Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LƢU THỊ HƢƠNG
TÍCH HỢP KIẾN THỨC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12
Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học Địa lí
Mã số: 60 140 111 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phƣơng Liên Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Phương Liên,
người đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn, động viên tác giả trong suốt quá trình
thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn các trường THPT Văn Lãng (Lạng Sơn), Trần
Nhật Duật (Yên Bái), Yên Phong số 2 (Bắc Ninh) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tác giả thực nghiệm sư phạm và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên;
Khoa Địa lí và Khoa Sau đại học trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã tạo
điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này. Tác giả cũng bày tỏ
lòng biết ơn chân thành tới các Thầy, Cô bộ môn Phương pháp khoa Địa lí
trường Đại học sư phạm Thái Nguyên.
Cuối cùng, tác giả bày tỏ lòng biết ơn tới sự giúp đỡ tận tình của các
Thầy, Cô cộng tác thực nghiệm sư phạm, anh chị em đồng nghiệp và những
người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này. Tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
đến mọi người.
Luận văn này được hoàn thành tại bộ môn Phương pháp, Khoa Địa lí,
Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên. Tác giả luận văn
Lƣu Thị Hƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.2.3. Các mức độ tích hợp 39
2.3. Các hình thức tích hợp kiến thức BĐKH trong dạy học Địa lí 12 39
2.3.1. Dạy học nội khóa 39
2.3.2. Dạy học ngoại khóa 40
2.4. Phương pháp dạy học tích hợp kiến thức BĐKH trong môn Địa lí 43
2.4.1. Phương pháp đàm thoại 44
2.4.2. Phương pháp thảo luận 46
2.4.3. Phương pháp giải thích – minh họa 49
2.4.4. Phương pháp dạy học nêu vấn đề 51
2.4.5. Phương pháp dạy học với sự hỗ trợ của CNTT 52
2.4.6. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ 53
2.4.7. Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức địa lí qua số
liệu thống kê và biểu đồ 54
2.4.8. Phương pháp thực địa 58
2.5. Một số giáo án tích hợp kiến thức BĐKH trong dạy học Địa lí lớp 12 60
2.5.1. Giáo án 1 60
2.5.2. Giáo án 2 67
2.5.3. Giáo án 3 74
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 83
3.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 83
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 83
3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm 83
3.2. Nội dung thực nghiệm 84
3.3. Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 84
3.4. Tổ chức thực nghiệm 85
3.4.1. Thời gian thực nghiệm 85
3.4.2. Địa điểm thực nghiệm 85
3.4.3. Phương pháp thực nghiệm 86
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
7
ĐBSH
Đồng bằng sông Hồng
8
ĐC
Đối chứng
9
ĐNA
Đông Nam Á
10
GD - ĐT
Giáo dục - Đào tạo
11
GV
Giáo viên
12
HS
Học sinh
13
IPCC
Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
toàn cầu
14
KT - XH
Kinh tế - Xã hội
15
LHQ
Liên hợp quốc
26
UMO
Tổ chức khí tượng thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1. Lượng khí phát thải trên toàn cầu quy ra CO2 12
Bảng 1.2. Theo dõi tăng khí thải nhà kính ở một số nước 12
Bảng 2.1.Các bài học có khả năng tích hợp kiến thức BĐKH 29
Bảng 2.2. Các thiên tai chủ yếu ở Việt Nam 48
Bảng 2.3. Nhiệt độ trung bình tại một số điểm 55
Bảng 2.4: Sự đa dạng thành phần loài và sự suy giảm số lượng loài thực
vật, động vật 56
Bảng 3.1. Danh sách các trường, lớp, giáo viên thực nghiệm và đối chứng 85
Bảng 3.2. Kết quả điểm kiểm tra bài thực nghiệm số 1 87
Bảng 3.3. Kết quả điểm kiểm tra bài thực nghiệm số 2 88
Bảng 3.4. Kết quả điểm kiểm tra bài thực nghiệm số 3 89
Bảng 3.5. Phân loại trình độ của học sinh TN và ĐC giữa các trường TN 90
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 3.1. Biểu đồ kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 1 87
Hình 3.2. Biểu đồ kết quả kiểm tra bài thực nghiệm số 2 88
o
C trong khi ngưỡng nguy hiểm là
2
o
C. Như vậy, vượt quá ngưỡng này các thảm họa kinh tế, sinh thái và cuộc
sống của con người sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, hằng năm chịu ảnh
hưởng của nhiều thiên tai như các cơn bão nhiệt đới, hạn hán, lũ lụt Trong 50
năm qua, nhiệt độ trung bình tại Việt Nam đã tăng 0,7
o
C, mực nước biển dâng
20cm. Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng của BĐKH, thiên tai bão lụt hạn
hán diễn ra khốc liệt hơn trước.
