nghiên cứu tính bất hợp lý trong chỉ định thuốc và đề xuất giải pháp nâng cao tính hợp lý trong sử dụng thuốc tại một số bệnh viện ở miền bắc, việt nam - Pdf 13



BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ

NGHIÊN CỨU TÍNH BẤT HỢP LÝ TRONG CHỈ ĐỊNH THUỐC
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÍNH HỢP LÝ TRONG
SỬ DỤNG THUỐC TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN Ở MIỀN BẮC,
VIỆT NAM
ORS Oresol
QĐ Quyết định
SX Sản xuất
TB Trung bình
TCYTTG Tổ chức y tế th
ế giới
Tp Thành phố
TT Thông tư
XN Xét nghiệm
VD Ví dụ
VN Việt Nam
ADR Adverse Drug Reactions
CDC Centers for Disease Control and Prevention (Trung
tâm kiểm soát và ngừa bệnh )
GPP Good Pharmacy Practices (Nhà thuốc thực hành tốt)
HINARY The Programme for Access to Health Research
10
INH Isoniazid
INRUD International Network for the Rational Use of Drugs
(Mạng lưới quốc tế về sử dụng thuốc hợp lý)
LDL Low-density lipoprotein (Lipoprotein tỷ trọng thấp)
Sida/SAREC Office of the Vietnam-Sweden Research
Cooperation Programme (Văn phòng Chương trình
Hợp tác nghiên cứu Việt Nam – Thụy Điển)
USD United States Dollar (Đô la Mỹ)
WHO World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới) 11
MỤC LỤC

2.12.2. Loét dạ dày- tá tràng: 51
2.12.3. Tiêu chảy cấp 56
2.12.4. Bệnh Gout 58
2.12.5. Lỵ trực khuẩn 62
2.12.6. Viêm phế quản phổi ở trẻ em 64
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 67
3.1. Giai đoạn 1: Tổng quan tài liệu và xin ý kiến chuyên gia 67
12
3.2. Giai đoạn 2: Điều tra thực địa 68

3.3. Giai đoạn 3: Đề xuất các giải pháp can thiệp 73
3.4. Thời gian thực hiện nghiên cứu: 74
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 74
4.1. Thực trạng sử dụng thuốc tại một số bệnh viên nghiên cứu 74
4.1.1. Kiến thức kê đơn của thày thuốc 74
4.1.1.1. Thông tin chung về các đối tượng nghiên cứu 74
4.1.1.2. Kiến thức về phổ tác dụng của các nhóm kháng sinh 77
4.1.1.3. Kê đơn cho các tình huống bệnh nhân giả định 79
4.1.2. Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện được nghiên cứu 85
4.1.2.1. Số thuốc trong 1 đơn thuốc hoặc bệnh án 85
4.1.2.2. Tình hình kê đơn kháng sinh 86
4.1.2.3. Kê đơn thuốc có corticoid tác dụng toàn thân 89
4.1.2.4. Kê đơn thuốc có vitamin 90
4.1.2.5. Tình hình báo cáo phản ứng phụ của thuốc 90
4.1.2.6. Thực trạng kê đơn thuốc trong một số bệnh 91
4.1.3. Một số yếu tố có liên quan đến thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện
nghiên cứu 99

4.1.4. Những khó khăn trong quá trình kê đơn 101
4.1.5. Mức độ sử dụng các nguồn thông tin khác nhau trong quá trình kê đơn 102

- Người bệnh thích hợp: không có các chống chỉ định
- Phân phối (bán, phát) đúng, bao gồm cả việc cung cấ
p các thông tin
thích hợp về các thuốc đã kê đơn cho người bệnh;
- Người bệnh tuân thủ điều trị.

