ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Nguyễn Viết Hiệp
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG NỒNG ĐỘ ÔZÔN
TẦNG MẶT TRONG KHÔNG KHÍ TẠI MỘT SỐ
KHU VỰC Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Nguyễn Viết Hiệp
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG NỒNG ĐỘ ÔZÔN
TẦNG MẶT TRONG KHÔNG KHÍ TẠI MỘT SỐ
KHU VỰC Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
thành cảm ơn tập thể cán bộ Khoa Sau đại học Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
cùng các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập.
Cảm ơn Trung tâm Quan trắc môi trƣờng đã tạo điều kiện cho tôi tham gia
đề tài "Nghiên cứu xu hướng biến động nồng độ Ôzôn trong không khí tại một số
khu vực của Việt Nam và đề xuất phương án lồng ghép vào mạng lưới quan trắc
môi trường quốc gia”.
Cuối cùng tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè gần xa đã
động viên cổ vũ về vật chất cũng nhƣ tinh thần cho tôi để hoàn thành bản Luận văn này.
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1.1. Một số vấn đề có liên quan đến Ôzôn ..............................................................4
1.2. Tình hình nghiên cứu Ôzôn trên thế giới .........................................................8
1.3. Tình hình nghiên cứu Ôzôn ở Việt Nam ........................................................13
1.4. Tổng quan về giá trị giới hạn nồng độ Ôzôn trong không khí xung quanh ...16
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................22
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................22
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................22
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................22
2.1.3. Địa điểm đặt trạm khí tự động ................................................................22
2.2. Nội dung nghiên cứu ......................................................................................24
2.2.1. Nghiên cứu tổng quan về Ôzôn có liên quan đến đề tài .........................24
2.2.2. Nghiên cứu biến động nồng độ Ôzôn tầng mặt trong không khí thông
qua các số liệu quan trắc môi trường ...............................................................24
2.2.3. Nghiên cứu biến động nồng độ Ôzôn tầng mặt theo không gian và thời
Hình 6 Giao diện chƣơng trình Rstudio ....................................................................28
Hình 7 Giao diện phần mềm Excel ...........................................................................29
Hình 8 Giao diện phần mềm SPSS ...........................................................................30
Hình 9 Biến động nồng độ Ôzôn trung bình ngày tại 3 địa điểm .............................33
Hình 10 Tƣơng quan giữa Ôzôn và Bức xạ tổng tại Hà Nội ....................................34
Hình 11 Tƣơng quan giữa Ôzôn và Bức xạ tổng tại Quảng Ninh ............................35
Hình 12 Tƣơng quan giữa Ôzôn và Bức xạ tổng tại Phú Thọ ..................................35
Hình 13 Diễn biến nồng độ Ôzôn các ngày trong tuần .............................................38
Hình 14 Quan hệ giữa Ôzôn và tỉ số NO2/NO tại Hà Nội ........................................39
Hình 15 Quan hệ giữa Ôzôn và tỉ số NO2/NO tại Phú Thọ ......................................40
Hình 16 Quan hệ giữa nồng độ SO2 và O3 tại Quảng Ninh ......................................40
Hình 17 Diễn biến nồng độ Ôzôn tại 3 địa điểm trong năm, giá trị trung bình theo
từng tháng ..................................................................................................................42
7
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
ảng 1 Lịch sử thay đổi tiêu chuẩn O3 của NAAQS giai đoạn 1971 - 2015 ............17
ảng 2 Hƣớng dẫn chất lƣợng không khí của WHO về nồng độ Ôzôn trong không
khí ..............................................................................................................................18
ảng 3 Tiêu chuẩn chất lƣợng Ôzôn của các nƣớc Châu Á (µg/m3) ........................19
ảng 4 Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí xung quanh ở Việt
Nam ...........................................................................................................................21
ảng 5 Nồng độ Ôzôn tầng mặt trung bình giờ tại các địa điểm nghiên cứu ...........31
ảng 6 Trung bình nồng độ Ôzôn tại các thời điểm trong ngày ...............................32
ảng 7 Giá trị vƣợt ngƣỡng QCVN 05/2013/BTNMT .............................................32
ảng 8 Giá trị trung bình ngày trong tuần các chất ô nhiễm tại Hà Nội (Đơn vị:
μg/m3) .......................................................................................................................36
lớn bị bao quanh bởi lớp bụi dày đặc, ngƣời dân phải đeo khẩu trang mỗi khi ra khỏi
nhà để bảo vệ sức khỏe. Môi trƣờng không khí bị ô nhiễm đang từng ngày ảnh
hƣởng lớn đến cuộc sống, sức khỏe của con ngƣời và các loài sinh vật sinh sống
trên Trái Đất [5].