Theo Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) cảnh báo đến năm 2010,
nếu nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng cao 1 mét sẽ ảnh hưởng đến khoảng 5%
2
đất đai, 10% dân số, thiệt hại 7% giá trị sản xuất nông nghiệp, giảm 10% GDP
của Việt Nam. Riêng ngành kinh tế biển suy giảm nghiêm trọng khoảng 1/3 giá
trị sản xuất. BĐKH tác động mạnh mẽ đến khả năng phát triển đất nước, đến
việc thực hiện các mục tiêu chiến lược trong quá trình hội nhập và phát triển.
Cùng với thế giới, Việt Nam đã và đang đưa ra nhiều biện pháp giảm
thiểu tác nhân gây BĐKH: giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; trồng
và bảo vệ rừng; sử dụng công nghệ sạch đồng thời giáo dục kiến thức cho
các tầng lớp nhân dân trong xã hội đặc biệt thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng
và cấp thiết.
Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Địa lí có liên quan chặt chẽ
đến các vấn đề BĐKH và được xác định là môn học có khả năng giáo dục kiến
thức BĐKH cho học sinh rất hiệu quả. Chương trình Địa lí lớp 12 gắn với Địa
lí Tổ Quốc rất phù hợp với giáo dục BĐKH. Chính các em sẽ trở thành những
Quốc), WMO (Tổ chức khí tượng Thế giới)…
Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về BĐKH như
“Tổng quan về các kịch bản BĐKH toàn cầu và kết quả hội nghị Liên Hợp
Quốc về BĐKH ở Bali” của Nguyễn Khắc Hiếu năm 2008. “Ứng phó với
BĐKH và nước biển dâng” của T.S Nguyễn Ngọc Trân. “Kịch bản BĐKH và
nước biển dâng cho Việt Nam” của T.S Phạm Khôi Nguyên.
Tuy nhiên các tài liệu chưa đưa ra được phương thức giáo dục, nâng cao
nhận thức của cộng đồng trong việc ứng phó và giảm thiểu tác nhân BĐKH.
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các tác giả đi trước, tôi tiến hành
nghiên cứu theo hướng lồng ghép, tích hợp kiến thức BĐKH vào dạy học Địa lí
lớp 12.
4. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm duy vật biện chứng: Phép biện chứng duy vật khẳng định
vật chất có trước và quyết định ý thức.
4
Phép biện chứng gồm 2 nguyên lí cơ bản:
+ Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến: chỉ ra cho các nhà khoa học nghiên
cứu tính vô hạn của thế giới và tính hữu hạn của các sự kiện, hiện tượng cụ thể
và các mối liên hệ phức tạp của chúng. Nguyên lí này đòi hỏi quán triệt tính hệ
thống và tính toàn diện trong nghiên cứu.
+ Nguyên lí về tính phát triển của thế giới: nguyên lí này đòi hỏi trong
nghiên cứu khoa học phải xem xét các sự kiện, hiện tượng trong trạng thái động
và biến đổi không ngừng.
Trong đề tài, tất cả sự vật hiện tượng đều được nhìn nhận bằng hiện thực
khách quan. Dùng hiện thực khách quan để giải thích các khái niệm và quy luật
Địa lí.
- Quan điểm hệ thống: Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trên cơ sở của
mối quan hệ với các sự vật hiện tượng khác. Mọi đối tượng hiện tượng đều có
- Phương pháp thu thập tài liệu: là phương pháp truyền thống và có ý
nghĩa quan trọng đối với mọi công tác nghiên cứu và học tập. Đối với đề tài
nghiên cứu về giáo dục kiến thức BĐKH thì việc thu thập tài liệu càng trở nên
quan trọng. Bao gồm việc thu thập các bài viết, các đề tài nghiên cứu, các bài
báo viết về khí hậu và BĐKH, các phương pháp tích hợp trong dạy học Địa lí.
Đồng thời thu thập kinh nghiệm từ các đồng nghiệp để hoàn thiện thêm cho đề
tài nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Tài liệu sau khi được thu thập
cần tiến hành phân tích, kiểm tra tính xác thực, độ tin cậy của tài liệu. Chọn lọc
và tổng hợp các tư liệu cần thiết để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài. Là
phương pháp được sử dụng từ khi bắt đầu quá trình nghiên cứu cho đến khi hoàn
thiện để đảm bảo tính khoa học, chính xác cho đề tài được nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra khảo sát: Là phương pháp quan trọng trong
nghiên cứu khoa học. Việc thu thập thông tin qua các cuộc phỏng vấn, khảo sát
nhiều đối tượng, nhiều trường giúp cho việc thực hiện đề tài được khách quan.