Sử dụng thuốc không hợp lý xảy ra khi một hay nhiều điều kiện theo định nghĩa
nêu trên không được đảm bảo. Người ta ước tính có khoảng 50% lượng thuốc
được tiêu thụ trên phạm vi toàn thế giới được kê đơn và sử dụng chưa hợp lý.
Hai nhóm thuốc bị lạ
m dụng một cách phổ biến nhất là kháng sinh và thuốc
tiêm [102].
Sử dụng thuốc không hợp lý trong bệnh viện thường gặp như sau:
- Sử dụng quá nhiều thuốc để điều trị cho một bệnh mà trong đó nhiều
thuốc không thực sự cần thiết. Do đó gây tốn kém cho bệnh nhân và
tăng nguy cơ tương tác thuốc.
- Sử dụng thuốc quá mức cần thiết,
được hiểu như việc kê đơn và dùng
thuốc không đúng với chỉ định của bệnh hay trong những tình huống
không cần thiết. Ví dụ việc bệnh nhân được sử dụng thuốc tiêm hay
15
các thuốc mới đắt tiền trong khi các dạng thuốc đường uống hoặc các
loại thuốc thông thường vẫn còn hiệu quả.
- Việc kê đơn không tuân thủ các phác đồ hướng dẫn lâm sàng. Điển
hình cho tình huống này là việc kê đơn sử dụng kháng sinh với liều
thấp, không đủ liệu trình hay sử dụng kháng sinh cho các bệnh nhân
không nhiễm khuẩn, góp phần làm tăng nguy cơ kháng thuốc.

Sử dụng thuốc không hợ
p lý dẫn đến nhiều hậu quả không mong muốn [102]:

và cho trẻ nhiễm khuẩn tai mũi họng.

Để cập nhật các thông tin về thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện và qua
đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn tại
các bệnh viện nước ta, nghiên cứu này được triển khai nhằm các mục tiêu sau:

1. Mô tả thực trạng sử dụng thuốc tại một số khoa/đơn vị Nội, Nhi,
Lây ở một s
ố bệnh viện công lập các tuyến miền Bắc, Việt nam.
2. Phân tích một số yếu tố có liên quan đến thực trạng sử dụng thuốc
tại các các cơ sở điều tra
3. Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc sử dụng thuốc hợp lý,
an toàn và hạn chế phối hợp thuốc không hợp lý tại các bệnh viện ở
miền Bắc Việ
t nam.
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Khái niệm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và một số yếu tố ảnh hưởng
đến sử dụng thuốc hợp lý, an toàn
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, sử dụng thuốc hợp lý, an toàn là “việc đảm bảo
cho người bệnh nhận được các thuốc thích hợp với yêu cầu của lâm sàng, liều
lượng phù hợp với từng cá thể, trong khoảng thời gian vừa đủ và giá thành thấp
nhất cho mỗi người cũng như cho cộng đồng của họ" [101]. Sử dụng thuốc hợp
lý, an toàn gồm các tiêu chuẩn chủ yếu sau:
- Thuốc đảm bảo chất lượng;
- Chỉ định thích hợp: kê đơn dựa vào khám lâm sàng
- Thuốc thích hợp: chú ý tới hiệu quả, an toàn, tính tiện lợi cho người

năng này. Nhưng chất lượng đào tạo lại khác nhau giữa các nước, thậm chí là
giữa các trường đại học trong một nước. Một số người lo ngại về việc mất cân
bằng giữa việc sẵn có các loại thuốc có hiệu lực mạnh với việ
c đào tạo về sử
dụng chúng. Vấn đề là sự thịnh hành các thuốc chỉ trong thời gian ngắn do
Sử dụng thuốc hợp
lý an toàn
Người kê đơn, cung ứng:
Kiến thức, thông tin, thái độ,
đạo đức nghề nghiệp
Bệnh nhân:
Yêu cầu của bệnh nhân, có
BHYT hay không
Quản lý nhà nước:
Quy định, hướng dẫn, hệ thống
giám sát và cải tiến chất


n
g

Các yếu tố khác:
Sự sẵn có của thuốc, ảnh
hưởng của quảng cáo thuốc
Đào tạo, thông tin
Cơ chế quản lý
Chính sách
19
những thay đổi và tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, như ở Hoa Kỳ và
Thụy Điển chỉ là 5 năm. Nhiều loại thuốc còn chưa có mặt khi thầy thuốc còn là