Các chất và tác nhân gây ô nhiễm không khí bao gồm:
- Các loại oxit nhƣ: nitơ oxit (NO, NO2), nitơ đioxit (NO2), SO2, CO, H2S và
các loại khí halogen (Clo, Crom, Iôt);
- Các hợp chất Flo;
- Các chất tổng hợp (Ete, Benzen);
- Các chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các phân
tử cacbon, sol khí, muội, khói, sƣơng mù, phấn hoa;
- Các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại nhƣ đồng, chì, sắt, kẽm, niken,
thiếc, cađimi; Khí quang hoá (Ôzôn, FAN, F 2N, NOx, anđehyt, etylen...);
- Chất thải phóng xạ, tiếng ồn, nhiệt độ…[8]
Ôzôn (O3) trong khí quyển tập trung cao nhất chủ yếu nằm ở tầng bình lƣu
(khoảng 20 đến 50 km tính từ mặt đất). Tại đây, Ôzôn lọc phần lớn các tia cực tím
từ mặt trời gây hại cho phần lớn các vi sinh vật trên Trái Đất. Ngoài ra, Ôzôn còn
hấp thụ năng lƣợng mặt trời và truyền cho tầng bình lƣu từ đó tầng bình lƣu trao đổi
1
nhiệt với tầng đối lƣu, giữ ấm Trái Đất. Ôzôn nhƣ một tấm khiên chắn bảo vệ con
ngƣời chống lại các tia tử ngoại độc hại, tuy nhiên khi chất khí này ở mặt đất từ 0 –
10 km (còn gọi là Ôzôn tầng đối lƣu hay Ôzôn tầng mặt) lại trở thành chất ô nhiễm,
gây hiệu ứng nhà kính [1].
O3 là một trong những thông số quan trọng gây nên hiệu ứng nhà kính chỉ
đứng sau CO2 và CH4. Mỗi phân tử O3 gia tăng trong khí quyển mạnh hơn khoảng
1.200 - 2.000 lần so với gia tăng phân tử CO2 trong quá trình gây nên hiện tƣợng
ấm lên toàn cầu [4].
lãnh thổ bao gồm: Tây Bắc Bộ (6 tỉnh), Đông
ắc Bộ (9 tỉnh), Đồng Bằng Sông
Hồng (10 tỉnh). Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn phạm vi tại các trạm quan trắc tự
động liên tục của 3 tỉnh (Hà Nội, Quảng Ninh, Phú Thọ). Khu vực nghiên cứu với
đặc trƣng cho địa lý khác nhau (miền núi, đồng bằng và ven biển).
3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu về Ôzôn tầng mặt trên thế giới và ở
Việt Nam
- Nghiên cứu biến động nồng độ Ôzôn tầng mặt theo không gian cụ thể sự
khác biệt về nồng độ tại 03 vị trí đặt trạm quan trắc không khí tự động.
- Nghiên cứu biến động nồng độ Ôzôn tầng mặt theo thời gian trong năm
2014
4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: làm sáng tỏ biến động nồng độ Ôzôn tầng mặt trong
không khí thông qua các yếu tố khí tƣợng và môi trƣờng theo không gian và thời
gian. Cung cấp cơ sở khoa học cho định hƣớng quản lý và kiểm soát ô nhiễm Ôzôn
tầng mặt.
- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả của luận văn sẽ giúp các nhà quản lý của địa
phƣơng nắm rõ đƣợc hiện tƣợng gia tăng nồng độ khí Ôzôn tại tầng đối lƣu.
