sáng kiến kinh nghiệm tìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong thơ của tú xương - Pdf 18

Sáng kiến kinh nghiệm
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Cơ sở khoa học
Tú Xương sinh ra và lớn lên trong giai đoạn lịch sử đầy bi thương của dân tộc.
Mọi giá trị thuần phong mĩ tục của một đất nước thuần phong kiến đã bị đảo lộn.
Bằng tài năng nhạy bén, bút lực dồi dào của một nhà trào phúng xuất sắc, Tú Xương
đã kịp thời phản ánh những cái xấu xa, rởm đời của xã hội đang trên đà hãnh tiến. Để
thể hiện sự suy vong đó ông sử dụng linh hoạt sáng tạo các thủ pháp nghệ thuật trào
phúng tạo tiếng cười với giọng đùa cợt, tếu táo, trào lộng trong thơ. Tú Xương đã
đóng góp vào dòng văn học trào phúng một tiếng cười mới mẻ, độc đáo.
Đánh giá về biệt tài trào phúng của Tú Xương nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu
trong bài viết “Thơ văn Tú Xương” đã nhận xét: “Tú Xương là nhà thơ trào phúng có
biệt tài. Ông ghi lại những cảnh đời lố lăng bằng ngọn bút hiện thực sâu sắc, bằng
những hình ảnh góc cạnh, ngôn ngữ sắc bén” .
Trên thực tế đã có nhiều nhà phê bình, nghiên cứu tham gia vào quá trình tìm
hiểu về nghệ thuật thơ văn Tú Xương. Song chưa có công trình nào đề cập một cách
toàn diện và có hệ thống về nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Xương. Đây là gợi ý
để người viết đi tìm hiểu và triển khai đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
2. Về thực tiễn
Trong phạm vi nhà trường từ cấp phổ thông cho đến bậc cao đẳng, đại học. Tú
Xương là một trong những tác giả được dạy và học nhiều. Đặc biệt trong chương
trình Ngữ Văn có nhiều tác phẩm tiêu biểu của Tú Xương được giảng dạy như:
“Thương vợ”, “Vịnh khoa thi hương”…. Vì vậy, người viết đi tìm hiểu đề tài này với
mong muốn hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về tác giả cũng như tác phẩm của ông, phục vụ
cho việc học tập và giảng dạy thơ văn Tú Xương được tốt hơn.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
1
Sáng kiến kinh nghiệm
Hơn một thế kỉ đã trôi qua kể từ ngày mất của nhà thơ Tú Xương (1907), bất
chấp mọi thử thách nghiệt ngã của thời gian, thơ ca Tú Xương vẫn chiếm vị trí xứng

này sang đối tượng khác. Khi thì nhẹ nhàng, thân mật, dí dỏm, hóm hỉnh, khi thì mỉa
mai chua chát, khi thì nó cay độc ác liệt, và khi thì nó cảm động đau xót, nhuốm đầy
nước mắt”.
Điều đặc biệt là Tú Xương đã đưa chính mình vào thơ như một nhân vật chủ
thể: “Nhân vật số một được nhà thơ Tú Xương vẽ lên khá toàn diện và cực kì đậm nét
lại là chính bản thân Tú Xương, một điển hình sống của tầng lớp nhà nho hiện đại.
Nhân vật điển hình này hiện lên với đầy đủ những chi tiết cụ thể nhiều loại, cả về
sinh hoạt vật chất lẫn sinh hoạt tinh thần… Tất cả tập trung dựng nên hình tượng
sinh hoạt sống động của một con người bất đắc trí, bất mãn với xã hội, với thời đại,
cụ thể là một nhà nho thất thế sinh ở cái thời đại nho học thất thế sinh ở cái thời đại
nho học về chiều, bút sắt bắt đầu thay thế bút lông”.
Nói như tác giả Chu Văn: “Văn chương của Tú Xương nôm na, trong sáng,
không cầu kì, ít sử dụng điển tích, điển cố, ít mượn tiếng nước ngoài, duyên dáng và
hóm hỉnh. Đọc thơ Tú Xương thấy bốc lên một vị mộc mạc mà trau chuốt, cả một nền
học vấn uyên thâm pha trộn với vốn dân gian cổ truyền. Thơ ông không phải là loại
thù hứng du dương, ngâm nga trong lúc trà dư tửu hậu, mà đọc lên thấy hiện rõ mồn
một những cảnh vật, người rất sinh động, rất quen thuộc… nhiều câu, nhiều bài có
giá trị như ca dao, ngạn ngữ về nội dung đã trở thành nếp suy nghĩ, thành phương
châm để nhận xét đời và người, là thành ngữ kết luận vấn đề trong cuộc sống’’.
Trên đây là những ý kiến tiêu biểu của một số nhà nghiên cứu, phê bình có liên
quan đến nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Xương. Trên thực tế đã có nhiều nhà
phê bình, nghiên cứu tham gia vào quá trình tìm hiểu về nghệ thuật thơ văn Tú
Xương. Song chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện và có hệ thống về
nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Xương. Người viết coi những ý kiến trên là gợi ý
để thực hiện đề tài: “ Tìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Xương”.
III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
3
Sáng kiến kinh nghiệm
Nghiên cứu đề tài này người viết hướng đến các mục đích sau:
- Thấy được đặc sắc nghệ thuật trong thơ trào phúng Tú Xương.

