xây dựng và sử dụng chuyên đề về dòng điện không đổi (vật lý 11) hỗ trợ bồi dưỡng học sinh giỏi - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM VĂN THỊ YẾN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CHUYÊN ĐỀ
VỀ "DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI" (VẬT LÝ 11)
HỖ TRỢ BỒI DƢỠNG HỌC SINH GIỎI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn văn Khải THÁI NGUYÊN, NĂM 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trính nghiên cứu của tôi, các số liệu trìch dẫn
có nguồn gốc rõ ràng. Kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công
trính nghiên cứu nào khác.

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2013
Tác giả luận văn
Văn Thị Yến
Mục lục iii
Danh mục các kì hiệu, các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hính vẽ, đồ thị vi
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ LÝ VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ BỒI DƢỠNG HSG 5
1.1. Tổng quan 5
1.2. Cơ sở lì luận 6
1.2.1. Quan niệm về học sinh giỏi 6
1.2.2. Các dấu hiệu của chất lượng kiến thức 8
1.2.3. Cơ sở tâm lý học và giáo dục học của dạy học phân hóa 8
1.3. Các hính thức và phương pháp bồi dưỡng HSG môn vật lý ở trường THPT 11
1.3.1. Các hính thức bồi dưỡng HSG môn vật lý ở trường THPT 11
1.3.2. Các phương pháp bồi dưỡng HSG môn vật lý ở trường THPT 12
1.3.2.1. Phương pháp tự học 13
1.3.2.2 Học tập hợp tác theo nhóm nhỏ 15
1.3.2.3. Dạy học tương tác 17
1.4. Kiến thức, kĩ năng, năng lực của HSG 20
1.5. Chuyên đề và sử dụng chuyên đề trong bồi dưỡng HSG môn vật lý ở
trường THPT 20
1.5.1. Khái niệm chuyên đề 20
1.5.2. Cấu trúc chuyên đề: 20
1.5.3. Phương pháp sử dụng chuyên đề trong bồi dưỡng HSG môn vật lý ở
trường THPT 20
1.6. Nghiên cứu thực trạng về dạy học và bồi dưỡng HSG ở các trường PT và
các kiến thức chương "Dòng điện không đổi". 21
1.6.1. Tím hiểu về thực trạng bồi dưỡng HSG ở các trường PT 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2.4.2. Đề kiểm tra số 2 86
2.4.3. Đề kiểm tra số 3 88

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Kết luận chương 2 91
Chƣơng 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 92
3.1. Mục đìch và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạ m 92
3.1.1. Mục đìch của thực nghiệm sư phạm 92
3.1.2. Nhiệ m vụ của thực nghiệm sư phạm 92
3.2. Đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm 92
3.2.1. Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 92
3.2.2. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 93
3.3. Khố ng chế tá c độ ng ả nh hưởng đế n kết quả thực nghiệm sư phạm 93
3.4. Chuẩ n bị cho thực nghiệ m sư phạ m 94
3.4.1. Chọn lớp thực nghiệ m 94
3.4.2. Các bài thực nghiệm sư phạ m 94
3.5. GV cộ ng tác thực nghiệm sư phạ m 94
3.6. Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạ m 95
3.6.1. Các căn cứ để đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 95
3.6.1.1. Khả năng nắm vững kiến thức của HS khi tổ chức bồi dưỡng HSG theo
hướ ng sử dụng chuyên đề. 95
3.6.1.2. Khả năng nâng cao chất l
ượng nắm vững kiến thức
95
3.6.2. Đánh giá, xếp loại 96
3.7. Tiến hành thực nghiệm sư phạ m 96
3.7.1. Lịch giảng dạy thực nghiệm 96
3.7.2. Diễ n biế n thực nghiệ m sư phạ m 97
3.7.3. Kết quả và xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 97

học sinh giỏi
HSG
kiểm tra
KT
phương pháp
PP
phương pháp dạy học
PPDH
thực nghiệm
TN
trung học phổ thông
THPT
sách giáo khoa
SGK
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các bài dạy chương: " Dòng điện không đổi" 27
Bảng 3.1: Đặc điểm chất lượng học tập củ a các học sinh trong đội tuyển của 4
trường 94
Bảng 3.2: Lịch giảng dạy các bài ở lớ p thực nghiệm 96
Bảng 3.3: Bảng phân phối thực nghiệm - Bài kiểm tra số 1 100
Bảng 3.4: Bảng xếp loại bài kiểm tra số 1 100
Bảng 3.5: Bảng phân phối tần suất – Bài kiểm tra số 1: 101
Bảng 3.6: Bảng kết quả tình các tham số thống kê – Bài kiểm tra số 1 101