6
Phương pháp này được tiến hành bằng các câu hỏi điều tra và được chuyển đến
những người có liên quan với đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát:
Là phương pháp cơ bản để nhận thức thực tế khách quan nhằm phát hiện
vấn đề nghiên cứu. Phương pháp quan sát được sử dụng trong nghiên cứu thực
hiện đề tài dưới hình thức dự giờ một số tiết dạy Địa lí 12 có tích hợp BĐKH
của giáo viên.
- Phương pháp thực nghiệm:
Là phương pháp thu thập thông tin được thực hiện bởi những quan sát
trong điều kiện có tác động, làm biến đổi đối tượng khảo sát một cách có chủ
định. Phương pháp khảo sát dùng để kiểm chứng hiệu quả việc tích hợp BĐKH
toàn cầu trong dạy học Địa lí 12.
- Phương pháp toán học:
Như vậy, khí hậu có thể hiểu là:
Khí hậu là mức độ trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian và
không gian nhất định.[25]
1.1.1.2. Biến đổi khí hậu
Tùy thuộc vào tính chất, lĩnh vực, tác động của BĐKH mà có những
quan niệm khác nhau:
- BĐKH toàn cầu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,
thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên
nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định.[25]
- BĐKH là những ảnh hưởng có hại của khí hậu. Là những biến đổi
trong môi trường vật lí hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể
đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên
hoặc đến hoạt động của các hệ thống KT - XH hoặc đến sức khỏe và phúc lợi
của con người.[25]
8
Hiện nay, BĐKH thể hiện ở việc gia tăng nhiệt độ trên bề mặt Trái Đất
dẫn tới hiện tượng băng tan, nước biển dâng và nhiều hiện tượng thời tiết cực
đoan khác.
1.1.1.3. Hiện tượng thời tiết cực đoan
Hiện tượng thời tiết cực đoan là hiện tượng hiếm có ở một nơi cụ thể khi
xem xét phân bố thống kê của nó. Những hiện tượng thời tiết cực đoan thông
thường có tần suất nhỏ hơn 10%. Tính chất thời tiết cực đoan có sự khác nhau
giữa nơi này và nơi khác.[25]
1.1.1.4. Hiện tượng khí hậu cực đoan
Khí hậu cực đoan là trung bình số các hiện tượng cực đoan trong một
khoảng thời gian nhất định trung bình tự nó đã là cực đoan.[25]
1.1.1.5. Hiệu ứng nhà kính
Hiện tượng hiệu ứng nhà kính là quá trình các khí trong khí quyển hấp
thụ và phát ra bức xạ hồng ngoại làm ấm tầng dưới bề mặt của hành tinh.[25]
trực tiếp đến việc tăng hay giảm bức xạ mặt trời mà Trái đất nhận được, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến hoàn lưu khí quyển, đồng thời cũng ảnh hưởng tới hoạt động
của hệ thống băng hà trên Trái đất.
* Hoạt động núi lửa.
Phun trào núi lửa là một quá trình vận chuyển vật liệu từ dưới sâu lòng đất
lên bề mặt, như là một phần của tiến trình mà Trái đất loại bỏ sự quá dư thừa về
nhiệt độ và áp suất bên trong lòng nó. Sự phun trào núi lửa là sự giải phóng ở
các mức độ khác nhau những vật liệu đặc biệt vào trong bầu khí quyển.
Núi lửa cũng là một phần làm gia tăng lượng khí Cacbon có trong khí
quyển. Tuy nhiên, theo sự khảo sát của các đoàn địa chất Hoa Kì, đã ước tính
10
rằng các hoạt động của con người còn tạo ra một khối lượng khí Cacbon nhiều
gấp 130 lần lượng khí được tạo ra do hoạt động núi lửa.
* Ảnh hưởng của con người.
Các hoạt động của con người chính là nguyên nhân làm thay đổi môi
trường. Trong một số trường hợp, chuỗi quan hệ nhân quả đó có ảnh hưởng
trực tiếp và rõ ràng đến khí hậu.
Đó là sự tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến tăng
hiệu ứng nhà kính. Đặc biệt quan trọng là khí điôxit cacbon (CO
2
) được tạo
thành do sử dụng năng lượng từ nguyên liệu hóa thạch (Dầu mỏ, Than đá, Khí
tự nhiên ). Các yếu tố khác, bao gồm cả việc sử dụng đất, lỗ thủng tầng
ôzôn, sản xuất nông nghiệp và nạn phá rừng cũng đóng vai trò quan trọng ảnh
hưởng đến khí hậu.