Chương I: Những vấn đề chung
Chương II: Nghệ thuật trào phúng trong thơ Tú Xương
- Phần kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Mục lục
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. KHÁI NIỆM TRÀO PHÚNG:
Khi tiến hành tìm hiểu nội dung khái niệm trào phúng người viết nhận thấy có
nhiều cách định nghĩa khác nhau, có thể kể đến những khái niệm sau:
Theo “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa như sau: trào phúng “Có tính chất gây
cười để châm biếm, phê phán” .
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Trào phúng là một loại đặc biệt của sáng
tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc nghệ thuật, trong đó các yếu tố của
tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước… những cái xấu
xa tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu trong xã hội. Trào phúng theo từ nguyên là dùng lời lẽ
bóng bẩy để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác. Song trong lĩnh vực văn học trào phúng
gắn liền với phạm trù mĩ học, cái hài hước và các cung bậc u mua, hài hước, châm
biếm”.
Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về khái niệm trào phúng
nhưng tóm lại có thể hiểu trào phúng là một thủ pháp để gây cười và dùng tiếng cười
để thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ của người nghệ sĩ trước con người và cuộc
sống.
5
Sáng kiến kinh nghiệm
II. CƠ SỞ NẢY SINH TIẾNG CƯỜI TRÀO PHÚNG TRONG THƠ TÚ
XƯƠNG:
1. Thực tiễn lịch sử
Phương pháp nghiên cứu văn học Mác xít đã khẳng định: “Tác giả - kể cả những