1. Lý do chọn đề tài
Lúc sinh thời chủ tịch Hồ Chì Minh đã rất quan tâm tới sự nghiệp giáo dục của
nước nhà. Nhân ngày khai trường đầu tiên người đã viết thư gửi các học sinh và trong
thư người đã căn dặn: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc
Việt Nam có được vẻ vang sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không chình
là hờ một phần lớn ở công học tập của các cháu". Thực hiện lời dạy của người đảng
và nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo: "Giáo dục đào tạo
cùng khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu". Trong những năm qua, với sự quan
tâm của đảng, Nhà nước, toàn xã hội và sự nỗ lực phấn đấu của ngành giáo dục sự
nghiệp giáo dục đào tạo đã có những chuyển biến tìch cực: Ngân sách đầu tư cho giáo
dục nhiều hơn, cơ sở vật chất kĩ thuật được tăng cường, quy mô giáo dục được mở
rộng, trính độ dân trì được nâng lên. Những tiến bộ ấy đã góp phần to lớn vào công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chúng ta đang sống trong một thế giơì diễn ra sự bùng nổ khoa học công
nghệ do đó sự nghiệp GD- ĐT giữ vai trò quan trọng trong việc: "Nâng cao dân trì,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" để thực hiện thành công công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Song
song với việc phổ cập giáo dục thí Đảng và Nhà nước ta đã chỉ rõ vai trò quan trọng
của việc bồi dưỡng người tài, phát hiện các học sinh có năng khiếu ở trường phổ
thông và có kế hoạch đào tạo họ trở thành những cán bộ khoa học nòng cốt. "Bồi
dưỡng nhân tài" là một nội dung quan trọng đã được nhấn mạnh trong nhiều nghị
quyết của đảng và nhà nước. Không chỉ nước ta mà tất cả các nước khác trên thế giới
đều coi trọng việc đào tạo và bồi dưỡng nhân tài trong chiến lược phát triển chương
trính giáo dục phổ thông.
Yêu cầu đó đặt ra cho nghành giáo dục ngoài việc giáo dục phát triển toàn diện
còn có chức năng phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG), đào tạo và phát triển
họ thành những nhà khoa học mũi nhọn trong từng lĩnh vực. Lĩnh vực vật lý trong
tương lai không xa nền công nghiệp chế tạo và công nghiệp phụ trợ của nước ta sẽ
phát triển vượt bậc, nhanh chóng. Dẫn đến nhu cầu về các cán bộ, kĩ sư có trính độ
cao trở nên không thể thiếu. Ví vậy việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi môn vật

Nếu xây dựng được và sử dụng hợp lý chuyên đề "Dòng điện không đổi" theo
hướng phát huy tình tìch cực, tự lực, sáng tạo thí sẽ góp phần nâng cao chất lượng bồi
dưỡng HSG vật lý ở trường THPT.
5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trính dạy học (DH) vật lý ở trường phổ thông.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về: Chuyên đề, xây dựng và sử dụng chuyên đề, bồi
dưỡng HSG và chất lượng kiến thức.
Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng chuyên đề về "Dòng
điện không đổi"
Các phương pháp sử dụng hệ thống lý thuyết - bài tập phần dòng điện không
đổi trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.
Nghiên cứu ND chương trính, SGK và xây dựng cấu trúc logic ND có liên
quan đến "Dòng điện không đổi" Vật lì lớp 11.
Chuẩn kiến thức kỹ năng về "Dòng điện không đổi" Vật lì lớp 11.
Hệ thống lý thuyết - bài tập phần " Dòng điện không đổi" dùng bồi dưỡng học
sinh giỏi.
Nghiên cứu các bài giảng về dòng điện không đổi, sưu tầm đề thi học sinh
giỏi các cấp có liên quan.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Các chuyên đề (CĐ) trọng tâm phần dòng điện không đổi dùng
bồi dưỡng HSG.
- Đối tượng: Giáo viên (GV) dạy vật lý ở trường THPT, GV ôn đội tuyển
HSG, HS trong các đội tuyển HSG vật lý.
- Địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Hiệp Hòa 1, THPT Hiệp Hòa 2.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu

- Nội dung luận văn sẽ là tư liệu bổ ìch cho các GV giảng dạy các lớp chọn và
bồi dưỡng đội tuyển HSG vật lý THPT phần dòng điện không đổi.
9. Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh sách tài liệu tham khảo và phụ lục dự kiến
nội dung của đề tài gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chuyên đề bồi dưỡng
HSG
Chương 2: Xây dựng và sử dụng chuyên đề bồi dưỡng HSG về dòng điện
không đổi vật lý 11.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ LÝ VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
XÂY DỰNG CHUYÊN ĐỀ BỒI DƢỠNG HSG
1.1. Tổng quan
Từ xưa đến nay ông cha ta đều xem nhân tài là nguyên khì của quốc gia. Bia
tiến sĩ ở Văn miếu - Quốc tử giám còn ghi: "Hiền tài là nguyên khì của quốc gia,
nguyên khì mạnh thịnh thí thế nước mạnh và ngày càng lên cao, nguyên khì suy thí thế
hèn và ngày càng xuống cấp cho nên các bậc thánh đế minh vương đời xưa chẳng có đời
nào lại không chăm bón nhân tài, bồi dưỡng nguyên khì cho đất nước"- Bia đầu tiên của
đời Lê Thánh Tông- năm 1942.
Ngày nay Đảng, nhà nước và nhân dân ta cũng đã hết sức chú ý đến việc bồi
dưỡng nhân tài bằng cách lập các trường chuyên môn huấn luyện chình trị, nhân
tài….Trong các trường PT không chuyên ở mỗi khối đều chọn ra 1,2 lớp chọn để bồi
dưỡng và phát triển năng lực của các em.
Trong tài liệu "Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới" - NXB GD-
2008 của tác giả Thái Duy Tuyên [33] đã giành một chương để viết về công tác bồi

Trọng Bái …
Các nghiên cứu và tài liệu tham khảo về bài tập Vật lì thực sự đã đem lại nguồn
tài liệu phong phú và thực sự hữu ìch cho giáo viên Vật lì và học sinh.
1.2. Cơ sở lí luận
1.2.1. Quan niệm về học sinh giỏi
Quan niệm về học sinh giỏi
Hầu như tất cả các nước trên thế giới đều coi trọng vấn đề đào tạo và bồi
dưỡng HSG trong chiến lược phát triển chương trính giáo dục phổ thông. Luật bang
Georgia (Hoa Kỳ) định nghĩa HSG như sau:“HSG là học sinh chứng minh được trì
tuệ ở trính độ cao và có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt và
đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết hoặc khoa học; là người cần một sự giáo dục đặc
biệt để đạt được trính độ tương ứng với năng lực của người đó”
Cơ quan Giáo dục Hoa Kỳ miêu tả khái niệm HSG: “Học sinh giỏi là những
học sinh có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnh vực trì
tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật, hoặc các lĩnh vực lì thuyết chuyên
biệt. Những HS này thể hiện tài năng đặc biệt của mính từ tất cả các bính diện xã hội,
văn hóa và kinh tế”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Nhiều nước quan niệm: HSG là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trì
tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lì thuyết. HSG có thể
học bằng nhiều cách khác nhau và tốc độ nhanh hơn so với các bạn cùng lớp. Những
học sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động không theo những điều kiện
thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu trên [25].
Quan niệm về giáo dục học sinh giỏi
Trên thế giới việc phát hiện và bồi dưỡng HSG đã có từ rất lâu. Ở Trung Quốc,
từ đời nhà Đường những trẻ em có tài đặc biệt được mời đến sân Rồng để học tập và
được giáo dục bằng những hính thức đặc biệt.
Ở châu Âu trong suốt thời Phục hưng, những người có tài năng về nghệ thuật,

