dạy học thơ hai-cư theo thể loại ở trường trung học phổ thông - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THỊ VÂN ANH DẠY HỌC THƠ HAI-CƢ THEO THỂ LOẠI
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Hữu Bội

Thái Nguyên, năm 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi. Các số
liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kì công trình nào khác. Các thông tin, số liệu trích dẫn trong luận
văn đều đã được trích rõ nguồn gốc. Thái Nguyên, tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Vân Anh

XÁC NHẬN
CỦA TRƢỞNG KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ii
CHƢƠNG 2: ĐỊNH HƢỚNG DẠY HỌC CÁC BÀI THƠ HAI-CƢ TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 …………………………………………………………………………….… … …33
2.1 Giới thiệu khái quát các bài thơ hai-cư được lựa chọn vào chương trình và sách
giáo khoa Ngữ văn 10 bậc THPT………………………………………………………………… …………………………….…33
2.2 Định hướng dạy học các bài thơ hai-cư trong chương trình và sách giáo khoa
Ngữ văn 10 bậc THPT………………………………………………………………………………………………………… ………38
2.2.1 Định hướng dạy học của sách giáo viên…………………………………………… ……………… …….…… 38
2.2.2 Định hướng dạy học của sách tham khảo…………………………………………………………………….… 48
2.2.3 Định hướng dạy học của luận văn………………………………………………………………………………… …57
CHƢƠNG 3: THIẾT KẾ DẠY HỌC CÁC BÀI THƠ HAI-CƢ TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10……………………………………….…………………….………………….70
3.1 Thiết kế dạy học các bài thơ hai-cư ở sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Bộ cơ bản)… 70
3.2 Thiết kế dạy học các bài thơ hai-cư ở sách giáo khoa Ngữ văn 10 (Bộ nâng cao)… 86
PHẦN KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………………………………… 98
THƢ MỤC THAM KHẢO…………………………………………………………………………………………………….….… 99 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

THPT: Trung học phổ thông
THCS: Trung học cơ sở
GV : Giáo viên

học sinh khi đến với thơ hai-cư. Bởi thực tế giáo viên và học sinh không biết tiếng
Nhật, vì vậy khó có điều kiện hiểu hết ý nghĩa ngôn từ mang độ hàm súc cao của các
văn bản thơ. Vậy làm sao để dạy thơ hai-cư có hiệu quả? Xuất phát từ thực tiễn đó đã
thôi thúc chúng tôi chọn đề tài “Dạy học thơ hai-cư theo thể loại ở trường THPT”.
- Thơ hai-cư là thể loại thơ cổ của Nhật Bản nên độc giả là học sinh Việt Nam
còn rất xa lạ với thể thơ này. Vậy người giáo viên phải làm thế nào để rút ngắn khoảng
cách, đưa thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay đến được gần hơn với thế giới nghệ thuật vi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2
diệu của thơ hai-cư? Đây là một lí do nữa để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này với
mong muốn góp thêm một tiếng nói, tìm ra giải pháp khắc phục những khó khăn, trăn
trở của giáo viên và học sinh khi đến với thơ hai-cư.
2. Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu thơ hai-cƣ ở Việt Nam
Lịch sử nghiên cứu về thơ hai-cư ở Việt Nam đang dừng lại ở một mức độ khiêm
tốn với lượng sách ít ỏi và một số gương mặt các nhà nghiên cứu, dịch giả tiêu biểu
như: Phan Nhật Chiêu, Vĩnh Sính, Thanh Châu, Đoàn Lê Giang, Hữu Ngọc, Lê Thiện
Dũng, Nguyễn Thị Mai Liên…Những công trình của các tác giả đã cung cấp cho ta
một cái nhìn tương đối toàn diện về thơ hai-cư trên cả hai mặt nội dung và nghệ thuật.
Quy mô nghiên cứu thơ hai-cư bao gồm cả ba hình thức: Dịch thuật, viết sách và viết báo.
Hai công trình đáng chú ý nhất mang tính chuyên sâu về thơ hai-cư là hai cuốn
sách “Ba nghìn thế giới thơm” của Nhật Chiêu (Nxb Văn nghệ, 2007) và “Haikư - Hoa
thời gian” của Lê Từ Hiển và Lưu Đức Trung (Nxb Giáo Dục, 2007). Cuốn “Ba nghìn
thế giới thơm” của Nhật Chiêu tập hợp gần như đầy đủ các bài báo, tạp chí mà ông đã
từng công bố liên quan đến thơ hai-cư và thơ Nhật Bản. Còn cuốn “Haikư - Hoa thời
gian” của Lê Từ Hiển và Lưu Đức Trung là một tài liệu quý dành cho giáo viên, học
sinh THPT và những ai yêu thể thơ độc đáo này. Cuốn sách được chia làm ba phần với
ba nội dung chính: Vài định hướng tiếp cận thơ haikư trong chương trình THPT,