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Uỷ ban liên chính phủ về BĐKH
(IPCC, 2007), hàm lượng khí CO
2
trong khí quyển năm 2005 đã vượt xa mức
hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng 9% tổng số các khí thải, gây ra lượng bức
xạ cưỡng bức làm nóng lên toàn cầu Đây là những nguyên nhân dẫn đến
BĐKH do hoạt động của con người gây nên.
* Hiệu ứng nhà kính
Trái Đất nhận năng lượng từ Mặt trời dưới dạng các bức xạ sóng ngắn.
Bức xạ sóng ngắn dễ dàng xuyên qua các lớp khí CO
2
và lớp ozone để xuống
mặt đất. Khi xuống mặt đất, một phần của năng lượng này được phản xạ vào
không khí, một phần bị các chất trên mặt đất hấp thu, làm cho bề mặt trái đất
nóng lên. Khi bề mặt Trái Đất nóng lên lại bức xạ năng lượng vào khí quyển
dưới dạng các bức xạ bước sóng dài, chủ yếu là các bức xạ nhiệt. Các bức xạ
sóng dài không có khả năng xuyên qua “khí nhà kính”, gồm khí CO
2
, hơi nước,
CH
4
, các hợp chất chloroflorocacbon (CFC
’
s) và NO
2
. Khí nhà kính có mặt
trong khí quyển sẽ hấp thụ những bức xạ sóng dài, được sưởi nóng và lại phản
xạ ra mọi phía trong đó có phía lên bề mặt của Trái Đất. Kết quả là bề mặt Trái
đất bị ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái đất cũng bị nóng lên. Hiện tượng này được
gọi là “hiệu ứng nhà kính” vì trong quá trình nóng lên của Trái đất tương tự
như quá trình nóng lên trong nhà kính, có sự tăng khí CO
2
và các chất bức xạ
nhân tạo, lớp khí này có tác dụng như lớp kính giữ nhiệt của nhà kính trồng rau
s - chất làm lạnh,
dung môi, thuốc xịt… Một phần tử CFC có thể hấp thụ các tia hồng ngoại gấp
12000 - 16000 lần so với CO
2
.
+ Quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch.
+ Phá rừng làm giảm nguồn hấp thu CO
2
.
+ Sản phẩm phụ của quá trình đốt cháy nylon.
Tác nhân chính gây hiệu ứng nhà kính: CO
2
(50%), CH
4
(13%), N
2
O
(5%), hơi nước (3%); ngoài ra còn có CFC
’
s (24%), CO, NO
x
và hợp chất hữu
cơ dễ bay hơi. Suy thoái lớp ozone do nhiều chất khí CFC
’
s, clo… làm số
lượng tia cực tím (UV) chiếu thẳng vào khí quyển nhiều hơn, là nguyên nhân
gián tiếp thúc đẩy hiệu ứng nhà kính.
Bảng 1.1. Lƣợng khí phát thải trên toàn cầu quy ra CO2
Nguồn
Tỷ tấn
+ 150%
+ 20%
- 20%
+ 11%
+ 38%
Nguồn [25]
Khi các nhà kính vượt quá giới hạn và phát sinh khí nhà kính mới thì
“hiệu ứng nhà kính” gây hậu quả nghiêm trọng. Một trong số hậu quả nghiêm
13
trọng của hiệu ứng nhà kính đó là sự nóng dần lên của Trái đất. Nhiệt độ Trái
đất tăng lên 0,5
o
C (1870 - 1900); đến 1900 - 1940, nhiệt độ trên bề mặt Trái đất
tăng khoảng 0,8
o
C, đã có hiện tượng băng tan ở hai cực, mực nước biển tăng;
khu vực bờ biển mong manh dễ bị tràn ngập sóng gió. Làm khí hậu thay đổi bất
thường, ảnh hưởng đến chế độ mưa toàn cầu, những vùng hiện nay đang có đủ
nước ngọt sẽ lâm vào cảnh thiếu nước ngọt thường xuyên hơn.
1.1.2.2. Biểu hiện
- Thứ nhất: Sự nóng lên của nhiệt độ Trái đất hay sự ấm lên toàn cầu. Tất
cả các trạm đo nhiệt độ đều có thể đo, đánh giá và xác nhận được bằng chứng
về BĐKH. Trong thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã
tăng 0,6 0,2
o
C (1,1 0,4
o
F). Theo các mô hình nghiên cứu trong thế kỷ XXI,
nhiệt độ trung bình của Trái đất có thể tăng lên tới 0,3 - 0,4
lượng và thành phần thủy quyển, sinh quyển và các địa quyển khác.
