nông thôn việt nam thời lê sơ (1428-1527) - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM MA THỊ VUI NÔNG THÔN VIỆT NAM THỜI LÊ SƠ
(1428 - 1527)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƢƠNG CHI Thái Nguyên, 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu i

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS. TS
Nguyễn Thị Phương Chi đã tận tình hướng dẫn và động viên tinh thần cho tác
giả trong quá trình hoàn thành luận văn.
Tác giả xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử trường
ĐHSP Thái Nguyên, Phòng tư liệu Viện sử học Việt Nam, Thư viện Quốc
gia… đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành
luận văn này.
Tác giả xin cảm ơn những đánh giá, nhận xét của Hội đồng khoa học bảo

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CẤU TRÚC XÃ HỘI - CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN
THỜI LÊ SƠ 8
1.1. Bối cảnh chính trị, xã hội Đại Việt thời Lê sơ 8
1.2. Tổ chức chính quyền ở nông thôn. 14
1.3. Các tổ chức xã hội ở nông thôn 25
1.4. Các tầng lớp xã hội ở nông thôn 31
Chƣơng 2. KINH TẾ Ở NÔNG THÔN THỜI LÊ SƠ 35
2.1. Chế độ ruộng đất của làng xã ở nông thôn thời Lê sơ. 35
2.2. Sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân 46
2.3. Nghề thủ công và buôn bán nhỏ. 52
2.4. Giao thông và phương tiện đi lại. 63
Chƣơng 3. VĂN HÓA Ở NÔNG THÔN THỜI LÊ SƠ 66
3.1. Phong tục, tập quán và tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn 66
3.2. Văn học, nghệ thuật và giáo dục ở nông thôn 77
3.3. Nhà ở, ăn, mặc của người dân ở nông thôn 90
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 1
MỞ ĐẦU

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 2
bản và toàn diện về tình hình kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân cũng như lý
giải được nhiều vấn đề liên quan như tập quán sản xuất, tập quán sinh hoạt, các
mối quan hệ xã hội cũng như sự phân hóa giai cấp trong xã hội, thịnh suy của
triều đại phong kiến…Qua đó chúng ta có cái nhìn biện chứng mối liên hệ nhất
định của nông thôn Việt Nam quá khứ, hiện tại và tương lai.
Ngày nay trong quá trình đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội với mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì vấn đề xây dựng
thành công nông thôn mới mà Đảng và Nhà nước đưa ra sẽ trở thành thước đo
quan trọng. Vị trí chiến lược của khu vực nông thôn và vấn đề xây dựng nông
thôn mới trong thời gian gần đây được Đảng và toàn xã hội quan tâm đặc biệt.
Nhưng để phấn đấu xây dựng thành công mô hình nông thôn mới hiện tại và
tương lai thì chúng ta phải xem xét vấn đề này trong tổng hòa các mối quan hệ.
Trong đó những bài học lịch sử, nhất là vấn đề nông thôn Việt Nam dưới các triều
đại phong kiến, ngày nay vẫn có mối quan hệ mật thiết và ý nghĩa nhất định.
Việc nghiên cứu về tình hình nông thôn Việt Nam dưới một triều đại
phong kiến nhất định có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tìm hiểu về các vấn
đề chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa và xã hội. Vì vậy tôi quyết định chọn đề
tài: “Nông thôn Việt Nam thời Lê sơ (1428- 1527)” làm đề tài luận văn thạc sĩ
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Triều Lê sơ được thành lập sau khi cuộc kháng chiến chống quân xâm
lược Minh giành thành thắng lợi năm 1428. Trải qua 100 năm tồn tại triều Lê
sơ đã có nhiều đóng góp lớn lao đối với lịch sử dân tộc đặc biệt trong thế kỉ
XV. Đồng thời chính triều đại đó đã đưa chế độ phong kiến Đại Việt phát triển
đến đỉnh cao, cường thịnh từ chính trị đến kinh tế, văn hóa giáo dục - khoa
cử Thậm chí suốt mấy thế kỉ sau đó các triều đại phong kiến Việt Nam đã cố

kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật, giáo dục khoa cử các triều đại trong lịch sử
trong đó có triều Lê sơ.
Bên cạnh đó cần phải kể đến một số chuyên khảo mà nội dung có liên
quan ít nhiều đến đề tài, tiêu biểu là cuốn“Chế độ ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp thời Lê sơ” của tác giả Phan Huy Lê (NXB Văn - Sử - Địa Hà Nội
1959). Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày những nét lớn về chính sách
ruộng đất và tình hình kinh tế nông nghiệp của nhà nước Lê sơ thế kỷ XV - một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 4
khía cạnh của nông thôn. Nguồn tư liệu chủ yếu của tác phẩm là các bộ sử cũ
của các sử gia phong kiến. Cuốn Kinh nghiệm quản lý nông thôn Việt Nam
trong lịch sử, tác giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1994). Cuốn Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ
thế kỉ XV đến thời Pháp thuộc, tác giả Vũ Văn Quân, (NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1998); Bài viết Vài nét về tình hình khẩn hoang ở Thanh Hoá thời Lê
sơ, trong sách: Thanh Hoá thời Lê Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh
Hoá xuất bản tác giả Nguyễn Thị Phương Chi (1998).
Ngoài ra còn phải kể đến các công trình như: Chính sách về xã hội của
nhà nước thời Lê sơ (1428- 1527), Luận án tiến sĩ, Hà Nội năm 2011 của tác
giả Lê Ngọc Tạo.
Cùng với các cuốn sách và luận án nói trên còn nhiều bài viết đề cập đến
vấn đề này được đăng tải trên các Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu kinh
tế, Dân tộc học có thể kể đến: Nguyễn Khắc Đạm “Vấn đề ruộng đất trong lịch
sử Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 65/1965; Nguyễn Đổng Chi “Chế
độ nô tỳ thời Lê sơ và tác dụng của phong trào quần chúng ở các thế kỷ XIV và
đầu thế kỷ XV”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, (99), tr. 34- 40 (1967); Phan Huy
Lê “Chế độ ban cấp ruộng đất thời Lê sơ và tính chất sở hữu của các loại
ruộng đất thế nghiệp”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 199 (1981); Phan Đại

3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về nông thôn Việt Nam dưới
triều đại Lê sơ (1428- 1527). Trong đó chủ yếu đề cập đến tình hình kinh tế,
văn hóa, xã hội ở nông thôn thời Lê sơ
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Trong phạm vi đề tài: Nông thôn Việt Nam thời Lê sơ luận
văn sẽ đi tìm hiểu khai thác ở các khía cạnh chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa
nông thôn thời Lê sơ
Về thời gian: Từ khi triều Lê sơ xác lập - 1428 đến khi kết thúc năm 1527
Về không gian:
- Phạm vi đất nước Việt Nam thời Lê sơ bao gồm khu vực Bắc bộ và
toàn bộ khu vực từ Thanh Hóa cho đến Quảng Nam ngày nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 6
- Phạm vi xung quanh kinh thành Thăng Long mà người dân sinh sống
chủ yếu bằng nghề nông thì vẫn thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài. Còn kinh
thành Thăng Long không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài tuy nhiên những
mối quan hệ đặc biệt là quan hệ giao lưu buôn bán giữa người nông dân với
kinh thành thì chúng tôi vẫn tiến hành nghiên cứu ở khía cạnh kinh tế của khu
vực nông thôn thời kì này.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Luận văn tìm hiểu về tình hình mọi mặt bao gồm từ chính trị - xã hội đến
kinh tế văn hóa ở nông thôn thời Lê sơ
Đồng thời thông qua đó đề tài cố gắng tái hiện bức tranh toàn cảnh về
nông thôn Việt Nam thời phong kiến dưới triều Lê sơ. Tìm hiểu những nét đặc
thù của nông thôn Việt Nam thời Lê sơ, và thông qua các khía cạnh kinh tế,
chính trị, văn hóa xã hội đề tài sẽ có câu trả lời khách quan đúng đắn về
những ưu điểm và hạn chế của nông thôn Việt Nam thời kì này. Đồng thời thấy