Hai-cư là một thể thơ độc đáo và mới mẻ. Nội dung, nghệ thuật thi pháp thơ hai-
cư vô cùng thâm diệu. Để lôi cuốn người đọc vào thế giới vi diệu của thơ hai-cư vẫn là
câu hỏi bỏ ngỏ. Vì vậy việc dạy và học thơ hai-cư đang trở thành vấn đề gây được sự
chú ý cho giới nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước.
Ta có thể kể tới cuốn “Bashô và thơ haikư”, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đưa ra
phương hướng tiếp cận thơ hai-cư như sau: “Muốn cảm thụ được một bài thơ hai-cư,
muốn nhận biết được cái hay, cái đẹp khác thường của nó, cần tới một sự nỗ lực cảm
thụ bằng trí tưởng tượng phong phú và phóng khoáng, bằng sự suy tưởng gắn liền với
việc khai thác các hình ảnh thị giác, thính giác, kết hợp với sự hiểu biết về văn hoá
Nhật Bản. Đối với người nước ngoài thơ hai-cư không dễ tiếp thu song lại rất quen
thuộc đối với người Nhật Bản. Vì thế đối với người Nhật, Ba-sô là nhà thơ hai-cư tiêu
biểu nhất của đất nước mặt trời mọc”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

4
Trong cuốn “Haikư hoa thời gian” của Lưu Đức Trung. Tác giả đã nêu ra định
hướng tiếp cận thơ hai-cư: “Hãy đọc thơ hai-cư bằng đôi mắt của chính mình, gạt bỏ
mọi suy lí tạp niệm, tinh lọc cảm quan, nhìn vào bản tính của chính mình, biểu hiện
mình, để có được trong đời một nụ cười trong suốt” [12 - 25]. Trên báo “Văn học và
tuổi trẻ” (Số tháng 4 (185) /2009), tác giả Lưu Đức Trung tiếp tục đưa ra một số định
hướng tiếp cận thơ hai-cư trong chương Ngữ văn THPT theo bốn bước: Tích hợp văn
hoá, tiếp cận văn bản, so sánh - đối chiếu, vận dụng - thực hành.
Trong các bài “Nghiên cứu văn học” chúng tôi còn tìm thấy những gợi mở về
phương hướng tiếp cận thơ hai-cư: “Thơ hai-cư ngắn gọn, hàm súc. Mỗi bài thơ chỉ có
ba câu, mười bảy âm tiết thường diễn tả một ấn tượng, một trạng thái tâm hồn thông
qua một âm thanh hình ảnh. Thể thơ này ý ở ngoài lời, trọng tâm thơ là cái mà người
đọc cảm thấy chứ không phải đọc được, không nằm trong câu chữ mà nằm trong cái
nó để trống”. Có thể khẳng định đây là những công trình nghiên cứu có tính chất định
hướng, gợi mở, đưa ra nhiều cách hiểu và khám phá thơ hai-cư rất thiết thực trong