Gắn liền với sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế là sự thay đổi về cơ cấu giai tầng
trong xã hội. Nhiều tầng lớp giai cấp mới xuất hiện. Bắt đầu là sự xuất hiện trong các
công sở và tư sở của bọn chủ mới những thông ngôn, kí lục, thầu khoán, tổng đốc, y
tá, bên cạnh đó là những bồi, những bếp, nhà thổ, me Tây, đĩ điếm,… phương thức
sản xuất mới, sự thay đổi trong đời sống nhân dân đã dần hình thành các đô thị và
làm xuất hiện những giai tầng mới đặc biệt là giai tầng tư sản thành thị. Điều này đã
được tác giả Trần Thanh Mại ghi nhận “tình hình biến chuyển đó của xã hội Việt
Nam không đâu dễ nhận thấy, dễ nhận bằng Nam Định. Nam Định chính là hình ảnh
thu nhỏ lại rõ nét hơn của xã hội Việt Nam trong giai đoạn đầu của thực dân Pháp”.
Đi đôi với sự chuyển biến về kinh tế, bộ mặt bên ngoài cũng như cơ cấu bên
trong của xã hội đều trải qua sự biến đổi sâu sắc. Đây là lúc phong hoá suy đồi, thời
thế điên đảo, là lúc nho phong tàn bạo, sĩ khí tiêu điều, bút lông thất thế, bút chì gặp
thời. Sự chuyển biến này có ảnh hưởng lớn đến Tú Xương và hình tượng nghệ thuật
mà ông phản ánh.
Về văn hoá xã hội:
Cùng với cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp còn thi hành những chính sách
văn hoá nhằm cai trị và thuần hoá nhân dân ta. Khi Tú Xương bước vào tuổi trưởng
thành cũng là lúc nền văn hoá Việt Nam đã có sự biến chuyển to lớn, từ một nền văn
hoá thuần phong kiến, Pháp đã thi hành chính sách duy trì nền nho học và chế độ
phong kiến để kìm kẹp nước ta trong vòng tăm tối, lạc hậu, không phát triển và giao
lưu với các luồng tư tưởng bên ngoài nhằm bảo vệ quyền thống trị. Đồng thời với
việc duy trì nền văn hoá lỗi thời, lạc hậu chúng còn đưa vào chương trình những môn
học mới như: Toán, Pháp văn, Địa lí… và đây cũng là những môn học trong các khoa
thi từ 1903 trở đi. Sự thay đổi của chế độ thi cử từ Hán học sang Pháp văn là một
7
Sáng kiến kinh nghiệm
trong những nhân tố gây ảnh hưởng đến con người cũng như hình tượng nhân vật và
ngôn ngữ trong thơ văn Tú Xương.
Từ sự suy vong của đất nước, sự biến đổi về chính trị, văn hoá, xã hội, sự xâm
nhập của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với sự lên ngôi của thế lực đồng tiền đã tạo ra

đều đặn ba năm một lần người ta đều thấy có mặt Tú Xương ở trường thi không sót
một khoa nào. Mãi đến năm 24 tuổi Tú Xương mới đỗ tú tài khoa Giáp Ngọ (1894).
Song với mảnh bằng tú tài Tú Xương cũng không làm được quan chức gì, nhà thơ lại
cậy cục vác lều chõng đi thi.
Đối với Tú Xương, thi cử đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong cuộc đời
ngắn ngủi của ông. Nhà thơ đã tự phản ánh trong thơ mình nhiều chuyện về thi cử
của cá nhân ông. Tú Xương hỏng thi “tám năm chưa khỏi phạm trường quy” là do
“văn chương ngoại hạng không quan chấm” nhưng thực chất đó là do sự phá vỡ, kèn
cựa của chế độ xã hội đương thời với cá tính của một nghệ sĩ phóng khoáng, tài hoa.
Những thứ phép tắc gò bó của trường thi thực dân bán phong kiến đã khiến cho tài
năng nhà thơ bị vùi lấp. Thi cử không đỗ đạt đã ảnh hưởng lớn đến cuộc đời và tâm lí
của nhà thơ tạo ra sự chán nản, trào lộng ngông nghênh với đời.
Mặt khác, cuộc sống sinh hoạt của gia đình ông cũng gặp nhiều khó khăn, nghèo
túng. Sống ở giữa thành thị nhưng gia đình Tú Xương quanh năm sống trong cảnh
túng thiếu. Tú Xương là một trí thức nhưng lại thất nghiệp không giúp được gì cho
gia đình, nguồn sống chỉ trông cậy vào sự đảm đang, tháo vát của bà Tú. Cuộc sống
“ăn bám” vợ, không lo nổi cho gia đình luôn ám ảnh trong ông và có lúc nhà thơ đã tếu
táo, trào lộng mình một cách chua xót.
Ngày rằm tháng Chạp năm Bính Ngọ, tức ngày 20/1/1907, Tú Xương về quê
ngoại ăn giỗ, đi đường gặp mưa, trời lại rét, ông bị cảm nặng và mất ngay đêm ấy ở
nhà họ ngoại thuộc làng Đại Tứ, lúc ấy nhà thơ mới 37 tuổi đời.
Tóm lại, cuộc đời của Tú Xương là cuộc đời của một nghệ sĩ long đong, lận đận
trên con đường thi cử và ngay trong cuộc sống gia đình ông cũng gặp nhiều trắc trở.
Cuộc sống ở thành thị (Thành Nam) với bao bộn bề, xô bồ đã làm nên nét cốt cách,
tâm hồn phong phú trong con người nhà thơ. Một Tú Xương tự do phóng khoáng
vượt mình ra khỏi những phép tắc nho gia để sống với bản ngã của mình. Bên cạnh
con người với “cái tôi” tự khẳng định, Tú Xương đã dựng lên được những hình tượng
đặc sắc làm nên bức tranh sinh động của xã hội trong buổi giao thời và chính hiện
9
Sáng kiến kinh nghiệm