Tình chình xác: tình chình xác của kiến thức được đặc trưng bởi sự phù hợp của nội
dung biểu đạt và nội dung khoa học.
Tình khái quát: tình khái quát của kiến thức được đặc trưng bởi khả năng phản
ánh, biểu đạt những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ánh.
Tình hệ thống: tình hệ thống của kiến thức được đặc trưng bởi sự hính thành
kiến thức trong mối liên hệ của hệ thống các kiến thức.
Tình áp dụng được: tình áp dụng được được đặc trưng bởi khả năng sử dụng
được kiến thức trong hành động nhận thức hoặc thực tiễn.
Tình bền vững: tình bền vững của kiến thức được đặc trưng bởi sự chắc chắn ổn
định của kiến thức có thể huy động và áp dụng được khi cần [11].
1.2.3. Cơ sở tâm lý học và giáo dục học của dạy học phân hóa
Cơ sở tâm lý học
Đầu thế kỉ XX đã xuất hiện hai lý thuyết phát triển của J.Piaget và Vưgotxky.
Các nhà giáo dục coi đây là thành tựu quan trọng nhất của tâm lý học phát triển và
dùng nó để xây dựng các phương pháp dạy học mới.
J.Piaget cho rằng: Người học đóng vai trò chủ động trong việc thìch nghi với
môi trường xung quanh. Sự thìch nghi này diễn ra ngay từ lúc lọt lòng mẹ và đó là sự
phát triển tự nhiên sinh học và việc học tập kinh nghiệm của xã hội. Trong khi đứa trẻ
chủ động khám phá thế giới thí cấu trúc nhân cách cũng phát triển và biến đổi không
ngừng. Theo học thuyết của J.Piaget trong quá trính nhận thức (trong đó có nhận thức
của con người) được chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ 0 - 2 tuổi trẻ biết bắt trước các hoạt động của người khác,
nhận biết đồ vật bằng cách cầm nắm chúng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Giai đoạn 2: Từ 2 - 7 tuổi, phát triển ngôn ngữ nhận biết các biểu tượng thể
hiện như tranh vẽ, chữ viết, các con số, phân loại đồ vật theo các đặc điểm giống
nhau, bước đầu hiểu được quy luật nguyên nhân - kết quả.
Giai đoạn 3: Từ 7 - 11 tuổi, biết sử dụng phép logic, hiểu được các quy luật

nắm với thời gian cho phép. Nếu có phương án đúng để giả quyết mâu thuẫn này thí
tính trạng quá tải sẽ tiếp tục tăng và đặc biệt nặng nề với HS có sức học trung bính.
Nhưng nếu giảm nhịp độ và khối lượng chiều sâu tri thức thí HS có năng lực tốt sẽ
không hài lòng. Chỉ có dạy học phân hóa mới giải quyết được vấn đề này.
Thực tiễn cho thấy phần lớn HS có biểu hiện khá sớm đối với một số môn học.
Kết quả nghiên cứu tâm lý cho biết: Trước lớp 5 thí hứng thú của trẻ em còn dao
động với biên độ lớn, nhưng cuối cấp 2 thí hứng thú có vẻ bền vững hơn và kết quả
thực nghiệm các nhà GD đã xác nhận: Quá trính dạy học sẽ có kết quả và hiệu quả
hơn nhiều khi tổ chức lớp học theo hứng thú cùng một môn học [2].
Mặt khác sự phát triển tâm lý của HS cũng theo quy luật không đồng đều: Mặc
dù trong cùng một lứa tuổi, khả năng và sự phát triển trì tuệ của các em cũng không
giống nhau, hứng thú, nhu cầu và động cơ học tập cũng khác nhau. Chưa kể đến các
khác biệt về môi trường xã hội, gia đính và các điều kiện học tập. Sự khác biệt này
tạo nên bộ mặt riêng biệt trong sự phát triển tâm lý của HS.
Cơ sở giáo dục học
Một trong những nguyên tắc giáo dục quan trọng nhất của nhà trường XHCN là
phát triển năng khiếu và năng lực riêng của từng cá nhân. Ngay từ năm 1920 tại hội
nghị ban chấp hành Trung ương toàn liên bang nga A. V.Lunacharski đã nói: Chúng
ta không hiểu nhà trường truyền thống là nhà trường chỉ có một loại. Nhà trường
thống nhất là nhà trường như nhau đối với mỗi trẻ em. Nghĩa là có quyền bính đẳng
khi vào học và khi ra trường. Nhưng chúng ta cũng cho rằng nhà trường đặc biệt ở
bậc thứ 2 sẽ có nhiều hính thức. Nguyên tắc này đã được thực hiện thông qua các
hính thức cụ thể của việc học tập ở nhà trường. Chẳng hạn như các bài học tự chọn,
các lớp học nghiên cứu sâu hơn một môn học và những hoạt động ngoài giờ [22].
Khác với các nước tư bản việc dạy học phân biệt ở nhà trường XHCN được
thực hiện trên cơ sở thống nhất của các môn học ở nhà trường phổ thông. Như vậy
hính thức chủ yếu của việc nghiên cứu sâu hơn một bộ môn nào đó phù hợp với năng
khiếu và khả năng của HS không làm hại đến việc GD phổ thông. Những hính thức
học tập này cũng không dành ưu tiên cho một nhóm HS nào, tùy theo sở thìch mà HS
có thể tham dự được. Đồng thời việc học cũng không giành quyền ưu tiên cho việc