cận và khám phá văn bản thơ hai-cư vừa phù hợp với đặc trưng thể loại, vừa phù hợp
với bạn đọc thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay.
- Tìm ra một phương án tối ưu để dạy học thơ hai-cư cho học sinh Việt Nam ở
bậc THPT.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học của thầy và trò trong giờ học các bài thơ hai-cư trong sách
giáo khoa Ngữ văn 10. Tổ chức dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh các văn bản thơ hai-cư
phù hợp với đặc điểm tiếp nhận của học sinh Việt Nam ngày nay.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Những bài thơ hai-cư của Ba-sô và Bu-son trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 (Bộ
cơ bản và bộ nâng cao).
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu trên bình diện lý thuyết: Về đặc trưng thể loại thơ ha-cư, về
phương pháp dạy học thơ hai-cư.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

6
5.2 Nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu thực tiễn giáo viên với việc dạy thơ hai-cư
và học sinh học thơ hai-cư gặp khó khăn gì? Học sinh Việt Nam hiểu biết, tiếp nhận
thơ hai-cư như thế nào?
5.3 Tổ chức thực nghiệm sƣ phạm: Tiến hành thiết kế bài học.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1 Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp tổng hợp lý luận: Sử dụng phương pháp tổng hợp lý luận nhằm đưa
ra những cơ sở lý luận về thơ hai-cư, đặc trưng của thơ hai-cư, tìm hiểu đặc điểm cảm
thụ của học sinh trung học phổ thông để đưa ra nội dung, phương pháp, biện pháp dạy
học cụ thể về văn bản thơ hai-cư trong sách giáo khoa Ngữ văn 10.
6.2 Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn

1.1.1 Nguồn gốc và quá trình phát triển của thơ hai-cƣ
1.1.1.1 Nguồn gốc thơ hai-cƣ
Hai-cư là một thể thơ độc đáo của xứ sở Phù tang. Cho nên, nói đến văn học
Nhật Bản người ta không quên nói đến thơ hai-cư. Ngày nay, thơ hai-cư không còn là
của riêng dân tộc Nhật Bản mà đã trở thành thể thơ của quốc tế.
Thơ hai-cư chủ yếu bắt nguồn từ thể thơ đoản ca (Tanka) xuất hiện ở thế kỉ XIII.
Đoản ca (Tanka) gồm 31 âm tiết (Onji): 5-7-5-7-7, chia làm hai vế: Vế đầu có ba câu
17 âm tiết (5-7-5), vế sau hai câu 14 âm tiết (7-7). Đoản ca là loại thơ xướng họa. Vế
đầu có một người khởi xướng, vế sau do người khác họa theo, những người sau đó lại
nối tiếp như kiểu của hai người trước, cứ thế mà kéo dài hàng trăm, hàng ngàn câu, sau
này được gọi là liên ca (Renga). Liên ca (Renga) được phổ biến đầu tiên trong cung
đình của các vương gia quý tộc. Nội dung thường mang tính giải trí, mua vui, trào
lộng, nhiều khi dung tục tầm thường. Trong Shuishu “Thập di tập 997” có bài:
“Qua rồi nửa đêm
chờ nhau chi nữa
cho thêm ưu phiền”.
Một tiểu thư đã gửi cho người tình của mình phần đầu bài tanka với ba câu như
trên với ý trách móc người yêu lỗi hẹn. Sau đó, người ấy nhận được và làm tiếp phần
còn lại thành một bài tanka trọn vẹn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

8
“Muốn gặp em trong mộng
nhưng rồi anh ngủ quên”.
Một bài tanka được sáng tác như trên gọi là renga. Về sau, thể thơ này được
nhiều thế hệ thi sĩ sáng tạo, phát triển nên được phổ biến trong các tầng lớp xã hội.
Thơ renga trở thành niềm say mê đến mức được tôn thờ như một tín ngưỡng "Thiêng
liêng hóa". Người ta mua các bài thơ renga từ các nhà thơ đem đến vườn chùa để cầu
phúc trước khi đi chiến đấu hay sinh nở.