Sau khi chiếm được toàn bộ đất nước ta, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai
thác thuộc địa lần thứ nhất. Chính cuộc khai thác này đã làm cho xã hội Việt Nam có
sự chuyển biến mạnh mẽ, trong xã hội xuất hiện nhiều tầng lớp mới. Bằng cảm quan
nhạy bén của người cầm bút và tấm lòng của một nhà nho phong kiến thất thế, Tú
Xương đã “thâu tóm” rất sinh động những người, những cảnh,… trong xã hội buổi
giao thời ấy vào thơ.
Trong thơ ông thực dân Pháp hiện lên với bộ mặt hống hách ngang ngược:
Hà Nam danh giá nhất ông Cò
Trông thấy ai ai chẳng dám ho
Hai mái trống toang đành chịu dột
Tám giờ chuông đánh phải nằm co
Người quên mất thẻ âu trời cãi
Chó chạy ra đường có chủ lo.
(Ông Cò)
“Ông Cò” hiện ra với uy quyền lớn lao của mình, ai thấy cũng phải sợ. Nhưng
mạch ngầm mà Tú Xương kín đáo muốn gửi gắm qua đây là thái độ lên án sự hà khắc
cùng những thiết chế quân luật ngặt nghèo, hết sức vô lí của bọn thực dân Pháp. Cấm
nhân dân nghèo lợp lại nhà để buộc dân phải di cư đi nơi khác, hơn nữa việc đi lại
của người dân cũng bị kiểm soát gắt gao.
Đến xâm lược nước ta bọn thực dân Pháp đã tự cho mình có quyền sinh, quyền
sát. Chúng nắm quân luật nước ta, đi lại nghênh ngang trên đường phố của ta, ngay cả
trường thi chữ Hán – nơi tôn nghiêm uy quyền của chế độ phong kiến cũng có mặt
bọn chúng:
Nhà nước ba năm mở một khoa
Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Lọng cắm rợp trời, quan sứ đến
Váy lê quét đất mụ đầm ra.
11
Sáng kiến kinh nghiệm

thơ có thể coi là tiêu biểu cho tinh thần phê phán nghiêm chỉnh của nhà thơ.
Nếu như Nguyễn Khuyến mượn lời vợ người hát chèo để tước đi vẻ uy nghiêm
vốn có của vị vua mang sứ mệnh “trị quốc an dân” nhưng hoá ra bọn quan này chỉ là
những tên rối, vai hề lố bịch:
Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.
(Lời vợ anh phường chèo – Nguyễn Khuyến)
Thì Tú Xương trong bài “Hát tuồng” đã lợi dụng đặc điểm của loại hình nghệ
thuật này khi diễn viên lên sân khấu phải vẽ mặt, đội mũ, nhà thơ đả kích tính chất
bịp bợm, giả dối làm tay sai của bọn quan lại trên sân khấu chính trị bấy giờ:
Nào có ra chi lũ hát tuồng
Cũng hò cũng hát cũng y uông
Dẫu rằng dối được đàn con trẻ
Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn !
(Hát tuồng)
Đối với bọn quan lại, Tú Xương ghét và khinh bỉ. Ông ghét vì chúng chỉ giỏi
luồn lót Tây, bợ đỡ Tây để được làm quan mà bóp nặn nhân dân. Ông khinh vì chúng
dốt nát, hèn hạ. Quan lại thời Tú Xương là những quan lại lố lăng, bẩn thỉu, đê tiện. Tú
Xương đã nói rõ tình trạng ấy trong bài “Phố Hàng Song”:
Ở phố Hàng Song thật lắm quan
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang
Chồng chung vợ chạ kìa cô Bố
Đậu lạy quan xin nọ chú Hàn.
(Phố Hàng Song)
Tú Xương còn vạch trần thói tham ô, ăn hối lộ của đám quan lại “quan thấy kiện
như kiến thấy mỡ”; “tiền vào quan như than vào lò”. Nhà thơ Nguyễn Khuyến từng
lợi dụng một cuộc vịnh Kiều để đả kích kín đáo:
13
Sáng kiến kinh nghiệm
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ?