20
2.3. Các yếu tố liên quan từ phía bệnh nhân
Bệnh nhân và gia đình bệnh nhân đôi khi cũng có những ảnh hưởng nhất
định đến việc kê đơn của thầy thuốc. Một số nghiên cứu cho thấy việc thày
thuốc kê nhiều thuốc cho bệnh nhân là để đáp ứng yêu cầu của bệnh nhân
[66,86]. Bệnh nhân có bảo hiểm y tế hay không cũng là 1 yếu tố ảnh hưởng đến
thực hành kê đơn củ
a thày thuốc. Theo nghiên cứu của Dương Lệ Quyên, số
đầu thuốc trung bình/đợt điều trị và tỷ lệ thuốc được kê nằm trong danh mục
thuốc chủ yếu ở nhóm bệnh nhân BHYT cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê
(p<0,05) so với các bệnh nhân tự trả viện phí và miễn phí [40].
2.4. Yếu tố quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước có liên quan chặt chẽ tới việc thực hành điều trị nói
chung và việ
c sử dụng thuốc trong bệnh viện nói riêng. Vai trò quản lý nhà
nước được thể hiện thông qua việc ban hành phác đồ điều trị chuẩn điều trị cho
các bệnh cũng như danh mục thuốc được sử dụng tại từng loại cơ sở khám
chữa bệnh. Việc thường xuyên kiểm tra giám sát hỗ trợ của các cấp quản lý
cũng là biện pháp thúc đẩy việc sử dụng thu
ốc an toàn hợp lý hơn trong các cơ
sở y tế
2.5. Một số yếu tố khác
Trong số các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến thực hành kê đơn của
thày thuốc, người ta thường nhắc đến vai trò của quảng cáo và tài trợ của các
công ty dược phẩm nhằm khuyến khích thầy thuốc sử dụng các thuốc của họ
trong quá trình điều trị. Quảng cáo có vai trò thế nào với việc kê đơn còn đ
ang
là vấn đề tranh cãi. Các đại diện của nền công nghiệp dược cho rằng quảng cáo
chỉ có ảnh hưởng vừa phải hoặc chỉ để giúp thầy thuốc cập nhật thông tin. Song
thực tế ngành công nghiệp dược đã dành tới 12-40% doanh số bán hàng đầu tư

[103]:
- Làm giảm hiệu quả điều trị c
ủa thuốc dẫn đến kéo dài thời gian điều
trị, tăng tỷ lệ bệnh tật và tăng nguy cơ tử vong.
- Khó kiểm soát các tác dụng không mong muốn, các phản ứng phụ và
khả năng tương tác giữa các thuốc dẫn đến mất an toàn trong quá trình sử dụng,
ảnh hưởng đến sức khoẻ và tính mạng của người bệnh.
22
- Sử dụng thuốc không hợp lý làm gia tăng tình trạng kháng thuốc nhất
là đối với thuốc kháng sinh.
- Tất cả các hậu quả trên, ngoài ảnh hưởng về mặt sức khoẻ đều dẫn tới
việc lãng phí nguồn lực vốn đã hạn hẹp dành cho công tác chăm sóc sức khoẻ.
Theo dõi tình hình dị ứng thuốc tại khoa dị ứng miễn dịch lâm sàng bệnh
viện Bạch Mai cho th
ấy số người bị dị ứng thuốc trong những năm 1991 - 1995
tăng gấp 3,5 lần và số nhóm thuốc bị dị ứng là 24 (tăng 14 nhóm) so với những
năm 1981 – 1990 [39]. Ngoài những hậu quả xấu trực tiếp đến người dùng
thuốc, lạm dụng thuốc kháng sinh còn ảnh hưởng tới cả cộng đồng như làm tăng
tỷ lệ kháng thuốc gây khó khăn trong điề
u trị bênh. Cụ thể như đa số các bệnh
nhân mắc bệnh thương hàn đã không thể chữa được bằng các thuốc kháng sinh
thông thường như cloramphenicol, ampicilin hoặc cotrimoxazol nữa mà phải
dùng đến các cephalosporin thế hệ thứ 3 hoặc kháng sinh nhóm quinolon mới
do các thuốc vẫn dùng đã bị kháng. Tình hình kháng thuốc còn xảy ra ở một số
bệnh nhiễm khuẩn khác như bệnh lị trực khuẩn do Shigella kháng lại
cotrimoxazol và ampicilin hoặc viêm phổi do ph
ế cầu ở trẻ em kháng
cotrimoxazol và đang có xu hướng kháng penicilin ở một số bệnh viện lớn.
Lạm dụng thuốc còn dẫn đến tăng chi phí điều trị không cần thiết làm cho
giá thành điều trị đã tăng lên gấp bội, nhiều trường hợp vượt khỏi khả năng chi