Chƣơng 2: Kinh tế ở nông thôn thời Lê sơ
Chƣơng 3: Văn hóa ở nông thôn thời Lê sơ.
Trong luận văn còn có các phần: Mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 8
Chƣơng 1
CẤU TRÚC XÃ HỘI - CHÍNH TRỊ Ở NÔNG THÔN THỜI LÊ SƠ

1.1. Bối cảnh chính trị, xã hội Đại Việt thời Lê sơ
Xã hội Đại Việt cuối thế kỉ XIV lâm vào tình trạng chính trị khủng hoảng
sâu sắc: kinh tế nông nghiệp sa sút nghiêm trọng, xã hội bất ổn định, khởi nghĩa
nông dân bùng nổ. Bên cạnh đó, Đại Việt lại đứng trước nguy cơ ngoại xâm
ngày càng đến gần. Phía Nam, Chăm-pa thường xuyên cho quân đánh phá, phía
Bắc nhà Minh lăm le chuẩn bị cho quân sang xâm lược.
Trước tình hình đó, năm 1406 nhà Minh đem quân xâm lược Đại Việt, với
“binh cường, lực mạnh” nhà Minh nhanh chóng đánh bại nhà Hồ. Sau cuộc
kháng chiến chống quân xâm lược Minh của nhà Hồ bị thất bại, đất nước rơi
vào ách đô hộ của nhà Minh trong hai mươi năm (1407-1427). Khởi nghĩa Lam
Sơn dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy nghĩa quân đã
cùng với nhân dân cả nước đánh bại quân Minh xâm lược. Đất nước thanh
bình, vương triều Lê sơ độc lập tự chủ được thiết lập. Nhà Lê sơ thực hiện các
chính sách nhằm khôi phục, ổn định và phát triển đất nước.
Thời Lê sơ được tính từ khi Lê Lợi lên ngôi (1428) đến khi Mạc Đăng Dung
cướp ngôi (1527), gồm 11 đời vua, trong đó Lê Thái Tổ là người sáng lập, Lê
Thánh Tông là người đưa vương triều Lê sơ đến giai đoạn thịnh đạt nhất.
Một công việc thiết yếu mà các vua thời Lê sơ đều quan tâm và cố gắng
thực hiện là kiện toàn bộ máy nhà nước quân chủ tập trung, mang tính quan
liêu chuyên chế. Đến thời Lê Thánh Tông (1460-1497) đạt tới đỉnh cao, trở

Hệ thống hành chính thời Lê Thánh Tông được tổ chức chặt chẽ, thống
nhất từ trung ương đến địa phương. Chủ trương của Lê Thánh Tông là đảm bảo
sự thống nhất trong chính quyền từ trên xuống dưới, từ trung ương đến địa
phương, "các chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng giữ gìn nhau,
lẽ phải của nước không bị chuyện riêng, việc lớn của nước không đến lung lay,
khiến có thói tốt làm hợp đạo đúng phép, không có lầm lỗi làm trái nghĩa phạm
hình, để theo trọn các chí của thánh tổ thần tông ta, mà giữ được trị an lâu
dài"[ 6; 482]
Các chức tể tướng, bộc xạ, tư đồ đều bị bãi bỏ. Vua trực tiếp điều khiển 6
bộ: bộ binh, hình, lễ, lại, công, hộ. Đứng đầu là thượng thư, giúp việc có 2 thị
lang. Đây là cơ quan chính phụ trách mọi công tác của triều đình. Giúp việc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 10
cho các bộ còn có 6 tự. Để giám sát hoạt động của quan lại nói chung có ngự sử
đài và 6 khoa tương ứng với 6 bộ. Hàn lâm viện và Quốc tử giám được giữ
nguyên như các triều đại trước. Quá trình tuyển chọn quan lại qua nhiều đường
khác nhau: tập ấm, tuyển cử , chủ yếu là khoa cử.
Dưới thời vua Lê Thánh Tông đã tuyển chọn đội ngũ quan lại có năng lực
làm việc trong bộ máy nhà nước. Để tạo điều kiện cho quan lại trung thành với
nhà vua, Lê Thánh Tông đặt quy chế lương bổng, ruộng lộc, phẩm tước rõ ràng
thống nhất.
Nếu so sánh với những triều vua thời Lý- Trần, hệ thống hành chính quốc
gia thời Lê sơ, đặc biệt ở thời Lê Thánh Tông đã thể hiện một bước tiến cơ bản.
Có thể nói nó đã đạt đến đỉnh cao của mô hình Nhà nước quân chủ chuyên chế,
quan liêu. Vua tuy vẫn giữ những chức năng cơ bản của thời trước nhưng với
quyền lực tập trung hơn, quyết đoán hơn. Trong thiết chế quân chủ tuyệt đối
thời Lê sơ, vai trò của nhà vua được đẩy lên rất cao với chủ nghĩa "tôn quyền".
Theo đó, nhà vua là "con trời", người giữ mệnh trời, thay trời cai trị dân. Vua là