của bọn quan lại trong xã hội phong kiến thuần tuý nữa mà có cái gì phảng phất hình
bóng của bọn quan lại sống dưới chế độ thực dân. Nói như nhà nghiên cứu Nguyễn
Văn Hoàn “thơ châm biếm đả kích của Tú Xương cứ như một ngọn roi quất thẳng
vào mặt đối phương không thương tiếc” .
Dựng lên bức chân dung của những kẻ thuộc giới quan lại mỗi người một vẻ,
đầy sắc cạnh. Tú Xương đã lột trần được bản chất làm tay sai của chúng. Đồng thời
vạch ra bản chất tham ô của những kẻ chuyên đi lừa lọc bóc lột nhân dân để “vinh
thân phì gia”. Không cần kín đáo, dè dặt Tú Xương vạch mặt, chỉ thẳng từng tên,
từng đối tượng cụ thể, rõ ràng đích danh để tố cáo. Qua hình tượng quan lại phong
kiến chúng ta thấy được bức tranh sinh động của xã hội Việt Nam trong cơn cựa
mình, chuyển giao từ giai đoạn phong kiến sang giai đoạn thực dân bán phong kiến.
Tú Xương đã đem đến cho văn học dân tộc những bức hí hoạ đầu tiên về đời sống của
giới quan lại cuối thế kỉ XIX.
c. Hình tượng các bậc khoa bảng
Trong bức tranh chung về xã hội của nhà thơ thì hình tượng các bậc sĩ tử đi thi,
những ông Cử, ông Tú, cảnh trường thi hiện lên rõ nét với bộ mặt thảm hại. Hiện
tượng đó đã được Tú Xương phản ánh rõ nét trong bài “Đạo học”.
Đạo học ngày nay đã chán rồi
Mười người đi học, chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi
Sĩ khí rụt rè, gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh, đấm ăn xôi.
(Đạo học)
Đọc bài thơ ta cảm thấy xót xa trước sự suy vi của đạo học nước nhà. Đạo học
ngày xưa với những quy cách nho nhã, sự thông thạo thi, thư, lễ, nhạc thì đạo học
15
Sáng kiến kinh nghiệm
ngày nay “đã chán rồi”. Sự xuống dốc của đạo học tập trung ở hình ảnh cô hàng sách
“lim dim ngủ” vì không còn ai mua sách chữ Nho nữa. Thầy khoá tư lương thì “nhấp

Quanh năm phong vận, áo hàng Tàu,
khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh.
Ra phố nghênh ngang quần tố nữ,
bít tất tơ, giầy Gia Định bóng.
(Phú hỏng thi khoa Canh Tý)
Sinh ra và lớn lên trong thời đại nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu manh nha,
Tú Xương đã nếm trải mọi thói đời đen bạc. Nhà thơ không hề giấu giếm khi viết về
sự ăn chơi của mình:
Vị Xuyên có Tú Xương
Dở dở lại ương ương
Cao lâu thường ăn quỵt
Thổ đĩ lại chơi lường.
(Tự vịnh)
Vẫn giọng điệu ấy nhà thơ hài hước khi bộc lộ:
Một trà một rượu một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái gì hay cái đấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà.
(Ba cái lăng nhăng)
Cả cuộc đời Tú Xương 20 năm lận đận trên con đường cử nghiệp, tám năm “tấp
tểnh” đi thi nhà thơ chỉ may mắn đỗ một lần với học vị “tú tài”.
Ngoài việc thi cử, cuộc sống nghèo túng của gia đình cũng để lại dấu ấn rõ nét
trong thơ Tú Xương, ở đó nhà thơ bộc lộ chân thành cảnh ngộ của mình:
Cái khó theo nhau mãi thế thôi,
Có ai, hay chỉ một mình tôi?
Bạc đâu ra miệng mà mong được?
17
Sáng kiến kinh nghiệm
Tiền chưa vào tay đã hết rồi !.
(Than nghèo)