nghiên cứu của Pinto Pereira thì có 4 lý do chính, đó là:
+ Người bệnh không chấp nhận thuốc đã được chỉ định vì không được chỉ
dẫn đầy đủ và lo lắng về các phản ứng có hại.
+ Thầy thuốc chưa khuyến khích được đầy đủ sự bộc lộ, cởi mở của
người bệnh. Người bệnh đi khám nhưng có thể niềm tin vào trị liệu lại đặt vào
một đối tượng không có chuyên môn khác (VD thầy cúng, bói ).
+ Người bệnh thường không tin vào các thuốc có tên gốc hay các thuốc
chưa quen thuộc.
+ Vai trò của người bán có thể làm tăng hay làm giảm sự tuân thủ với đơn
thuốc của thầy thuốc một cách rõ rệt [82].
Tình hình quảng cáo thuốc cũng rất đáng lo ngại. Tìm hiểu 183 quảng cáo
thuốc ở 11 nước khu vực châu Âu, với các thuốc không phải kê đơn, người ta
thấy chỉ có 3 quảng cáo đảm bảo đủ các yêu cầu theo quy định của liên minh
châu Âu và các tiêu chuẩn về đạo đức của TCYTTG, 91 quảng cáo không chỉ

24
dẫn cụ thể cách dùng, 53 quảng cáo mang tính y tế cho các sản phẩm không
được đăng ký là thuốc, 53 quảng cáo không ghi tên gốc (chỉ ghi biệt dược)…
Đặc biệt, khoảng không gian dành cho tranh hay các bức minh họa thưòng lớn
hơn nhiều so với lời ghi hướng dẫn [58].
Tại các nước đang phát triển, mặc dù chiếm 75% dân số thế giới, nhưng
chỉ tiêu thụ 21% sản lượng thuốc của thế giới, song sử dụ
ng thuốc không đúng,
không hợp lý, không an toàn lại rất phổ biến. Vấn đề sử dụng thuốc sai quy định
cũng được đề cập đến ở nhiều nghiên cứu trên thế giới đặc biệt ở các nước đang
phát triển. Ước tính có khoảng 90% trường hợp bệnh nhân dùng thuốc tiêm là
không cần thiết bởi đã có các dạng thuốc khác an toàn hơn với hiệu quả tương
đương [83].
Theo TCYTTG thì chỉ
cần 1 USD thuốc thiết yếu có thể đảm bảo chữa