Đặc biệt là nhiều điều luật trong "Điền sản" nhằm bảo vệ tô thuế của nhà
nước, nghiêm cấm và trừng phạt những hành vi xâm lấn, chiếm đoạt ruộng đất
công. Luật Hồng Đức giành nhiều điều quy định chi tiết về việc sở hữu ruộng
đất, nguyên tắc mua bán, cầm cố ruộng đất nhằm bảo vệ quyền tư hữu tài sản;
trước hết quyền tư hữu ruộng đất và bóc lột địa tô của giai cấp địa chủ. Ví dụ:
Điều 341: Bán ruộng đất quan thụ và ruộng đất khẩu phân bị phạt 60 trượng,
biếm 2 tư, người viết thay hoặc chứng kiến (tội cũng như thế) giảm một bậc;
truy nguyên tiền và ruộng đất nộp cho nhà nước. Bán đợ thì phạt 60 trượng,
cho chuộc lại; Điều 342: Chiếm ruộng đất công quá hạn (bị phạt như sau: 1
mẫu bị 80 trượng, 10 mẫu bị biếm 10 tư, tội chỉ đến biếm 3 tư; truy tiền hoa lợi
ruộng đất nộp cho nhà nước. Nếu khẩn đất hoang thì không bị tội; Điều 343:
Nhận càn ruộng đất (bị phạt như sau), 1 mẫu trở xuống bị biếm 1 tư, 5 mẫu trở
xuống bị biếm 2 tư, 10 mẫu trở xuống bị biếm 3 tư, tội chỉ đến đồ khao đinh.
Lấn giới hạn (ruộng đất) bị biếm 1 tư và bồi thường tiền hoa lợi tăng thêm
1/10. Nếu là ruộng đất công (tội) gia thêm 1 bậc, bồi thường tiền hoa lợi tăng
thêm 2/10. Người giám đương không biết cáo giác bị biếm 1 tư, mất quyền
giám đương. [36; 191-192]
Chính sách quản lý ruộng đất của nhà Lê sơ đã được thực hiện quy củ,
chặt chẽ, hiệu quả thông qua các điều luật trong "Điền sản chương", góp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 12
phần bảo vệ lợi ích nhà nước phong kiến, đặc biệt là quyền sở hữu tối cao về
ruộng đất.
Bộ luật cũng bảo vệ lợi ích của giai cấp phong kiến, đặc quyền của tầng
lớp quý tộc; đồng thời củng cố trật tự xã hội phong kiến, bảo vệ chế độ gia tộc
phụ quyền và các nguyên tắc về đạo đức phong kiến. Những tội "ác
nghịch","bất hiếu","bất mục" đều bị ghép vào tội thập ác.
Trong Quốc triều hình luật có những điều luật nhằm bài trừ nạn tham