trạng xã hội đương thời. Hiện lên trong thơ là bức chân dung một con người có vẻ ăn
chơi, tài hoa phóng khoáng nhưng ẩn đằng sau đó là một con người đời thường giản
dị, gắn bó với cuộc đời. Chính hai bức chân dung ấy đã tạo nên một Tú Xương tài
năng đặc biệt của thời đại.
II. NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRÀO PHÚNG:
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính
đặc trưng của văn học, là yếu tố có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày. Nói
như M. Gorki “yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và
cùng với sự vật, hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học”.
Và theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn trong bài viết: “Nhà thơ Trần Tế
Xương” đã nhận định: “Sức mạnh của thơ Tú Xương là ở tài sử dụng ngôn ngữ… Tú
Xương cùng với Nguyễn Khuyến là bậc thầy về vận dụng ngôn ngữ dân tộc. Ngôn
ngữ trong thơ văn Tú Xương giản dị mà giàu hình ảnh, cảm xúc mà linh hoạt sắc
bén…”.
Như vậy, việc sử dụng ngôn ngữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong thơ trào
phúng Tú Xương, bởi nó là chất liệu trong văn học, gần gũi với lời ăn tiếng nói của
nhân dân.
1. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đời sống:
Ngôn ngữ đời sống là ngôn ngữ được dùng để giao tiếp hàng ngày. Đối với một
đất nước có truyền thống nghìn năm văn hiến như Việt Nam thì ngôn ngữ đã có quá
trình biến đổi lâu dài để cuối cùng đạt được sự hoàn chỉnh như ngày nay. Vận dụng
vốn ngôn ngữ phong phú, đa dạng của dân tộc, Tú Xương đã sáng tạo nên những bài
thơ trào phúng đặc sắc.
a. Đại từ nhân xưng
Nếu như ở các tác giả văn học trung đại trước đó việc sử dụng đại từ nhân xưng
trong thơ còn ít thì đến Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến đại từ nhân xưng được sử
19
Sáng kiến kinh nghiệm
dụng nhiều hơn, và đã có sự phá cách, đưa vào trong thơ là hình ảnh tiếng nói của
bản thân mình. Tuy nhiên phải đến Tú Xương việc sử dụng đại từ nhân xưng mới trở

Cũng lều cũng chõng cũng đi thi.
(Đi thi)
Đấy là cái dáng mệt mỏi, chán nản của nhưng anh học trò đi thi với mong ước
được xướng danh khoa bảng. Tú Xương đi thi nhưng đi như một quán tính, mội thói
quen “người đi tớ cũng đi”. Thi mãi mà vẫn trượt, nhà thơ đau buồn nghĩ đến cái
chết:
Hễ mai tớ hỏng tớ đi ngay
Giỗ chết từ đây nhớ lấy ngày.
(Hễ mai tớ thi hỏng)
Nhà thơ còn tự xưng mình là “ông” với nhiều cung bậc sắc thái khác nhau nhưng
chủ yếu là để đùa mình. Đó là cái cười “ngông nghênh” của buổi đầu hỏng thi:
Ông trông lên bảng thấy tên ông
Ông tớp rượu vào ông nói ngông.
(Đi thi nói ngông)
Là sự mỉa mai, phê phán đối với việc thi cử đương thời:
Ông có đi thi kí lục không?
Nghe ông quốc ngữ đọc chưa thông
Ví dù nhà nước cho ông đỗ
Mỗi tháng lương ông được mấy đồng.
(Hỏi đùa mình)
Có khi, nhà thơ bộc lộ sự bất bình của mình trước thói đời đen bạc. Giọng thơ
gay gắt, phê phán nhưng ẩn chứa nỗi xót xa, tủi cực:
Người bảo ông điên, ông chẳng điên
Ông thương, ông tiếc hoá ông phiền