nói “Trong vội vã, ta bỏ quên những bông hoa bên giậu ven đường”.
Từ Nhật Bản, thơ hai-cư làm một cuộc du hành sang trời Tây và đã được các nhà
nghiên cứu, các độc giả nồng nhiệt đón nhận. Từ những năm đầu thế kỉ XIX, tại
phương Tây thơ hai-cư bắt đầu được truyền bá ra nước ngoài. Thơ ca phương Tây
trong những tìm kiếm và thể nghiệm của mình đã nhiều lần đi theo phong thái hai-cư.
Người ta dịch thơ hai-cư từ tiếng Nhật, rồi nghiên cứu, khám phá những gì mà linh
hồn thơ hai-cư chất chứa. Giới yêu thơ còn sáng tác thơ hai-cư bằng tiếng dân tộc
mình như nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã viết: “Nói một cách chừng mực hơn, thơ hai-
cư mà Ba-sô đã hoàn thiện bằng thiên tài của mình, trở nên thể thơ quốc tế trong thế kỉ
XX. Bên ngoài Nhật Bản, hai-cư chẳng những được nghiên cứu rộng rãi mà còn được
các nhà thơ ở nhiều xứ khác nhau sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ của mình, trong đó có cả
Paul Eluard của Pháp, Octavio Paz của Tây Ban Nha và George Seferis của Hi Lạp”.
Từ đó, thơ hai-cư quay về lại phương Đông, đến Việt Nam. Ở Việt Nam, từ trước
năm 1945 đến năm 1975, một số nhà thơ lớn như: Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử,
Phạm Văn Ký, Chế Lan Viên đã tiếp cận thơ hai-cư. Sau năm 1975, Nhật Chiêu là
người có nhiều công trình nghiên cứu thơ hai-cư nhất. Tiếp sau Nhật Chiêu phải kể
đến Lưu Đức Trung - là một trong những người khởi xướng dòng thơ hai-cư Việt. Ông
là một trong số rất ít chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam về văn học phương Đông
(Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Lào, Campuchia). Hiện nay ông là người khởi xướng
và thành lập Câu lạc bộ thơ hai-cư Việt. Đã từ rất lâu ở nước ta đã tiếp nhận thơ hai-
cư, tìm hiểu thơ hai-cư, nhưng dùng tiếng việt để sáng tác thể thơ này thì phải đến khi
thành lập Câu lạc bộ thơ hai-cư Việt của Lưu Đức Trung mới có. Ban đầu thơ hai-cư
việt còn lạ lẫm bởi tâm lý chưa quen thưởng thức cái mới, cái lạ. Song, hiện nay tiếng
thơ hai-cư đã gặp được nhiều người đồng cảm, nhanh chóng được cộng hưởng như tìm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

10
được tri kỷ tri âm.Tuy nhiên, so với nền thơ ca đời Đường (Trung Quốc), thơ hai-cư
nói chung, thơ Ba-sô nói riêng được biết tới ở nước ta khá muộn màng. Bởi vì, văn học