tiêm tốt hơn thuốc uống; và còn do động cơ lợi nhuận thu được của thầy thuốc.
Tác giả kết luận “tình trạng này là do việc đào tạo kém hiệu quả
, vấn đề an toàn
về thuốc ít được chú trọng, không có sự giám sát theo các quy chế…” [85].
Theo nhận định của các chuyên gia của TCYTTG thì “thầy thuốc ngày nay kê
đơn các KS đắt tiền một cách không đúng có thể gây hậu quả cho người bệnh
(nhiễm nấm do dùng quá nhiều cephalosporin…) Các nghiên cứu về việc kê
đơn hợp lý của thầy thuốc có thể trở thành cơ sở cho việc quản lý sử dụng thuốc
hợp lý và an toàn” [99]. Đáng tiếc hơn n
ữa ở các nước đang phát triển thầy
thuốc lại thường bán thuốc sau khi khám bệnh. Điều này một phần do truyền
thống các thầy thuốc theo y học cổ truyền thường bốc thuốc sau khi khám bệnh
tạo tâm lý và thói quen cho người dân là đến với thầy thuốc là phải có thuốc;
một phần do cơ chế và quản lý ở các nước đang phát triển còn lỏng lẻo, từ đó,
có thể d
ẫn tới việc kê đơn có quá nhiều loại thuốc và thích dùng thuốc tiêm hơn,
vì như vậy thu nhập sẽ cao hơn [72].
Bên cạnh việc kê đơn có nhiều loại thuốc, hay dùng thuốc tiêm, thì việc
chỉ định KS rộng rãi và không đúng là một xu hướng khác cần được quan tâm.
Nghiên cứu về việc kê đơn KS tại một bệnh viện thực hành ở Thái Lan,
Udomthavomsuk thấy có tới 52,3% dùng KS không đúng và không cần thiết.
Việc sử dụ
ng KS dự phòng ngoại khoa cũng có tỷ lệ không hợp lý cao (79,7%)
[96]. Tình trạng kê đơn có quá nhiều thuốc, lạm dụng KS, thuốc tiêm, vitamin
được nhắc đến ở rất nhiều các nghiên cứu khác nhau [85, 96, 95].
26
Để khắc phục tình trạng này, nhiều nước đã thực thi một danh mục thuốc
hạn chế và xây dựng các phác đồ chuẩn để hướng dẫn việc sử dụng thuốc hợp
lý. Nhưng những cố gắng này chỉ làm giảm được việc tiêu thụ thuốc mà không
cải thiện được đáng kể chất lượng của việc kê đơn [92,55].

định người bán là rất thường gặp ở
Thái Lan. Ở Ấn Độ một nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc bán thuốc không có
27
đơn của thầy thuốc là bình thường, kể cả các thuốc bị cấm. KS được bán không
có đơn chiếm 17,5% các trường hợp tự đi mua thuốc và 23% tổng chi phí mua
thuốc. Các biệt dược của pencilin, cotrimoxazol và tetracyclin chiếm 64,8%.
Hầu hết chỉ định KS là cho các rối loạn ở đường hô hấp trên, ở đường tiêu hoá
và một số trường hợp khác. Thời gian sử dụng KS thông thường là dưới 5 ngày
[59]. Ba nhà nghiên cứu đóng vai khách hàng đã vào 28 hiệ
u thuốc ở thủ đô của
Srilanca để yêu cầu mua thuốc. Họ đã dễ dàng mua được tetracyclin, một thuốc
mà theo quy định của nước này chỉ được bán theo đơn. Không có chỉ dẫn nào
được đưa ra kèm theo với việc mua thuốc này và những người bán thuốc cũng
không đủ chứng chỉ chuyên môn cần thiết. Các kiến thức mà những người bán
thuốc có được chủ yếu qua các quảng cáo và đại diện của các hãng thu
ốc [100].
Ở Iran, nơi mà việc bán thuốc bị hạn chế có tính pháp luật thì việc mua bán các
thuốc, kể cả thuốc có thể gây chết người vẫn hết sức dễ dàng, không cần có đơn.
Một thói quen hết sức đáng tiếc là người dân thường đến thẳng các hiệu thuốc
để tự mua thuốc chữa bệnh cho mình và gia đình. Có những trường hợp khá
nguy hiểm như đau bụng, cũng có tới 50% các hi
ệu thuốc chỉ định và bán thuốc
cho người dân. Còn các tình trạng khác như ỉa chảy, đau họng thì tới 90% được
điều trị bởi các hiệu thuốc. Nghiên cứu này cũng cho thấy người bán thuốc đã
chỉ định dùng thuốc cho người bệnh dựa theo những đơn thuốc khác mà họ đã
biết!
Tìm hiểu về việc sử dụng KS ở một vùng nông thôn của Banglades,
Hossain thấy 25% số ng
ười tự mua các thuốc KS, trong đó 9% là tetracyclin.
48% KS dạng viên hoặc dạng con nhộng cho người lớn được bán với số lượng