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số vấn đề có liên quan đến Ôzôn
Tầng đối lƣu là phần thấp nhất của khí quyển của Trái Đất. Phần lớn các hiện
tƣợng thời tiết hàng ngày diễn ra ở tầng đối lƣu. Đặc trƣng của tầng này thể hiện ở
các dòng đối lƣu của không khí nóng từ bề mặt bốc lên cao và lạnh đi, hiện tƣợng
chuẩn, Ôzôn là chất khí có màu xanh nhạt, ít tan trong nƣớc tan nhiều hơn trong
dung môi trơ không phân cực nhƣ cacbontetrachloride hay fluorocarbon và hình
thành nên dung dịch màu xanh. Ôzôn hóa lỏng màu xanh thẫm ở -112°C và hóa rắn
có màu đen ở -193°C. Ôzôn có tính ôxy hóa mạnh hơn ôxy, do nó không bền, dễ
dàng bị phân hủy thành ôxy phân tử và ôxy nguyên tử, có vòng đời ngắn từ nửa giờ
đến một giờ (O3 → O2 + O) [4].
H nh 1 Cấu trúc phân tử Ôzôn
Ôzôn trong không khí của Trái đất đƣợc hình thành từ phản ứng kết hợp oxy
nguyên tử (O3P) và oxy phân tử (O2) (1). Trong tầng bình lƣu, sự quang phân của
O2 bằng bức xạ cực tím bƣớc sóng ngắn (UV) (λ ≤ 240 nm) cung cấp oxy nguyên tử
và tạo điều kiện cho sự hình thành của O3. Trong tầng đối lƣu có ít bức xạ tia cực
tím, sự quang phân của NO2 ở bƣớc sóng ≤ 424 nm (2) trở thành nguồn chính của
các nguyên tử O3P và hình thành nên O3. Khi đã đƣợc hình thành, O3 có thể phản
ứng với NO để tạo ra NO2 (3). Các phản ứng (1 - 3) dẫn đến một chu trình lặp lại
khi không có các chất hóa học khác tham gia [21, 28, 34, 42].
O3P + O2 + M→ O3 + M (1)
NO2 + hv→NO + O3P (2)
O3 + NO→ NO2 + O2 (3)
Tuy nhiên trên thực tế, tầng đối lƣu chứa các chất oxy hóa thay thế (tức là
HO2 và RO2) có thể chuyển NO thành NO2 (4 - 5), dẫn đến sự tích tụ O3. Các phản
ứng 4, 5 và 2 tạo ra một "chu trình NOx" kết quả tạo O3 mà không tiêu thụ NOx.
5
Chu kỳ hóa học quan trọng khác ảnh hƣởng đến quá trình hình thành O3 là chu trình
gốc ROx (ROx = OH + HO2 + RO2) liên tục cung cấp HO2 và RO2 để ôxy hóa NO
thành NO2. Nó thƣờng bắt đầu từ sự thoái hoá của VOCs (Volatile Organic
Ôzôn tầng mặt là một phần nhỏ so với Ôzôn tầng bình lƣu, giữa tầng bình
lƣu và đối lƣu luôn có sự trao đổi nồng độ với nhau nhƣng rất ít. Ôzôn tầng đối lƣu
đƣợc tạo thành từ khí metan thoát ra khỏi đầm lầy và đất liền rồi tác động với khí
NOx trong tự nhiên, các phản ứng của các chất khí dễ bay hơi VOCs, và sự di
chuyển của Ôzôn tại các vùng ô nhiễm [9]. Nồng độ Ôzôn bị ảnh hƣởng bởi cƣờng
độ bức xạ mặt trời, nồng độ NOx và VOCs, tỷ lệ NOx và VOCs [19]. Sự biến đổi
theo ngày và tuần xảy ra khi phản ứng với sự thay đổi ánh sáng mặt trời. Ngoài ra,
sự tích tụ Ôzôn ở tầng mặt xảy ra khi gió biển làm luân chuyển không khí trên một
khu vực kéo theo sự lan truyền của các tiền chất từ khu vực này đến khu vực khác
hoặc khi những sự đảo ngƣợc không khí do nhiệt độ các hợp chất tạo ra sƣơng khói.
Nồng độ tầng Ôzôn cao nhất ở mặt đất đƣợc các nghiên cứu phát hiện buổi chiều,
nồng độ trung bình thƣờng cao nhất vào mùa hè [31]. Nồng độ Ôzôn tầng mặt đạt
giá trị tối đa hiếm khi kéo dài hơn hai đến ba giờ (theo WHO 1979) [36]. Ôzôn tầng
đối lƣu còn đƣợc xem là một khí nhà kính, là nguyên nhân gây nên tình trạng nóng
lên toàn cầu.