Quân đội ở các đơn vị cũng được quy định thống nhất, mỗi ti gồm 100
người, mỗi sở gồm 400 người, chia làm 20 đội, mỗi đội 30 người.
Cũng như thời Lí - Trần, nhà Lê sơ thực hiện chính sách "Ngụ binh ư
nông" cho quân lính thay phiên nhau về nhà làm ruộng. Dưới thời Thánh Tông,
chế độ tập luyện của quân đội được quy định chặt chẽ. Tất cả các hạng quân
đội đều được theo bậc cấp ruộng đất công xã ở xã thôn từ 8,5 đến 4 phần. Các
võ quan được cấp lộc điền bổng lộc như các tầng lớp quan lại khác.
Trên cơ sở một đội quân mạnh, nhà Lê tiến hành chính sách biên giới rất
cương quyết. Các nước láng giềng ở phía Tây và Nam như Ai Lao, Chân Lạp
mỗi lần xâm lấn bờ cõi đều lập tức bị đánh tan.
Để quản lý và khống chế các tù trưởng thiểu số, triều đình nhà Lê đã áp
dụng những biện pháp như trấn áp và phủ dụ. Triều đình đã cử phần tử trung
kiên nhất lên miền núi chiêu dân lập ấp đời đời cai trị địa phương. Họ biến
thành dòng họ "phiên thần". Chính sách này đã có tác dụng rất lớn trong việc
bảo vệ biên cương tổ quốc, tạo ra sự giao thoa văn hóa giữa miền xuôi và miền
ngược, quá trình tộc người thông qua quan hệ hôn nhân có sự giao thoa.
Nhà vua cũng cho điều tra và lập sổ hộ khẩu, khảo sát địa hình, lập bản đồ
hành chính quốc gia, đề cao tôn vinh truyền thống dân tộc và các danh nhân
văn hóa. Nhờ có lực lượng quân đội hùng mạnh và chính sách ngoại giao
cương quyết, thời Lê sơ cương giới lãnh thổ Tổ quốc được gìn giữ, bảo vệ. Đại
Việt trở thành một quốc gia có uy thế trong khu vực Đông Nam Á.
Trải qua các triều đại Đinh -Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ, Lê sơ, chế độ quân chủ
chuyên chế từng bước được hoàn thiện cùng với các thiết chế chính trị, kinh tế-
xã hội. Đến thời Lê Thánh Tông (1460-1497), với cuộc cải cách hành chính
lớn, nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền phong kiến đạt trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 14
độ tiên tiến đồng thời cũng khẳng định vai trò thống trị của giai cấp địa chủ

15
Thiên Trƣờng/Sơn Nam
Vốn có tên là thừa tuyên Thiên Trường, năm 1469 đổi thành thừa tuyên
Sơn Nam. Năm 1490 đổi làm xứ Sơn Nam, sang đời Lê Uy Mục lại gọi là trấn
Sơn Nam
1
.
Bắc Giang/Kinh Bắc: Thời Lê Thái Tông vốn là 2 đạo Bắc Giang
thượng và Bắc Giang hạ, năm 1466 đổi là thừa tuyên Bắc Giang, năm 1469 đổi
là thừa tuyên Kinh Bắc, thời Lê Tương Dực đổi là trấn Kinh Bắc
2
.

1
Gồm có:
Phủ Thường Tín: gồm các huyện Thanh Trì (nay là một phần huyện Thanh Trì, quận Hoàng Mai, một
phần quận Hai Bà Trưng, quận Đống Đa và quận Thanh Xuân Hà Nội), Thượng Phúc (huyện Thường Tín và
một phần huyện Thanh Trì, Hà Nội hiện nay), Phù Vân (đến thời Lê Chiêu Tông đổi là huyện Phú Nguyên, nay
là huyện Phú Xuyên, Hà Nội)
Phủ Ứng Thiên, gồm có các huyện: Thanh Oai (nay là huyện Thanh Oai và một phần quận Hà Đông,
Hà Nội), Chương Đức (tức huyện Chương Mỹ và một phần quận Hà Đông, Hà Nội), Sơn Minh (tức huyện Ứng
Hòa, Hà Tây cũ), Hoài An (phần nam huyện Ứng Hòa và một phần huyện Mỹ Đức, Hà Nội).
Phủ Lý Nhân: tương đương tỉnh Hà Nam hiện nay; gồm các huyện: Nam Xang (huyện Lý Nhân và
một phần thành phố Phủ Lý, Hà Nam hiện nay), Kim Bảng (Kim Bảng hiện nay), Duy Tiên (Duy Tiên hiện
nay), Thanh Liêm (Thanh Liêm và một phần thành phố Phủ Lý hiện nay), Bình Lục (Bình Lục hiện nay).
Phủ Khoái Châu: gồm các huyện Đông Yên (nay là huyện Khoái Châu thuộc Hưng Yên), Kim Động
(huyện Kim Động và một phần thành phố Hưng Yên hiện nay), Tiên Lữ (huyện Tiên Lữ và một phần thành phố
Hưng Yên hiện nay), Thiên Thi (Ân Thi hiện nay), Phù Dung (Phù Cừ hiện nay).
Phủ Thiên Trường (một phần Nam Định hiện nay): gồm các huyện Tây Chân (Nam Trực, Trực Ninh
và một phần thành phố Nam Định hiện nay), Giao Thủy (Giao Thủy và Xuân Trường hiện nay), Mỹ Lộc


