ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM PHẠM ANH NGUYÊN
BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT SÁNG TẠO
TRONG NGÔN TỪ CỦA NHÀ BÁO PHAN KHÔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60220102
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG CAO CƢƠNG
THÁI NGUYÊN, NĂM 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu i
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Hoàng Cao Cƣơng đã tận
tình giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các Thầy/Cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau Đại học
– trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên, các Thầy/Cô giáo Viện Ngôn ngữ học,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
2
2.1. Về tƣ liệu
2
2.2. Các công trình nghiên cứu
3
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
8
4. Đối tƣợng nghiên cứu
8
5. Các đóng góp chính kỳ vọng
8
6. Bố cục luận văn
9
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
10
1.1. Giới thiệu Phan Khôi và thời ông sống
10
1.2. Các thành tựu chính của Phan Khôi trong lĩnh vực báo chí tân văn
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iv
1.4.2. Diễn ngôn chính trị - xã hội
36
1.4.3. Cấu trúc bài thông tấn
36
1.4.4. Sự khác biệt giữa tạp văn và khảo luận học thuật
40
1.5. Tiểu kết
42
Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ CỦA PHAN KHÔI TRONG BÁO
CHÍ
43
2.1. Dẫn nhập
43
2.2. Phân loại các bài báo của Phan Khôi
43
2.2.1. Tiêu chí phân loại
43
2.2.2. Kết quả phân loại
47
2.2.2.1. Tạp văn
48
2.2.2.2. Tranh luận
48
2.2.2.3. Khảo luận (nghiên cứu)
49
70 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu v
3.3.4. Tên riêng + đặc điểm tạo nên tiêu đề
71
3.3.5. Tiêu đề có cấu tạo bất thƣờng, lặp chữ, chơi chữ
72
3.3.6. Từ trái nghĩa đứng cạnh nhau
72
3.4. Xử lý câu phi truyền thống
75
3.4.1. Độ dài câu và kiểu câu tùy thuộc lƣợng tin và ý đồ ngƣời viết
75
3.4.2. Nghệ thuật chơi chữ, lối nói ví von so sánh
78
3.4.3. Tính đa thanh
80
3.4.4. Thái độ với văn biền ngẫu
81
3.5. Bao dung với từ ngữ
84
3.5.1. Vốn từ đa dạng
84
3.5.2. Vốn từ Hán Việt
86
3.5.2.1. Đặc điểm phân bố từ ngữ Hán Việt
PT: Phổ thông
TC: Thần Chung
TL: Trung Lập
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Báo chí Việt Nam ở giai đoạn đầu (những năm 20, 30 của thế kỷ trƣớc) là
giai đoạn Đông Tây đụng độ, tân cựu giao tranh, giai đoạn tƣ tƣởng là văn hóa dân
tộc đang cần xác định phƣơng hƣớng đúng đắn để tiến lên cho kịp thời đại.
Ở giai đoạn giao thời ấy đòi hỏi phải có những ngƣời “mở đƣờng” khai phá.
Trong đó có Phan Khôi (1887 – 1959) với tƣ cách là tên tuổi lớn của báo chí, văn
học và tƣ tƣởng Việt Nam thế kỷ XX. Ngòi bút Phan Khôi tung hoành ngang dọc,
đƣợc coi là bƣớng bỉnh ngang tàng nổi tiếng một thời. Ông viết mỗi năm hàng trăm
bài báo, bút chiến, khảo luận thể hiện một cá tính, một phong cách khác thƣờng.
Nói tới báo chí Việt Nam ở giai đoạn đầu không thể không nói tới Phan Khôi.
Trong chừng mực tƣ liệu mà hôm nay chúng ta có đƣợc, chủ yếu do Lại
Nguyên Ân sƣu tầm và công bố, chỉ tính riêng từ năm 1928 đến 1932 Phan Khôi
viết trên dƣới 2000 bài báo lớn nhỏ. Với lƣợng bài báo đồ sộ nhƣ thế cùng phong
cách đa dạng mà Phan Khôi đã thể hiện, ngƣời ta có thể khẳng định đƣợc vai trò
“mở đƣờng” của ông trong báo chí hiện đại đặc biệt trong phong cách nghị luận báo
chí thông tấn. Nói cách khác, phong cách nghị luận trên báo chí đã đƣợc Phan Khôi
thể hiện một cách rõ ràng, dứt khoát mà những ngƣời làm báo trƣớc ông cũng nhƣ
cùng thời với ông chƣa làm đƣợc.