Về quý ngữ (Yếu tố mùa): Các nhà thơ hai-cư hầu như lúc nào cũng đưa mùa vào
thơ và các từ ngữ liên hệ đến mùa được gọi là kigo (Quý ngữ). Cách dùng kigo trở thành
quy luật và hầu như các tuyển tập hai-cư đều quen sắp xếp các bài thơ theo từng mùa.
Về đề tài: Đề tài mà thơ hai-cư ưa chuộng là những sự vật nhỏ nhoi như: Bụi
cám, tôm cá, dế mèn…Đó là những cảnh thiên nhiên trộn lẫn với sinh hoạt thường
ngày, có vẻ vô nghĩa nhưng đầy sự sống.
Về cảm thức thẩm mĩ: Hai-cư là thơ ca của cảm thức thẩm mĩ và trực giác tâm
linh: Sabi (Tịch), Wabi (Đà), Karumi (Khinh).
* Trong hiểu biết của ngƣời làm luận văn, thơ hai-cƣ có những đặc điểm về
nội dung nhƣ sau:
- Thơ hai-cư hướng về vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người.
- Thơ hai-cư mang đậm yếu tố Thiền.
1.1.2.1 Thơ hai-cƣ hƣớng về vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con ngƣời
Thơ hai-cư là thơ của thiên nhiên bốn mùa. Mỗi bài thơ chỉ ghi lại một phong
cảnh với một vài sự vật cụ thể thường là những hình ảnh bình dị, quen thuộc với người
Nhật Bản. Đó có thể hình ảnh âm thanh gợi liên tưởng về mùa trong năm hay những từ
ngữ trực tiếp chỉ bốn mùa (Được gọi là quý ngữ). Quý ngữ rất phong phú trong thế
giới hai-cư có thể là violet, ếch, hoa mơ, anh đào cho mùa xuân; đom đóm, ve, cầu
vồng, những cơn mưa cho mùa hạ; lá đỏ, cỏ lau, Asagao (Triệu nhan), trăng cho mùa
thu; tuyết trắng cho mùa đông sự có mặt của quý ngữ khiến cho bài thơ có tính hàm
súc, sức ám thị tinh tế - vốn là đặc trưng quan trọng của thơ hai-cư. Chính cảm thức về
mùa (Quý đề) cho ta cảm nhận được sự hô ứng giữa con người với thiên nhiên, với đất
trời tạo nên một nhất thể lí tưởng: Không gian - thời gian - con người. Trong mỗi bài
thơ, thiên nhiên hiện lên với mọi vẻ đẹp vốn có của nó từ cái ban sơ, mộc mạc đến
những gì tinh tú, kiêu sa, lộng lẫy đầy quyến rũ cũng như sắp đi vào phai tàn và gợi lên
những rung cảm sâu xa trong lòng người. Bằng tài năng của mình các nhà thơ hàng
đầu Nhật Bản về thơ hai-cư đã cho ra đời hàng loạt các bài thơ rực rỡ hương sắc bốn
mùa. Mỗi bài thơ là một bức tranh tuyệt mỹ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

13
mệnh danh là “Thi sĩ mùa xuân”. Thiên nhiên mùa xuân trong thơ Buson thường mộc
mạc, bình dị, hồn nhiên và tươi mát:
"Gần xa đâu đây
nghe tiếng thác chảy
lá non tràn đầy".
Buson miêu tả sức sống của mùa xuân như dòng thác đang chảy, mùa xuân đang
hiển hiện trước mắt ta với lá non đang tràn đầy. Một mùa xuân đang sinh sôi nảy nở,
cây cối đâm chồi nảy lộc.
Thiên nhiên mùa xuân trong thơ ông luôn rạo rực, trữ tình, giàu màu sắc:
“Dưới mưa xuân lất phất
áo tơi và ô
cùng đi”.
Bài thơ hiện ra trước mắt người đọc hình ảnh mưa xuân lất phất. Dưới mưa xuân
có hai người cùng đi, một mặc áo tơi, một che ô. “Áo tơi” trong bài chỉ người con trai,
“Ô” chỉ người con gái. Đôi tình nhân này đang sánh vai cùng nhau đi trong mưa xuân.
Đọc những vần thơ viết về mùa xuân của thi sĩ Buson chúng ta lại càng thêm yêu hơn
thiên nhiên, cuộc sống và không khỏi rạo rực lòng mình.
Thơ hai-cư không chỉ phản chiếu thiên nhiên bốn mùa mà còn phản chiếu biết
bao điều về cuộc sống của con người.
Đó là ước mơ bình dị được đi, được hòa vào thiên nhiên của thi sĩ Ba-sô:
“Đi nữa bạn ơi
ngắm nhìn tuyết đổ
cho dầu ta rơi”.
Đó còn là nỗi nhớ quê hương da diết của thi nhân trên những bước đường phiêu lãng:
“Chim đỗ quyên hót
ở Kinh đô
mà nhớ Kinh đô”.