16
Quốc Oai/Sơn Tây: Vốn là lộ Quốc Oai thượng, trung và hạ thời Lê Thái
Tổ, năm 1466 đổi là thừa tuyên Quốc Oai, năm 1469 đổi là thừa tuyên Sơn Tây,
năm 1490 đổi là xứ Sơn Tây, thời Lê Tương Dực đổi là trấn Sơn Tây
3
.
Nam Sách/Hải Dƣơng: Vốn là lộ Nam Sách thượng và Nam Sách hạ,
năm 1466 gộp vào là thừa tuyên Nam Sách, năm 1469 đổi là thừa tuyên Hải
Dương
4
.
An Bang: Thời Lê Thái Tổ là An Bang thuộc Đông Đạo, từ năm 1466 là
thừa tuyên An Bang, năm 1490 gọi là xứ An Bang, thời Lê Tương Dực đổi là
trấn An Bang
5
.

Phủ Bắc Hà gồm các huyện: Tân Phúc (Đa Phúc cũ, một phần Sóc Sơn hiện nay), Kim Hoa (một phần
Sóc Sơn hiện nay), Hiệp Hòa (Hiệp Hòa hiện nay), Yên Việt (Việt Yên hiện nay).
Phủ Lạng Giang gồm các huyện Phượng Nhãn (một phần Yên Dũng hiện nay), Hữu Lũng (huyện Hữu
Lũng, tỉnh Lạng Sơn hiện nay), Bảo Lộc (Lạng Giang hiện nay), Yên Thế (Yên Thế và Tân Yên hiện nay), Lục
Ngạn (Lục Ngạn và Lục Nam hiện nay).
3
Gồm các phủ:
Phủ Quốc Oai gồm các huyện: Từ Liêm (quận Cầu Giấy, một phần quận Tây Hồ, một phần quận
Thanh Xuân và một phần huyện Từ Liêm hiện nay), Thạch Thất (Thạch Thất hiện nay), Đan Phượng (huyện
Đan Phượng và một phần huyện Từ Liêm hiện nay), Mỹ Lương (Mỹ Đức, Hà Nội và Lương Sơn, Hòa Bình
hiện nay), Phúc Lộc (huyện Phúc Thọ và một phần thị xã Sơn Tây hiện nay).
Phủ Tam Đái gồm có các huyện: Yên Lãng (thị xã Phúc Yên hiện nay), Yên Lạc (Yên Lạc hiện nay),

6
.
Thái Nguyên/Ninh Sóc: Thời Lê Thái Tổ thuộc Bắc đạo, năm 1466 đặt
thừa tuyên Thái Nguyên, năm 1469 đổi là thừa tuyên Ninh Sóc
7
.
Tuyên Quang: Thời Lê Thái Tổ thuộc Tây đạo, năm 1466 đặt thừa
tuyên Tuyên Quang, năm 1490 đổi là xứ Tuyên Quang, thời Lê Tương Dực đổi
là trấn Minh Thuận
8
.
Hƣng Hóa: Thời Lê Thái Tổ là 2 lộ Gia Hưng và Quy Hóa thuộc Tây
đạo, năm 1466 đặt thừa tuyên Hưng Hóa, năm 1490 đổi là xứ Hưng Hóa, thời
Lê Tương Dực đổi là trấn Hưng Hóa
9
.
Thanh Hóa: Thời Lê Thái Tổ thuộc đạo Hải Tây, thời Lê Thái Tông
gồm 6 phủ Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia, Thanh Đô, Trường Yên, Thiên