Điều làm nên sự khác biệt không thể lẫn giữa phong cách viết của Phan Khôi
với các nhà báo khác là Phan Khôi đã bộc lộ ra một tƣ duy sắc sảo trong lập luận,
phản biện bằng một cấu trúc ngôn từ hiện đại, mới mẻ. Các bài báo của ông không
chỉ phản ánh đƣợc những vấn đề nóng bỏng của thời cuộc mà còn tạo ra một phong
- Các tác phẩm báo chí của Phan Khôi do Lại Nguyên Ân sƣu tầm và biên
soạn:
+ Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1928, Nxb Đà Nẵng, 2003
+ Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1929, Nxb Đà Nẵng, 2005
+ Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1930, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006
+ Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1931, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006
+ Phan Khôi: tác phẩm đăng báo 1932, Nxb Trí thức, Hà Nội, 2009
+ Phan Khôi viết và dịch Lỗ Tấn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006
3
Có thể khẳng định tất cả những di sản đã đƣợc công bố ở trên chỉ là một
phần rất nhỏ, thậm chí chƣa phải là nội dung chủ yếu trong sự nghiệp sáng tác của
Phan Khôi. Nói nhƣ nhà nghiên cứu Thanh Lãng:
“Sự nghiệp của ông (tức Phan Khôi) hầu hết hãy còn nằm rải rác trên mặt
báo. Mà có lẽ những gì tinh túy nhất của ông, linh lợi nhất nơi ông, “Phan Khôi
nhất” trong ông hình nhƣ đều chƣa đƣợc in thành sách mà hãy còn cất giấu kín
dƣới những chồng báo”
(Thanh Lãng, Phê bình văn học thế hệ 1932, Sài Gòn, 1973)
2.2. Các công trình nghiên cứu
Qua công trình Việt ngữ nghiên cứu của Phan Khôi, GS.Hoàng Tuệ từng
đánh giá rất cao những đóng góp của Phan Khôi đối với Việt ngữ học và hơn thế
nữa, còn nhận định:
“Phan Khôi là nhà văn hóa rất quý trọng tiếng Việt, quyết tâm bảo vệ ngôn
ngữ dân tộc. Ông theo đuổi sự nghiệp này khi hoạt động ở Sài Gòn, Huế, Hà Nội,
rồi đi theo cách mạng giải phóng dân tộc, hoạt động cho tới cuối đời. Và Phan
Khôi có trí tuệ của một nhà Việt ngữ học. Trí tuệ của ông hình thành từ một văn
hóa rộng mở, những hiểu biết không chỉ về tiếng Việt, tiếng Hán mà còn về tiếng
Pháp, tiếng Anh” [57,tr.11]
Nam. Thanh Lãng đặc biệt quan tâm tới các cuộc tranh luận về học thuật và tƣ
tƣởng nên đã liệt kê 10 cuộc tranh luận nổi bật giai đoạn 1932 – 1945, thì trong đó
có tới 5 cuộc tranh luận có liên quan tới Phan Khôi: tranh luận Phan Khôi – Trần
Trọng Kim xung quanh bộ Nho giáo; cuộc tranh luận giữa Tản Đà – Phan Khôi về
cách hiểu Tống Nho và truyền thống; các cuộc tranh luận lớn xung quanh vấn đề
“quốc học” với sự tham biện của Lê Dƣ, Trình Đình Rƣ, Phạm Quỳnh, Phan Khôi,
Nguyễn Trọng Thuật; cuộc tranh luận về Thơ Mới với rất đông thành phần, nổi bật
nhất là Phan Khôi, Lƣu Trọng Lƣ; tranh luận về duy tâm – duy vật giữa Phan Khôi
với Hải Triều Qua đó thấy đƣợc Phan Khôi luôn ở vị trí trung tâm trong các cuộc
tranh luận này, nếu không phải là ngƣời châm ngòi thì cũng là ngƣời tham gia hết