- Thứ sáu: Sự thay đổi của mùa đông và mùa hè. Mùa đông ngắn lại và
mùa hè có các đợt nóng tăng lên và kéo dài, hạn hán, mưa lũ thất thường không
tuân theo quy luật. Cây trồng có sự thay đổi về mùa thu hoạch, dịch bệnh nhiều
hơn, khó phòng tránh và nguy cơ lây lan cao hơn. Đặc biệt là sự ngập úng của
các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển và sự mở rộng của các sa mạc vùng
cận nhiệt đới…
1.1.3. Tác động của BĐKH
BĐKH là một hiện tượng thời tiết cực đoan, nguy hiểm, ảnh hưởng rất
lớn tới đời sống, sinh hoạt, sản xuất của con người và môi trường xung quanh.
Theo báo cáo của IPCC cho thấy hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới
tăng cường ở Bắc Đại Tây Dương kể từ năm 1970 có sự tương quan với nhiệt
độ nước biển tăng. Mực nước biển dâng khoảng 0,18 - 0,59m đến năm 2040 -
2100 so với năm 1980 - 1990, các tuyến đường thương mại sẽ mở ra do băng ở
Bắc cực co lại, có khả năng làm dòng muối nhiệt co lại, sẽ tăng cường độ các
cơn bão và các hiện tượng thời tiết cực đoan, suy giảm tầng Ozon, thay đổi
phạm vi của các vật chủ trung gian truyền bệnh, làm gia tăng các bênh tật và
làm giảm lượng oxy trong các đại dương, CO
2
trong khí quyển làm tăng lượng
CO
2
hòa tan trong đại dương, CO
2
trong đại dương phản ứng với nước tạo
thành axit Cacbonic gây hiện tượng axit hóa đại dương. Nhiệt và Đioxit cacbon
bị giữ trong Đại dương có thể sẽ cần hàng trăm năm để tái thoát trở lại trong
khí quyển.
15
16
30% vào năm 2070 do quá trình sa mạc hóa đất nông nghiệp. Nhiệt độ trái Đất
sẽ làm tan băng và dâng cao mực nước biển dẫn đến nhiều vùng nông nghiệp
trù phú và các khu dân cư, các đồng bằng lớn ven biển nhất là các vùng đảo
thấp sẽ bị chìm dưới nước. Sự nóng lên của Trái đất làm thay đổi điều kiện
sống bình thường của các loài sinh vật khiến cho một số loài sinh vật bị thu hẹp
về diện tích hoặc bị tuyệt chủng.
+ Trong Lâm nghiệp: BĐKH làm thay đổi diện tích rừng ngập mặn, làm
cho ranh giới phân bố các kiểu rừng nguyên sinh, thứ sinh bị dịch chuyển. Làm
cho các nguồn động thực vật, nguồn gen quý hiếm đứng trước nguy cơ tuyệt
chủng, làm tăng nguy cơ cháy rừng và phát tán dịch bệnh. Khoa học đã chứng
minh rằng nếu nhiệt độ tăng 10
o
C có thể làm biến đổi cấu trúc và chức năng của
rừng. Nhiều loài động vật sống trong rừng trong đố số linh trưởng lớn và gần 9%
các loài cây mà loài người biết đến đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng.
+ Trong Ngư nghiệp: nhiệt độ tăng làm nguồn thuỷ, hải sản bị phân tán
trong đó các loài cá nhiệt đới tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới lại giảm xuống.
Theo IPCC, 20 – 30% các loài động vật, thực vật sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng
cao nếu nhiệt độ tăng lên từ 1,5 – 2,5
0
C kể cả Gấu bắc cực và các loài tôm lấy
nguồn thức ăn từ các rạn san hô. Nhiệt độ và lượng mưa thay đổi làm cho khối
lượng các đàn cá bị giảm sút, trữ lượng các loại hải sản cũng bị giảm sút trầm
trọng. Thiên tai xảy ra liên tục, bất thường làm cho trữ lượng các ngư trường
lớn trên thế giới bị suy giảm.
- Ảnh hưởng đến du lịch: do BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực
đoan, sự bùng phát các dịch bệnh nhiệt đới và khủng hoảng của thảm thực vật
làm ảnh hưởng tới khả năng thu hút và phát triển ngành Du lịch.
- Ảnh hưởng đến đa dạng sinh học: BĐKH ảnh hưởng lớn tới đa dạng