21
Sáng kiến kinh nghiệm
Khi cười khi khóc khi than thở
Muốn bỏ văn chương học võ biền.
(Thói đời)

Tú Xương miêu tả không khí tết khi mùa xuân về với hàng loạt những âm
thanh vui nhộn:
Đì đẹt trước sân hàng pháo chuột
Loẹt lòe trên vách bức tranh gà
Chí cha chí chát khua giày dép
Đen thủi đen thui cũng lượt là.
(Xuân)
Trong xã hội buổi giao thời ấy thì những kẻ “đạo đức giả” xuất hiện ngày càng
nhiều:
Hỏi lão đâu ta? Lão ở Liêm
Trông ra bóng dáng đã hom hem
Lắng tai non nước nghe chừng nặng
Chớp mắt trăng hoa, giả cách nhèm
Cũng đã sư mô cùng đứa trẻ
Lại còn tấp tểnh với đàn em.
(Đạo đức giả)
Sử dụng từ láy “hom hem”, “tấp tểnh” nhà thơ đã gợi ra bóng dáng của những
kẻ làm ra vẻ mô phạm, đạo đức nhưng thực chất lại là loại người đểu giả trăng hoa.
Lão giả vờ ốm yếu, nghễnh ngãng nhưng để “chớp mắt trăng hoa” nhìn gái. Giọng
thơ của Tú Xương tỏ ra đùa cợt, bông lơn, giễu nhại đối với loại người này.
Với những từ tượng thanh Tú Xương đã làm nổi bật được sự hỗn loạn, xô bồ
của thời cuộc trong buổi giao thời. Đặc biệt hơn, Tú Xương còn sử dụng hiệu quả
những từ ngữ tượng hình có tác dụng gợi ra những ấn tượng về hình dáng, tính chất
23
Sáng kiến kinh nghiệm
của sự vật, sự việc và con người, nhà thơ làm nổi bật lên đối tượng cần châm biếm,
đả kích.
Một tên “bợm già” xảo quyệt nhìn bề ngoài có vẻ là người sang trọng khi ra
phố cũng “xênh xang” nhưng lại là một tên lừa đảo lúc đóng vai thầy số, thầy lang
luồn lọt vào các công sở để xui nguyên dục bị kiện cáo nhau. Nhà thơ mỉa mai:

thì đùa vui, hóm hỉnh. “mỗi bài thơ của Tú Xương như một bức hí hoạ ông khéo vận
dụng những tiếng có sắc cạnh, có màu sắc âm thanh để diễn tả một sự vật, một hoàn
cảnh” .
c. Khẩu ngữ
Khẩu ngữ là những lời ăn, tiếng nói trong đời sống hằng ngày của nhân dân.
Với truyền thống lâu đời, trải qua biết bao thăng trầm biến cố của lịch sử nhân dân ta
vẫn giữ được những nét đặc sắc của vốn ngôn ngữ dân tộc.
Vận dụng vốn ngôn ngữ mang tính khẩu ngữ của dân tộc, Tú Xương đã bày tỏ
thái độ mỉa mai, trào phúng của mình đối với những kẻ “vừa dốt lại vừa ngu”, những
kẻ dốt nát dựa vào bóng của người khác để đỗ đạt. Nhà thơ bật lên tiếng chửi:
- Văn chương nào phải là đơn thuốc
Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu.
(Bác Cử Nhu)
- Thi thế mà cũng thi
Ới khỉ ơi là khỉ.
(Than sự thi)
- Trời dậy thì bay chết bỏ đời.
(Hót của trời)
Là một câu chửi thẳng xỏ xiên vào mặt cậu ấm:
-Thằng tiểu Phù Long nó “chửi” mày.
(Chửi cậu ấm)
Đó còn là tiếng chửi những kẻ có tiền mà keo kiệt không chịu giúp người khác:
-Cha thằng nào có tiếc không cho.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status