sức tích cực và có tiếng nói hết sức có trọng lƣợng. Vậy nên trong cuốn sách Phụ
Nữ Tân Văn – Phấn son tô điểm sơn hà, tác giả Thiện Mộc Lan đánh giá ông là
nhân vật đứng đầu trong “tứ đại” của báo giới Sài Gòn trƣớc 1945: “Hồi thập niên
30 của thế kỷ vừa qua, tại Sài Gòn có bốn nhân vật lừng danh: Phan Khôi, Đào
5
Trinh Nhất, Diệp Văn Kỳ và Bùi Thế Mỹ đƣợc kể là nhóm “Tứ đại” của làng báo
Nam Kỳ” [60,tr.249]
Tuy vậy, có một thực tế cần phải nhấn mạnh rằng giới nghiên cứu ở Việt
Nam chƣa thực sự quan tâm xử lý tài liệu báo chí; ngay cả khi nhà nghiên cứu Lại
Nguyên Ân bỏ công phu sƣu tầm tập 4 quyển Phan Khôi: tác phẩm đăng báo từ
năm 1928 – 1932 thì bộ sách quý giá này gần nhƣ không gây đƣợc sự chú ý gì trên
báo chí ngày nay. Dƣờng nhƣ nhiều ngƣời không còn để ý tới lịch sử và sự lộ diện
trở lại của các nhân vật bấy lâu nay bị chìm lấp đầy bất công. Càng bất công hơn
nữa khi mà Phan Khôi là một trong những bộ óc độc đáo nhất, uyên bác nhất, tỉ mỉ
nhất từng hiện diện trong lịch sử trí thức Việt Nam
1
.
6
Đông Tây, Phổ thông trong đó có những tờ báo Phan Khôi là trụ cột có tầm ảnh
hƣởng quyết định nhƣ ở tờ Phụ nữ Tân Văn, Trung lập.
Xét về mặt thể loại báo chí và ngôn ngữ thể hiện thì Phan Khôi có những
đóng góp cụ thể:
a) Ngoài phong cách nghị luận trên báo chí thì Phan Khôi là nhà báo định
hình rõ nét nhất thể loại Hài đàm trên báo chí. Đó là những bài viết theo lối tạp văn
và đƣợc coi là “đặc sản” và chiếm số lƣợng rất lớn trong các sáng tác báo chí của
ông: “Lƣợng bài Phan Khôi viết và đăng trên Trung lập có lẽ là lớn nhất so với
lƣợng vài của ông đăng trên bất cứ tờ báo nào Trƣớc hết là mục hài đàm
“Những điều nghe thấy” mà tòa soạn dành riêng cho ông viết với bút danh Thông
reo (10 ngày đầu lấy là Tha Sơn)”. Từ 2/5/1930 đến 30/5/1933, ngày Trung lập bị
đóng cửa, Phan Khôi đã viết trên 600 bài cho mục “Những điều nghe thấy” [9,tr.9]
b) Về ngôn ngữ thể hiện Phan Khôi đã có sự chuyển biến về chất. “Ông bắt
đầu viết đƣợc lối văn sát sóng nhƣ lối văn hiện giờ từ hồi ông làm cho Đông Pháp
thời báo ở Nam” [9,tr.2]. Cũng chính Hoàng Tích Chu – ngƣời mở đầu cho lối viết
văn dây thép ngắn gọn mà ngƣời cùng thời cọi là lối viết cụt lủn “tỏ ra thích thú nét
tinh quái của ngòi bút Thông Reo ở mục Những điều nghe thấy” [5,tr.11]. GS.
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài nghiên cứu về Phong cách nghị luận, bút chiến của
Phan Khôi (Tạp chí Văn học, số 9/2010) đã có nhiều nhận định tinh tế, chính xác về
lối viết của Phan Khôi:
Ngoài “cảm hứng gây sự” – một thủ pháp nhằm gây sự chú ý trong hoạt
động thông tấn – báo chí, “Hễ dƣ luận nói xuôi thì ông nói ngƣợc vì xem chừng
ông rất khoái chí gây ra đƣợc những cú sốc nhƣ thế với dƣ luận. Mà có nhƣ vậy,
văn Phan Khôi mới nổi góc cạnh lên đƣợc”. Đã bƣớc đầu đề cập tới cách lập luận,
hàm ngôn của Phan Khôi, đó là thiên về tƣ duy lôgic “chỉ nói lý, không nói tình”.