những chìa khóa để mở cánh cửa bước vào thế giới bí ẩn của thơ hai-cư.
* Nguồn gốc của Thiền:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

15
Thiền Tông là một tông phái của Phật giáo phát triển trên lãnh thổ Trung Hoa
(Thế kỷ VI). Bước sang thế kỷ XII, từ Trung Quốc thiền được du nhập vào Nhật Bản
bởi Eisaimycan - một vị cao tăng được coi là cha đẻ của nghề trồng chè và Thiền tông
Nhật Bản. Thiền tông thuộc phật giáo Đại thừa vào Nhật Bản ngay từ thời Nara và
hưng thịnh nhờ Thái tử Shotoku, rất nhiều triều đại Nhật Bản đã lấy phật giáo làm tư
tưởng chủ đạo để phát triển. Trong giáo lí của đạo phật có nhiều kiến giải tiến bộ, dạy
con người ta cách sống nhân nghĩa, đồng đẳng và bác ái. Có thể nói phật giáo có vị trí
ảnh hưởng sâu sắc tới nền văn hóa cũng như nền nghệ thuật Nhật Bản. Thiền tông
không chỉ là tôn giáo mà trở thành triết lí sống, chi phối nhiều phương diện văn hóa,
nghệ thuật xứ hoa anh đào: Hội họa (Tranh mặc hội), điêu khắc, kiến trúc, kịch Nô, nội
thất, trà đạo, hoa đạo, kiếm đạo, cung thuật…Đặc biệt dưới ảnh hưởng của tinh thần
Phật giáo Thiền tông, một khu vực văn học Phật giáo Thiền đã hình thành và phát triển
vô cùng độc đáo bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam và Nhật Bản.
* Biểu hiện của Thiền trong thơ hai-cư
Thơ hai-cư nhuốm màu Thiền. Chính điều này góp phần tạo nên tính đặc sắc của
thơ hai-cư và khiến nó trở thành một thể thơ độc đáo. Sau đây là một số biểu hiện của
Thiền trong thơ hai-cư:
Theo quan niệm của Phật giáo Thiền tông: “Vạn vật tồn tại trong một mối tương
giao và hòa hợp”. Sự giao hòa của vạn vật thể hiện ngay chính trong bản thân con
người. Muối biển hòa trong máu, vôi đá tích trong xương, huyết nhục muôn ngàn
giống loài sinh vật ngấm trong từng tế bào… ánh nắng mặt trời rạng ngời trong nụ
cười của ta, hoa nở mở rộng lòng ta.
Chiyo - mi tức ni cô Chiyo (1703 - 1775) có viết một bài hai-cư rất nổi tiếng:
“Một nhành bìm bìm hoa tím

những đám mây anh đào hồng nhạt mùa xuân, thảm xanh của cánh đồng mùa hạ, sắc
đỏ thắm của lá momizi mùa thu, những bông tuyết trắng mùa đông. Thiên nhiên có sự
tương phản giữa rực rỡ và tàn phai:
“Từ bốn phương trời xa
cánh hoa đào lả tả
gợn song hồ Bi-oa”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