Phủ Hải Đông gồm các huyện: Hoành Bồ (huyện Hoành Bồ và một phần thành phố Hạ Long hiện
nay), Yên Hưng (thị xã Quảng Yên và một phần thành phố Hạ Long hiện nay), Hoa Phong (Cát Hải hiện nay)
và các châu: Tiên Yên (huyện Tiên Yên hiện nay), Vạn Ninh (Móng Cái hiện nay), Vĩnh An (thuộc Quảng Tây,
Trung Quốc hiện nay), Vân Đồn (cù lao Lợn Lòi phía đông vịnh Bái Tử Long).
6
Gồm 1 phủ:
Phủ Trùng Khánh (tỉnh Lạng Sơn hiện nay) gồm các châu: Thất Nguyên (huyện Tràng Định hiện nay),
Văn Uyên (huyện Văn Lãng hiện nay), Văn Lan (một phần Chi Lăng và Văn Quan hiện nay), Ôn (một phần
Chi Lăng hiện nay), Lộc Bình (Lộc Bình và Cao Lộc hiện nay), An Bác (Sơn Động, Bắc Giang hiện nay).
7
Gồm các phủ:

10
.
Nghệ An: Thời Lê Thái Tổ thuộc đạo Hải Tây, năm 1466 đặt thừa tuyên
Nghệ An, năm 1490 đổi là xứ Nghệ An, Lê Tương Dực đổi làm trấn Nghệ An.
Tương đương tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay
11
.
Thuận Hóa: Thời Lê Thái Tổ là hai lộ Tân Bình và Thuận Hóa thuộc
đạo Hải Tây, năm 1466 đặt thừa tuyên Thuận Hóa, năm 1490 đổi là xứ Thuận
Hóa, Lê Tương Dực đổi là trấn Thuận Hóa
12
.

10
Gồm các phủ:
Phủ Thiệu Thiên (Thiệu Hóa) gồm các huyện Thụy Nguyên (từng mang tên Ứng Thụy và Lương
Giang, tức phía Bắc huyện Thiệu Hóa, phía Bắc huyện Thọ Xuân và phần lớn huyện Ngọc Lặc hiện nay), Vĩnh
Ninh (Vĩnh Lộc hiện nay), Đông Sơn (huyện Đông Sơn và một phần huyện Thiệu Hóa, một phần thành phố
Thanh Hóa hiện nay), Lôi Dương (một phần các huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn, Thiệu Hóa và Thường Xuân hiện
nay), Yên Định (Yên Định hiện nay), Cẩm Thủy, Thạch Thành (một phần Thạch Thành hiện nay), Bình Giang
(tây bắc Thạch Thành hiện nay).
Phủ Hà Trung có các huyện: Hoằng Hóa (huyện Hoằng Hóa và một phần thành phố Thanh Hóa hiện
nay), Thuần Hựu (Hậu Lộc hiện nay), Tống Sơn (huyện Hà Trung và thị xã Bỉm Sơn hiện nay).
Phủ Tĩnh Gia có các huyện: Nông Cống (các huyện Như Xuân, Như Thanh, phần lớn huyện Nông
Cống và một phần huyện Triệu Sơn hiện nay), Ngọc Sơn (huyện Tĩnh Gia và một phần huyện Nông Cống hiện
nay), Quảng Xương (huyện Quảng Xương, thị xã Sầm Sơn và một phần thành phố Thanh Hóa hiện nay).
Phủ Thanh Đô có huyện Thọ Xuân (phần lớn huyện Thường Xuân hiện nay, khác với huyện Thọ
Xuân hiện tại
[13]
) và các châu: Quan Gia (gần biên giới Lào hiện nay), Tầm (tây bắc Quan Hóa hiện nay), Lang