Trong nghị luận, bút chiến Phan Khôi kiên quyết dứt bỏ tình cảm và đề cao lí trí.
Đề cao lý trí tất phải coi trọng luận lý học. “Muốn cho thông thì chúng ta viết văn
cốt phải đúng theo văn pháp và luận lý học”. Với nguyên tắc của luận lý học đòi
hỏi phải xác định chính xác nội hàm của các khái niệm, ý nghĩa của các thuật ngữ,
ông chƣa nhiều, chƣa thật tƣơng xứng với tài năng và học thuật của ông, nhất là ở
lĩnh vực báo chí thì hầu nhƣ thiếu vắng hoàn toàn. Nguyên nhân của tình trạng này
đƣợc nhấn mạnh là bởi giới nghiên cứu ở Việt Nam chƣa thực sự quan tâm tới xử lý
8
tài liệu báo chí mà chỉ luôn coi trọng sách in hơn báo chí nên công cuộc nhìn nhận
lại Phan Khôi đƣợc tiến hành một cách vô cùng thận trọng và chậm chạp. Đúng nhƣ
GS. Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận xét:
“Phan Khôi tuy là một nhà tƣ tƣởng, một nhà văn hóa lớn nhƣng cho đến
nay chƣa đƣợc giới nghiên cứu quan tâm đúng mực. Một phần vì cái án Nhân văn
khiến ngƣời ta phải né tránh, một phần vì ông chủ yếu là nhà báo mà giới nghiên
cứu của ta lâu nay vẫn trọng văn, thích viết về nhà văn hơn là viết về nhà báo.”
[65,tr.108]
3. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp chính sau đây:
- Phƣơng pháp mô tả và thống kê
- Phƣơng pháp so sánh
- Phƣơng pháp phân tích tác phẩm báo chí
- Phƣơng pháp liên ngành: ngôn ngữ học, xã hội học, nghiên cứu văn học
và các sản phẩm thông tấn – báo chí
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu chính của luận văn là các tác phẩm báo chí của Phan
Khôi đăng từ năm 1928 đến năm 1932 do Lại Nguyên Ân sƣu tầm, công bố. Đồng
thời luận văn sẽ đối chiếu với một số tác phẩm báo chí của các tác giả khác cùng
thời và sau thời Phan Khôi.
5. Các đóng góp chính kỳ vọng
- Luận văn theo hƣớng khảo sát chi tiết sự nghiệp một tác giả nhằm đƣa ra
những nhận định mới mẻ về sự đóng góp của Phan Khôi đối với sự hình thành và
Khôi đã tham gia các phong trào cách mạng Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục nên
ông từng bị bắt giam một thời gian. Với truyền thống của gia đình, với vốn Hán học
vững vàng, lại sắc sảo thông minh Phan Khôi hoàn toàn thuận lợi đi theo con đƣờng
khoa cử. Nhƣng ông lại quay lƣng với chữ nghĩa trƣờng quy, cắt tóc, theo học tiếng
Pháp và tiếng Việt. Chính môi trƣờng cách mạng sôi động những năm đầu thế kỷ đã
câu thúc Phan Khôi vào hoạt động báo chí.
