu vào hoạt động lắp
ráp . Để đạt mục tiêu trên hàng năm công ty đã nhập với lượng lớn về nhiều chủng loại
khác nhau : Tuy nhiên có nhiều tác động khách quan từ bên ngoài như các chính sách
quản lý của nhà nước về hoạt động nhập khẩu . Cho nên làm cho tổng kim ngạch nhập
khẩu tăng giảm thất thường. Theo số liệu thống kê tư phòng xe máy – Công
ty(HQTĐTSX) cho biết;
Từ bảng 1cho thấy ,để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và uy tín của
công ty , buộc đến năm2000 ,công ty phải nhập kịp thời nguyên chiếc cả xe máy từ
các doanh nghiệp Trung Quốc. Nhưng trong thời gian này lúc đầu chỉ thu được khoản
lợi nhụân lớn ,sau đó lại giảm đi . Vì vậy, đến năm 2001 công ty có thay đổi phương
thức kinh doanh ,đó là nhập khẩu các linh kiện xe máy tư các doanh nghiệp Trung
Quốc ,vừa đảm bảo được khoản chi phí cho thuê nhập khẩu và đảm bảo được doanh