Hầu hết các bằng chứng về tác động sức khỏe của tầng Ôzôn đến từ các
nghiên cứu trên động vật và các nghiên cứu lâm sàng đối với một số ngƣời có sự
tiếp xúc ngắn hạn. Các nghiên cứu lâm sàng đã ghi nhận mối liên hệ giữa tiếp xúc
ngắn hạn với nồng độ Ôzôn ở mức độ tập trung (200 - 500) μg/m3 và kích ứng nhẹ
mắt và hô hấp nhƣ các triệu chứng nhƣ ho, khô cổ họng, khó chịu mắt và ngực, đau
ngực và nhức đầu (WHO 1979, 1987) [18, 41]. Đối với trẻ em làm giảm tạm thời
7
chức năng phổi ở mức trung bình mỗi giờ Ôzôn nồng độ trung bình (160 - 300)
μg/m3. Các tác động tƣơng tự đƣợc quan sát thấy sau 2,5 giờ tiếp xúc của ngƣời lớn
và trẻ em tập thể dục nặng với nồng độ 240 μg/m3 (WHO 1987). Tuy nhiên, tổn
thƣơng chức năng phổi đã trở lại và tƣơng đối nhẹ, ngay cả ở nồng độ 360 μg/m3.
Hồi phục hoàn toàn chức năng hô hấp thƣờng xảy ra trong vòng 24 đến 48 giờ sau
thể chất cũng nhƣ các hoạt động ngoài trời để phòng các bệnh đƣờng hô hấp [17].
Mặc dù đã có nhiều năm nghiên cứu và theo dõi đáng kể lƣợng Ôzôn bề mặt
ở quy mô khu vực và toàn cầu, nhƣng các nhà khoa học vẫn chƣa thể trả lời những
câu hỏi cơ bản nhất: Những khu vực nào trên thế giới có ô nhiễm Ôzôn? Ôzôn liệu
có tiếp tục giảm ở các nƣớc có kiểm soát phát thải mạnh? Ôzôn đang tăng ở mức độ
nào trong các nƣớc đang phát triển? Làm thế nào để cộng đồng khoa học khí quyển
có thể tạo điều kiện tiếp cận với các số liệu Ôzôn cần thiết để định lƣợng tác động
của Ôzôn đối với khí hậu, sức khỏe con ngƣời và năng suất cây trồng/sinh thái? [40]
Hiện trạng và diễn biến nồng độ Ôzôn của các khu vực trên thế giới
Để trả lời những câu hỏi này, dự án Hoá học Không khí Toàn cầu (IGAC) đã
công bố “ áo cáo đánh giá Ôzôn tầng đối lƣu – TOAR”: Các chỉ số toàn cầu về
biến đổi khí hậu, sức khỏe con ngƣời và nghiên cứu ảnh hƣởng của Ôzôn tới cây
trồng/hệ sinh thái (www.igacproject.org/TOAR). Khởi đầu vào năm 2014, sứ mệnh
của TOAR là cung cấp cho cộng đồng nghiên cứu những đánh giá khoa học mới
nhất về sự phân bố và xu hƣớng toàn cầu Ôzôn của tầng đối lƣu từ bề mặt tới
tropopause. Mục tiêu chính của TOAR là đánh giá tầng Ôzôn toàn diện đầu tiên dựa
trên tất cả các quan sát Ôzôn bề mặt có sẵn, tài liệu đã đƣợc kiểm tra lại và các phân
tích mới và đánh giá phơi nhiễm Ôzôn các điểm đo lƣờng trên khắp thế giới (đô thị
và phi đô thị) [40].
9
H nh 3 Diễn biến hiện trạng Ôzôn trên thế giới (Nguồn: TOAR)
Biến động nồng độ Ôzôn trung bình 1 giờ trên thế giới giai đoạn 2010-2014
(Hình 3) với việc thu thập dữ liệu từ 4819 trạm quan trắc, các giá trị nồng độ đƣợc
đo bằng ppb (1 ppb O3 = 2 µg/m3 ). Các giá trị đƣa ra bởi 3 khu vực chính là: Châu
Mỹ, Châu Âu và Châu Á. Với mức nền của Ôzôn tại cả 2 khu vực giao động từ (3190) ppb tƣơng đƣơng với (32-180) µg/m3 [33].