Đầu thế kỷ XIX, với những biến cố lớn lao của lịch sử đã làm thay đổi mạnh
mẽ tới đời sống xã hội Việt Nam, trong đó phải kể tới những yếu tố mới xuất hiện
làm thay đổi diện mạo văn hóa – tƣ tƣởng ngƣời Việt:
a. Chữ Quốc ngữ với sự ra đời của báo chí, in ấn
Tính từ khi nổ tiếng súng đầu tiên vào cửa biển Đà Nẵng (1858) cho đến khi
dập tắt đƣợc phong trào Cần Vƣơng, năm 1896, thực dân Pháp mất 38 năm mới
xâm chiếm đƣợc toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Trong suốt thời gian đó cùng với sự
chiếm đóng quân sự, Pháp đã tiến hành nhiều chính sách nhằm xây dựng một thiết
chế chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa phù hợp với việc khai thác và đồng hóa
thuộc địa. Trong chính sách đồng hóa thực dân Pháp chủ trƣơng khuyến khích dùng
chữ Quốc ngữ theo mẫu tự Latinh, vì ngƣời Pháp đã nhận thấy: “chữ Hán còn là
một ngăn trở giữa chúng ta với ngƣời bản xứ, sự giáo dục bằng thứ chữ tƣợng hình
( ) chỉ tổ khó cho việc truyền đạt đến dân chúng những điều tạp sự cần thiết liên
quan đến khung cảnh của nền cai trị mới cũng nhƣ cho việc thƣơng mại” [100,
tr.129]. Ngƣời Pháp đã quyết tâm thay thế hẳn chữ Hán, chữ Nôm bằng chữ Quốc
ngữ là một mƣu tính nhằm tách hoàn toàn và vĩnh viễn ngƣời dân An Nam thuộc
11
địa ra khỏi ảnh hƣởng của nền văn hóa Trung Hoa. Mặt khác, xuất phát từ tâm địa
của kẻ đi khai phá, họ nhận định: “chữ Quốc ngữ chỉ có thể tiện lợi cho nhu cầu
hàng ngày và nó không thể trở thành một chữ viết của văn chƣơng, văn hóa thông
thái” [100, tr.129]
phỏng y nguyên hình thức trƣờng học từ chính quốc. Đây chính là điều kiện để xuất
hiện trong lịch sử Việt Nam lớp trí thức mang trong mình hai nền văn hóa Đông –
Tây ra sức xây dựng nền giáo dục bản xứ và gây dựng văn hóa Việt Nam theo xu
hƣớng mới, tiêu biểu nhƣ Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc,
Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm,
- Giai đoạn 3 từ 1917 – 1924, mô hình “tháp đôi” đƣợc thay thế bởi mô hình
giáo dục “kiểu kim tự tháp” với 4 cấp học là sơ học, tiểu học, cao đẳng tiểu học và
trung học bản xứ. Đây đƣợc coi là “giai đoạn vàng” của nền giáo dục Pháp – Việt
và về cơ bản đƣợc giữ ổn định đến hết năm 1945. [100]
Mặc dù mục tiêu chính của nền giáo dục Pháp Việt là đào tạo ra đội ngũ
nhân viên thừa hành cho bộ máy cai trị thực dân, nhƣng hệ quả lại nằm ngoài mƣu
tính thực dân là tri thức, các trào lƣu tƣ tƣởng duy tân và văn hóa, trong đó có cả
văn chƣơng, báo chí phƣơng Tây có cơ hội phổ biến, du nhập vào Việt Nam. Đây là
môi trƣờng quyết định tạo ra sự phân hóa đội ngũ cầm bút cựu trào hình thành nên
một đội ngũ nhà văn, làm báo mới. Và đây cũng chính là giai đoạn giao thời:
“Giai đoạn Đông – Tây đụng độ, tân cựu giao tranh, giai đoạn tƣ tƣởng văn
hóa dân tộc đang cần xác định phƣơng hƣớng đúng đắn để tiến lên cho kịp thời đại.
Trong cuộc đụng độ về tƣ tƣởng và văn hóa giữa Đông và Tây, nói chung ai cũng
đều phải thừa nhận ƣu thế của văn minh phƣơng Tây hiện đại. Tuy nhiên, dƣ luận
của phần lớn giới trí thức đƣơng thời cho rằng dù phải chấp nhận nền văn minh ấy
vẫn không thể vứt bỏ hoàn toàn truyền thống văn hóa phƣơng Đông, vẫn phải giữ
lấy quốc hồn quốc túy An Nam. Trong khi chủ trƣơng tân cựu điều hòa, thổ nạp Á
Âu của Phạm Quỳnh đƣợc nhiều ngƣời tán thƣởng thì Phan Khôi khác biệt, ông dứt
khoát phản đối” [9, tr.96].