Các chức quan đứng đầu 13 đạo thừa tuyên có Tam ti (chức Hành khiển
trước đó bị bãi bỏ)
+ Đô Tổng binh sứ ti (gọi tắt là Đô ty) phụ trách quân đội và phòng vệ
địa phương. Đứng đầu là Đô tổng binh sứ.
+ Thừa tuyên sứ ti (Thừa ty - về sau dưới thời Lê mạt đổi thành Thừa
chính sứ ty) phụ trách các công việc dân sự từ hộ tịch, thuế khóa, kiện tụng sản
xuất, nhân sự cho đến phong hóa. Đứng đầu là chức Thừa tuyên sứ, hàm tòng
tam phẩm (kém Đô tổng binh sứ - đứng đầu Đô ty 1 bậc) giúp việc có các chức
tham chính, tham nghị, chủ sự, thôi quan và từ 3 - 10 nha lại.
+ Hiến sát sứ ti (Hiến ty) chuyên giữ việc tâu bày, đàn hoặc khám đoán,
xét hỏi, hội đồng kiểm soát, khảo khóa, tuần hành, nghĩa là “giữ việc đàn hoặc
các nha môn Đô ty, Thừa ty, phủ huyện, châu ở bản xứ và cùng Thừa ty khảo
xét công các quan viên trong hạt”, “lại xem các huyện trong bản hạt hoặc có
tai ương, lụt hạn và tình cảnh xã hội nào bị phiêu tán, sầu khổ, cùng là các nha
môn trong hạt có kẻ nào tham ô, trái phép…Hằng năm phải đi tuần trong hạt,
dò hỏi cho được sự thật”[6; 30,44]
Ngoài ra còn có giám sát ngự sử 13 đạo, các cơ quan hà đê, khuyến nông
ti chuyên chăm lo đê điều và sản xuất nông nghiệp.

12
Gồm các phủ:
Phủ Tân Bình: gồm các huyện Kiến Lộc (Quảng Ninh, Quảng Bình hiện nay), Lệ Thủy (Lệ Thủy hiện
nay), Minh Linh (Vĩnh Linh và Gio Linh thuộc Quảng Trị hiện nay) và châu Bố Chính (Quảng Trạch, Bố
Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa tỉnh Quảng Bình hiện nay).
Phủ Triệu Phong gồm các huyện Vũ Xương (Triệu Phong hiện nay), Hải Lăng (Hải Lăng hiện nay),
Đan Điền (Quảng Điền và một phần Phong Điền hiện nay), Kim Trà (Hương Trà và một phần Phong Điền hiện
nay), Tư Vang (Hương Thủy và Phú Lộc hiện nay), Điện Bàn (Điện Bàn thuộc Quảng Nam hiện nay).
Châu Tỉnh An thuộc Lào hiện nay.
13
Gồm các phủ:

xã trưởng. Những nguyên tắc và thể lệ lập xã mới, bầu cử xã trưởng cũng được
quy định rõ ràng. Năm 1462, theo sắc chỉ của Lê Thánh Tông thì tiêu chuẩn của
người được bầu làm xã trưởng như sau: “ Lấy hạng giám sinh, sinh đồ tuổi cao
nhưng học nghiệp không tiến bộ, hoặc xét các con em nhà hiền lành, tuổi từ 30
trở lên, không vướng việc quân, những hạng đó người nào biết chữ, có hạnh
kiểm nên làm xã trưởng của xã đấy để tiện làm việc”[18; 430]. Ngoài ra để
tránh bè phái, sự nể nang trong công việc nhà nước có lệnh cho châu huyện
chọn đặt xã trưởng: “nếu là con cô con cậu, đôi con dì với nhau, con trai con
gái cùng gả bán cho nhau làm thông gia, đều không được cùng làm xã trưởng
trong một xã. Nếu đã làm xã trưởng rồi, nên chọn người nào có thể làm được
việc thì lưu lại, còn thì tâu lên để cho về hạng cũ”[18; 430]

Trích đoạn Nghề thủ công và buôn bán nhỏ Văn học, nghệ thuật và giáo dụ cở nông thôn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status