Trong thập kỷ trƣớc, các nƣớc có ngành công nghiệp dẫn đầu thế giới nhƣ
gian nhất định. Tại hội thảo thứ ba tại Bern, Thụy Sỹ (Fuhrer và Achermann, 1994),
khái niệm này đã đƣợc thông qua và nồng độ ngƣỡng đƣợc đặt ở mức 40 ppb ~ 80
µg/m3 [23]. Nghiên cứu của Carlos Ordóñez và các cộng sự về Ôzôn tầng mặt tại
Châu Âu theo địa điểm địa lý phân tích tác động của các khối vĩ độ cao và các rặng
núi cận nhiệt đới tới nồng độ Ôzôn tầng mặt tại 3 khu vực núi trung tâm Châu Âu
(Atlantic, ATL, 30-0◦W; European, EUR, 0-30◦ E; Russian, RUS, 30-60◦E), phân
tích kết quả thu đƣợc cho thấy nồng độ khác thƣờng của Ôzôn tại vùng Trung Âu và
Bắc Âu có sự chênh lệch vào khoảng (5 - 10) ppb ~ (10 – 20) µg/m3 [15]. Sự chênh
lệch này còn khác biệt theo mùa, vào mùa đông khi các cơn gió màu bị chặn bởi các
vùng núi thì nồng độ Ôzôn tầng mặt tại Anh, Pháp giảm đi (5 - 10) ppb ~ (10 – 20)
µg/m3. Với các khu vực xa vùng núi trung tâm nồng độ Ôzôn tăng lên bất thƣờng
khoảng 10 µg/m3 phạm vi từ các vùng đảo của Anh tới miền bắc nƣớc Đức. Các
phép đo Ôzôn cuối thế kỷ 19 của Châu Âu từ 1850 - 1900 cho thấy kết quả hầu hết
11
đạt giá trị từ khoảng (17 - 23) ppb ~ (23 – 46) µg/m3, với các dữ liệu thu thập tại
Montsouris, Pháp, giữa năm 1876 và năm 1910, Volz và Kley (1988) mức trung
bình hàng năm từ 5 đến 16 ppb trong toàn giai đoạn là khoảng 11 ppb. Các nghiên
cứu về Ôzôn tầng mặt tại Thụy Sỹ, Ai - Len, Hy Lạp cho thấy nồng độ Ôzôn tại các
nƣớc Châu Âu tăng dần theo hàng năm (1980 - 2003) với mức tăng hàng năm vào
khoảng 8 ppb ƣớc tính vào khoảng 1% mỗi năm, các giá trị nồng độ đƣợc tăng
cƣờng vào mùa hè các ngày có ánh nắng mặt trời, các dữ liệu đƣợc chia theo ngày
và đêm [11, 13, 15]. Theo nghiên cứu về sự biến thiên theo không gian và thời gian
của Ôzôn tầng mặt, NO, NO2 phía Tây Nam bán đảo Iberia - Bồ Đào Nha giai đoạn
2003 – 2006 cho thấy chu kỳ hàng ngày của Ôzôn ở các khu đô thị, ngoại ô và công
nghiệp có giá trị tối đa vào đầu giờ chiều (14:00 - 17:00 giờ UTC) trong khi ở NOx
đạt hai lần đỉnh điểm trong quá trình quan sát, lúc (7:00 - 10:00) giờ và (20:00 22:00) giờ [16].
Các quốc gia ở châu Á cũng bắt đầu quan tâm hơn về vấn đề khí Ôzôn có
trong số liệu quan trắc lớn nhất vào mùa xuân (tháng 3 đến tháng 5: 4,04 ppb/năm
~0,08 µg/m3) và cũng rất lớn trong mùa hè (tháng 6 đến tháng 8: 3,07 ppb/năm ~
6,14 µg/m3); Ngƣợc lại, xu hƣớng tăng tƣơng đối nhỏ vào mùa thu (tháng 9 - 11:
2.29 ppb/năm ~ 4,58 µg/m3) và mùa đông (tháng 12 đến tháng 2: 1,28 ppb/năm ~
2,56 µg/m3). Trong nghiên cứu này, xu hƣớng gia tăng mô phỏng theo bề mặt trung
bình theo mùa O3 cũng lớn hơn trong khí hậu ấm (Mùa xuân - Mùa hè) so với mùa
lạnh (Mùa thu - Mùa đông) [39].
1.3. Tình hình nghiên cứu Ôzôn ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hệ thống các Trạm quan trắc không khí tự động đã đƣợc lắp
đặt, vận hành nhằm cung cấp chuỗi số liệu liên tục, tức thời theo thời gian thực về
chất lƣợng môi trƣờng không khí bảo đảm tính chính xác, kịp thời phục vụ đắc lực
cho công tác quản lý và bảo vệ môi trƣờng.