13
Tuy còn những điểm hạn chế là ông chỉ thấy các mặt đối lập mà không thấy
yêu tố có thể hòa hợp giữa văn hóa Đông và Tây, giữa cựu học và tân học, giữa
đây là có sức hấp dẫn nhất:
Trƣớc hết, ở lĩnh vực Văn chƣơng báo chí
1
Phan Khôi đã có những cống
hiến mang dấu ấn “mở đƣờng”: Mặc dù hoạt động hết sức sôi nổi trên văn đàn
nhƣng tính ra, văn nghiệp trƣớc Cách mạng của Phan Khôi chủ yếu đọng lại trong
Chƣơng Dân thi thoại. Đây là tập hợp các bài viết trên mục Nam Âm thi thoại, viết
từ thời làm cho Nam Phong tạp chí và một số bài khác trên Đông Pháp thời báo,
Phụ nữ Tân Văn, tháng 2/1936. Thi thoại là một lối trứ thuật chuyện nói về chuyện
làm thi. Trong thi thoại thƣờng cóp nhặt những bài những câu thi hay và thƣờng có
kèm theo lời bình phẩm, cốt để lƣu truyền những câu đắc ý của văn nhân tài tử. Việt
Nam tuy có truyền thống thi ca lâu đời, nhƣng sách thi thoại dƣờng nhƣ chƣa xuất
hiện; trong bối cảnh đó Phan Khôi là ngƣời khởi tạo loại sách này (xét về mặt thời
gian Thi tù tùng thoại của Huỳnh Thúc Kháng xuất hiện sau Nam Âm thi thoại).
Luôn theo đuổi đi tìm cái mới, nên Phan Khôi nhận ra sự mòn sáo, cạn kiệt của thơ
Đƣờng luật đã không đủ sức để cho nhà thờ phô diễn đƣợc một cách tự nhiên tình
cảm, tâm tƣ. Bài viết Một lối “thơ Mới” trình cháng giữa làng thơ với bài thơ Tình
già của Phan Khôi (PNTV, Sài Gòn, số 122, ngày 10/3/1932) thực sự đã tạo ra một
cú “sốc” cho phái thơ cũ. Về mặt nghệ thuật, bài thơ Tình già chƣa đạt tới mức làm
cho phái thơ cũ nản lòng nhƣng cách xây dựng dòng thơ và cách phô diễn tình cảm
của ông thì quả thực là một lối thơ mới đƣợc trình cháng giữa làng thơ. Nhƣ vậy, vị
trí lịch sử của Phan Khôi đƣợc khẳng định qua việc khởi xƣớng phong trào thơ mới.
Chính với tinh thần nhập thế và niềm say mê cái mới đã đƣa Phan Khôi vào vị trí 1
Cũng cần phải nói thêm: trong cuốn hồi ký của mình, Nguyễn Công Hoàn thuật lại bầu không khí
văn chƣơng ở nửa đầu thế kỷ trƣớc: “Trƣớc kia, ngƣời viết văn ra làm báo, và trong khi làm báo
vẫn viết văn. Báo nào cũng có đăng văn chƣơng, nên văn chƣơng ra đời bằng con đƣờng báo chí.
Chƣa có báo chí thuần túy về văn chƣơng, cũng chƣa có nhà xuất bản in những sách văn học ( )
khiến nhiều cây bút hàng đầu của học thuật đƣơng thời nhƣ Phạm Quỳnh, Huỳnh
Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Trần Huy Liệu phải lên tiếng, làm cho không khí
tranh luận vô cùng sôi nổi, đây cũng là giai đoạn “thăng hoa” không dễ gì lặp lại
trong hoạt động tƣ tƣởng – học thuật ở Việt Nam. Có thể nói các cuộc tranh luận
này “đã là những cú hích quan trọng góp phần thúc đẩy tƣ tƣởng học thuật, thúc
đẩy văn hóa, văn học Việt Nam tiến mạnh lên phía trƣớc trên con đƣờng hiện đại
hóa” [79, tr.96]
Thứ ba, các bài khảo luận của Phan Khôi trên báo chí vô cùng phong phú.