Những năm 1980 trở về trước, khi còn trong tình trạng của một nền kinh
tế bao cấp, vấn đề
thiếu các thuốc cần thiết cho nhu cầu CSSK ở Việt Nam
được xác định là cấp thiết [46].
Theo đánh giá của Cơ quan hỗ trợ phát triển Thụy Điển (Sida)/ SAREC)
vào thời điểm trước thời “mở cửa”, Việt Nam chi phí về thuốc chỉ đạt nửa
USD/đầu người mỗi năm. Từ khi thực hiện chính sách đổi mới, cùng với sự
thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế, th
ị trường thuốc chữa bệnh phát triển
mạnh mẽ như một sự bùng nổ thực sự. Từ khi nhà nước cho phép mở nhà thuốc
tư và hành nghề y tế tư nhân [5], số lượng các hiệu thuốc đã tăng từ 2000 vào
năm 1989 lên 6000 vào năm 1992. Song đó chỉ là các hiệu thuốc có đăng ký, số
lượng thực tế các điểm bán thuốc tư không có giấy phép, kể cả bác sỹ, y tá,
29
những người không chuyên môn cũng tham gia bán thuốc thì không thể tính
được (Valdelin 1992) [98]. Vào năm 1986, vấn đề chính là sự thiếu thuốc, thì
nay thị trường thuốc phong phú với đủ các chủng loại tràn ngập đã tới mức khó
kiểm soát. Sử dụng thuốc hợp lý đang ngày càng trở thành mối quan tâm lớn
của ngành y tế và cả xã hội [97]:
+ Sự tiêu thụ thuốc quá mức, dùng sai hoặc không cần.
+ Sử dụng các loại thuốc đắt ti
ền không phù hợp với điều kiện kinh tế.
+ Bán các loại thuốc đắt tiền, mà không cần thiết.
+ Bán các sản phẩm chưa đăng ký.
+ Bán các sản phẩm giả hoặc kém chất lượng.
+ Người dân tự điều trị.
+ Kê đơn không đúng.
Sự thay đổi về thị trường thuốc là quá nhanh chóng, từ chỗ chỉ có một số
ít loại thuốc, đến khi khó có thể cân nhắc nên chọn lo
ại thuốc nào trong một bối

là dùng KS không hợp lý [42]. Tìm hiểu về cách dùng KS cho trẻ dưới 5 tuổi
của các bà mẹ ở 2 quận và 2 huyện của Hà Nội, cho thấy: 74% các trường hợp
các bà mẹ tự quyết định dùng KS điều trị các nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp
cho trẻ em (hỏi người bán); hơn 90% KS được dùng dưới 3 ngày [31]. Trong
khi đó, điều tra tại 787 nhà thuốc của Hà Nội thì gần 59% không có chủ thực sự
củ
a nhà thuốc có mặt, 80% không có sổ sách ghi chép xuất nhập, các thuốc độc
bảng A, bảng B được bán tự do không cần có đơn [28].
Kết quả của một số nghiên cứu khác về chăm sóc sức khoẻ ban đầu cũng
cho thấy thực tế việc tự chữa bệnh là cách ứng xử hiện chiếm ưu thế trong dân
cư (65%), ngay cả với những người giàu có cũng có tới 55% thường tự chữa
bệnh [47].
Tình hình sử dụng thuốc bừa bãi đã dẫn đến những hậu quả nghiêm
trọng. Theo báo cáo của trung tâm Nghiên cứu phản ứng có hại của thuốc (ADR
– Adverse Drug Reactions), các tai biến gặp phải do thuốc gây ra chủ yếu do tự
dùng thuốc [38]. Các thuốc gây tai biến nhiều nhất là các KS, corticoid và nhóm
hạ sốt giảm đau chống viêm. Cũng theo Hoàng Tích Huyền (1996), có 4
nguyên nhân chính dẫn đến các tai biến do thuốc đã được báo cáo về trung tâm
ADR như sau:
31
+ Thuốc chỉ có tác dụng nhất thời trong điều trị cơn kịch phát của các
bệnh mạn tính, nhưng đã được dùng kéo dài, quá lạm dụng. Điển hình như
adrenalin trong điều trị hen phế quản, triamcinolon acetonid (K-cort) trong hen
phế quản, các bệnh khớp, bệnh ngoài da…
+ Chỉ định dùng thuốc là đúng, nhưng không được theo dõi kỹ càng hoặc
các thao tác chuyên môn không bảo đảm gây hậu quả nguy hiểm. Điển hình như