Tính đến nay, trạm quan trắc không khí tự động, liên tục để kiểm soát chất
lƣợng môi trƣờng không khí xung quanh đã đƣợc đầu tƣ, lắp đặt tại các địa phƣơng
bao gồm: Hà Nội (12 trạm), Tp. Hồ Chí Minh (10 trạm), Quảng Ninh (9 trạm), Hải
Phòng (2 trạm), Phú Thọ (1 trạm), Vĩnh Phúc (3 trạm), Đắc Lắc (1 trạm), Đồng Nai
13
(3 trạm), Huế (1 trạm), Đà Nẵng (2 trạm), Đà Lạt (1 trạm), Pleiku (1 trạm), Cần Thơ
(2 trạm), Sơn La (1 trạm) và Khánh Hòa (1 trạm). Các trạm quan trắc này có quan
trắc nồng độ Ôzôn và số liệu quan trắc không khí tự động cũng đƣợc dùng để tính
toán chỉ số chất lƣợng không khí (AQI) hàng ngày để công bố cho cộng đồng. Chỉ
số AQI tại một số thời điểm của một số trạm ở mức nguy hiểm do thông số Ôzôn
vƣợt ngƣỡng. Tuy nhiên, hầu hết các trạm dừng hoạt động, hoạt động không liên
tục, khả năng truyền về không đáp ứng 80% chất lƣợng dữ liệu và chƣa có nhiều
nghiên cứu thoả đáng vấn đề Ôzôn.
Theo QCVN 05:2013/ TNMT quy định giá trị giới hạn các thông số cơ bản
trong không khí xung quanh có thông số Ôzôn (1 giờ, 8 giờ) và xác định Ôzôn bằng
nghiên cứu đề cập đến các vấn đề nhƣ: Trần Thị Ngọc Lan (2010) “Phƣơng pháp
xác định nồng độ Ôzôn bằng phƣơng pháp hấp thu thụ động tại Thành phố Hồ
Chính Minh” [29]; Vũ Văn Mạnh (2004) “Nghiên cứu tính biến động của tầng
Ôzôn khí quyển phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ
môi trƣờng ở Việt Nam” [9]; Nguyễn Nhƣ
ảo Chính (2013), “Khảo sát mức độ
Ôzôn và các yếu tố tác động đến Ôzôn” [7], không chỉ riêng Ôzôn mà các chất ô
nhiễm không khí thứ cấp khác chƣa đƣợc quan tâm đến. Với tốc độ phát triển kinh
tế xã hội ngày càng mạnh trong tƣơng lai mà công nghệ và hệ thống quản lý môi
trƣờng không theo kịp đà phát triển có thể dẫn đến việc xuất hiện các rủi ro sức
khỏe và môi trƣờng mới hay trầm trọng thêm các vấn đề hiện tại. Lê Hoàng Nghiêm
và Nguyễn Thị Kim Oanh (2009) về “Mô hình dạng lƣới về nồng độ Ôzôn trong
không khí tại các điểm kinh tế ở khu vực Đông Nam Á” [27]. Nghiên cứu này tập
trung vào sự di chuyển của các tiền chất tạo nên O3 và sự vận chuyển của O3 tại các
khu vực có sự ảnh hƣởng của gió mùa, mô hình đƣợc sử dụng là MM5 của CMAQ
dữ liệu đƣợc lấy từ 10 trạm quan trắc khí tự động tại Bangkok và 4 trạm của TP Hồ
Chí Minh. Ngoài ra, ảnh hƣởng của Ôzôn tới năng suất lúa gạo khu vực Miền Đông
Nam Bộ đã đƣợc đề cập trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Oanh
[33]. Với tốc độ phát triển kinh tế xã hội ngày càng mạnh trong tƣơng lai mà công
nghệ và hệ thống quản lý môi trƣờng không theo kịp đà phát triển có thể dẫn đến
việc xuất hiện các rủi ro sức khỏe và môi trƣờng mới hay trầm trọng thêm các vấn
đề hiện tại.
15
1.4. Tổng quan về giá trị giới hạn nồng độ Ôzôn trong không khí xung quanh
Theo Tiêu chuẩn chất lƣợng không khí xung quanh (NAAQS) - dành cho