17
Không chỉ thiên nhiên mà con người cũng không nằm ngoài triết lí vô thường:
“Lệ trào nóng hổi
tan trên tay tóc mẹ
làn sương thu”.
Sau chuyến đi vượt gió bể mưa ngàn nhà thơ đã quay trở về quê hương. Nhưng
lúc này người mẹ đã qua đời. Cầm trên tay mớ tóc bạc của người mẹ, Ba-sô trào dâng
niềm thương cảm. Hai hình ảnh giọt lệ và sương thu gợi ra sự mong manh, dễ vỡ, càng
tô đậm tính chất vô thường trong cuộc đời con người. Có thể thấy trong thơ hai-cư triết
lí vô thường, con người và vạn vật trong mối tương giao hòa hợp đều nhuốm hương vị
Thiền. Chính điều này đã làm nên sự khác biệt của thơ hai-cư so với các thể loại thơ khác.
Thiền học còn quan niệm tất cả những thực thể tồn tại trong thiên nhiên đều có
linh hồn. Người Nhật tin rằng vạn vật đều có linh hồn - tức những sức mạnh bên trong
của chúng. Linh hồn đó được gọi là Kami. Mỗi nhánh cây, ngọn cỏ, hòn đá, dòng sông
đều có Kami (Thần) trong đó. Vậy nên người Nhật tôn thờ mọi thứ thuộc về tự nhiên.
Thần đạo cũng như bản tính của người Nhật luôn lấy tự nhiên làm gốc. Chính điều đó
đã tạo nên cho người Nhật tình yêu và thái độ nâng niu trân trọng những tạo vật nhỏ bé
nhất của đất trời:
“Quanh chiếc cối xay
trên mình cúc trắng
chút bụi cám bay

Thật đúng khi cho rằng linh hồn của thơ hai-cư rút cục ở chỗ: "Thơ hai-cư là thơ
của khoảnh khắc bừng ngộ (Đốn ngộ) để nhận ra chân lí giản dị, sâu xa về con người
và vạn vật trong cái nhìn "Chân như", cái nhìn "Nhất thể hóa".
Trong Phật giáo Thiền tông còn xuất hiện khái niệm "Hư không" . Thâm nhập
vào thơ hai-cư, khái niệm hư không của Phập giáo Thiền tông được các nhà thơ sử dụng
để kiến tạo nên một thi pháp đặc trưng chủ yếu của thể thơ này: Kết cấu chân không.
Kết cấu chân không trong thơ hai-cư có ảnh hưởng từ cách tạo hình trong hội họa
đó là: Tranh thủy mặc của Trung Quốc và tranh mặc hội của Nhật bản. Hai thể loại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

19
tranh này thường rất đơn sơ với một vài đường nét giàu sức gợi, còn gọi là khoảng
trống không gian. Gọi là khoảng trống bởi trong khoảng không gian đó ta không nhận
thấy bất cứ hình thể hay sắc tướng nào. Khoảng không gian ấy không phải là chân
không trống rỗng tuyệt đối như của tờ giấy trắng hay phông nền trắng tinh mà đó là
vùng không gian của hoạt động giao cảm và chiêm nghiệm.
Ngay cả trong những hình ảnh, từ ngữ cũng thường có khoảng trống buộc người
đọc phải tưởng tượng để tìm sợi dây kết nối chúng lại với nhau. Từ những khoảng hư
không người đọc có thể liên tưởng để nhận ra ý nghĩa ẩn chứa trong bài thơ:
"Đá trên núi đá
sắc trắng còn thua
gió mùa thu".
Thi sĩ Ba-sô chỉ chấm phá một vài hình ảnh như: Đá, núi đá, trắng, gió. Từ những
hình ảnh đơn sơ, gần gũi để người đọc thả hồn mình liên tưởng đến một không gian rất
nhiều đá, đá chất chồng khiến cho sắc trắng được tô đậm. Nhưng sắc trắng đó còn thua
sắc trắng của gió mùa thu. Nhà thơ đã thị giác hóa màu của gió để từ một sự vật không
màu Ba-sô đã gọi tên "Màu của gió". Không gian núi đá lạnh lẽo (Cố định) còn không
gian của gió (Di chuyển). Khi ngọn gió lan tỏa đến đâu thì sắc trắng lan tỏa đến đó.
Khoảnh khắc ấy phải tĩnh lặng thì người đọc mới cảm nhận được sắc trắng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status