dùng các thuốc phối hợp trong điều trị lao (rifampicin + INH + pyrazinamid)
không theo dõi gây hoại tử tế bào gan, hoặc điếc không hồi phục (ví dụ
streptomycin).

ến, nhất là ở các bệnh viện, các cơ sở Y tế. Tự sử dụng và sử dụng quá
nhiều thuốc còn là nguyên nhân làm cho tình hình dị ứng thuốc ngày càng tăng
(không chỉ với các KS). “Việc dùng thuốc nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhất là KS
đã vô tình tạo cho cơ thể trạng thái dị ứng thuốc”.
Ở Việt Nam, đã có nhiều báo cáo điều tra đề cập đến việc sử dụ
ng thuốc
không hợp lý tại các cơ sở y tế, nhất là đối với thuốc KS. Nghiên cứu của
Dương Lệ Quyên và Đỗ Kim Sơn cho thấy có sự lạm dụng KS ở cả bệnh viện
tuyến huyện, tuyến tỉnh và tuyến trung ương [40].Sử dụng KS cho bệnh nhân
nhiễm trùng (BNNT) là một vấn đề rất đáng quan tâm, bởi tỷ lệ sử dụng KS cao
sẽ làm tăng khả nă
ng kháng thuốc của vi khuẩn [54]. Việc KS được sử dụng
phổ biến có thể còn do các bác sĩ kê đơn theo kinh nghiệm và đôi khi họ kê đơn
KS nhằm mục đích phòng bệnh, điều trị theo kiểu bao vây. Kê đơn KS thực tế
phải dựa vào kết quả KS đồ. Đây là một xét nghiệm không được dùng phổ biến
tại Việt Nam do tốn kém và thời gian có kết quả lâu (khoảng 3-5 ngày). Việc kê
đơn KS không dựa vào KS
đồ có thể đã tạo thói quen kê thuốc KS phổ rộng,
phối hợp nhiều thuốc KS cho một bệnh nhân hoặc thay đổi KS trong một đợt
điều trị. Thực tế cho thấy có đến 34,5% bệnh nhân nhiễm trùng dùng KS sử
dụng nhiều hơn 1 loại KS trong 1 đợt điều trị [40]. Việc sử dụng KS chưa hợp
lý còn thể hiện ở việc 9/10 loại KS được kê phổ biến nhất cho b
ệnh nhân nhiễm
trùng là KS phổ rộng.
Trong số 10 loại KS được kê phổ biến nhất, có đến 7 loại thuộc nhóm β-
lactam, một trong những nhóm KS có tỷ lệ kháng thuốc cao. Ngoài ra, còn có
3/10 loại KS (ampicilin, gentamicin và cloramphenicol) là những thuốc phải
dùng thận trọng vì nhiều tai biến [40]. Không những thế có đến hơn một nửa số
đầu thuốc KS được kê (56,5%) là KS dùng theo đường tiêm truyền.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status