Phan Khôi vừa là một nhà Hán học uyên thâm, vừa chịu khó học tiếng Pháp, miệt
mài học hỏi qua sách, báo trong và ngoài nƣớc nên đã tích lũy đƣợc một vốn tri
16
thức rất rộng, bao gồm đủ cả Đông Tây kim cổ: lịch sử, xã hội, văn hóa, văn học
các nƣớc, từ Việt Nam, Trung Quốc đến Nhật Bản, Pháp, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ ; các
loại tôn giáo: Phật, Gia-tô, Tin Lanh, Cao Đài, Hồi Giáo; các loại học thuyết:
Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Mặc Tử, Trình Tử, Chu Tử, cho đến Găngđi, Tôn
văn, Lê nin; cả phép suy lý tam đoạn luận của Hégel, luận lý học của Aristote; rồi
biết cả triết lý: duy tâm, duy vật; am hiểu nghệ thuật dân gian: từ thần thoại, truyền
thuyết của Tầu, của ta tới phong dao, tục ngữ của ngƣời Việt. Tìm hiểu lịch sử chữ
Quốc ngữ, tƣờng tận ngữ pháp Tiếng Pháp, rành rọt về các nguyên lý, phép quy
nạp, diễn dịch của tƣ duy khoa học, tìm hiểu cả Đông y, Tây y Do đó, Phan Khôi
có khả năng phân tích sâu nhiều vấn đề, nghiên cứu tới nhiều lĩnh vực khoa học
khác nhau
1
. Các bài khảo luận của Phan Khôi tuy mang nội dung kiến thức chuyên
sâu khoa học, nhƣng lại đƣợc diễn đạt bằng ngôn từ gần gũi đời thƣờng mà đƣơng
thời sử dụng. Đây cũng là đặc điểm đóng góp riêng của Phan Khôi.
Thứ tƣ, xét về sự đóng góp cho phong cách ngôn ngữ và thể tài báo chí,
4
Từ 2/5/1930 đến 30/5/1933, ngày Trung lập bị đóng cửa, Phan Khôi viết trên 600 bài cho mục “Những điều
nghe thấy” [11, tr.9]
17
hay và có ích”, “Chuyện khôi hài” của Trƣơng Vĩnh Ký, nhƣng có thể đƣợc coi là
gợi ý cho mục trào phúng hài hƣớc gần nhƣ không thể thiếu trên các tờ báo sau này.
Các cây bút lão luyện nhƣ Tản Đà, Diệp Văn Kỳ, Đào Trinh Nhất, Ngô Tất Tố,
cũng đều viết trào phúng, hài đàm trên báo chí nhƣng không đều đặn và chƣa hẳn
làm nổi bật thể tài này. Chỉ từ khi Phan Khôi viết Hài đàm, góp những câu chuyện
kể thì ngƣời đọc báo mỗi ngày mới quả thực là biết “câu chuyện hàng ngày” với đủ
loại nội dung: từ các việc xảy ra hàng ngày tại đô thị Sài Gòn và mọi miền trong
nƣớc đến các sự kiện ở nƣớc ngoài. Biết từ chuyện bầu cử của hội đồng quản hạt,
chuyện ăn Tết, chuyện thiếu nƣớc, chuyện giá gạo tăng đến chuyện phế đế Phổ
Nghi, chuyện quân phiệt bên Tầu, chuyện thi sắc đẹp bên Tây và nổi bật lên là
giọng điệu khi mỉa mai, lúc hài hƣớc của tác giả.
Để thể nghiệm thành công thể tài mới mẻ này trên báo chí ngoài sự học hỏi
kinh nghiệm của hai nhà báo Pháp là Clément Vautel và Georges de la Fouchardière
trên các tờ Le Journal và L’Oeuvre xuất bản ở Paris đƣơng thời
1
thì ta thấy đƣợc
trong lối viết hài đàm của Phan Khôi có sự kết hợp tinh tế của tạp văn ngắn (viết
sắc, gọn) với trí liên tƣởng thông minh giàu sức sáng tạo. Đây là việc không phải ai
cũng làm đƣợc. Vì thế những tài năng khôi hài, những cây bút trào phúng trên báo
chí nhƣ Phan Khôi quả thật xƣa nay vẫn hiếm.
1.3. Các khái niệm Ngôn ngữ học liên quan
1.3.1. Từ vựng học
1.3.1.1. Các thành phần từ vựng học tiếng Việt