Cao đẳng đề nghị hoàn thành chương trính nhanh hơn để HS có thể học bậc học trên
sớm hơn. Nhưng hướng tiếp cận giới thiệu HSG với những tài liệu lì thuyết tương
ứng với khả năng của chúng cũng dễ làm cho HS xa rời xã hội.
Học tách rời (Pull-out) một phần thời gian theo lớp HSG, phần còn lại học lớp
thường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Làm giàu tri thức (Enrichment) toàn bộ thời gian HS học theo lớp bính thường,
nhưng nhận tài liệu mở rộng để thử sức, tự học ở nhà.
Dạy ở nhà (Homeschooling) một nửa thời gian học tại nhà học lớp, nhóm, học có
cố vấn (mentor) hoặc một thầy một trò (tutor) và không cần dạy.
Trường mùa hè (Summer school) bao gồm nhiều course học được tổ chức vào
mùa hè.
Sở thích riêng (Hobby) một số môn thể thao như cờ vua được tổ chức dành để
cho HS thử trì tuệ sau giờ học ở trường.
Trong nội dung nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung vào hai hính thức: Làm
giàu tri thức (Enrichment)và Học tách rời (Pull-out) vì hai hính thức này phù hợp với
các điều kiện ở Việt Nam nói chung và các trường PT không chuyên nói chung [25].
1.3.2. Các phƣơng pháp bồi dƣỡng HSG môn vật lý ở trƣờng THPT
Trong các trường THPT không chuyên, HS trong một khối lớp thường được
chia thành các lớp tương đối đồng đều kể cả về mặt số lượng và chất lượng. Trong
một lớp có cả HS giỏi, khá, trung bính và yếu kém. Nội dung kiến thức trong chương
trính giảng dạy đều nằm trong khung kiến thức của chương trính phổ thông. Trong
mỗi năm học, HS trong cùng một lớp được học tự chọn ba môn. Có hai hính thức học
tự chọn: Tự chọn bám sát chương trính chuẩn hoặc tự chọn nâng cao. Trừ môn toán
và môn văn, số lượng tiết học cho mỗi môn thường từ 18 đến 35. Nội dung dạy học
trong các tiết tự chọn đã được quy định trong phân phối chương trính và kế hoạch
giảng dạy của GV.
Căn cứ mục tiêu và nội dung dạy học đã đưa ra; căn cứ đặc điểm nội dung

Tự học dưới sự hướng dẫn của thầy như tự học của học sinh, sinh viên, thực
tập sinh, nghiên cứu sinh
Tự học không có sự hướng dẫn của thầy, trường hợp này liên quan đến những
người trưởng thành, những nhà khoa học.
Tự học trong cuộc sống: thường dành cho các nhà văn các nhà văn hóa, các
nhà chình trị xã hội.
Như vậy hính thức và đối tượng tự học là hết sức đa dạng và phong phú. Nhín
chung thí mỗi người đều tự tím tòi, đúc kết kinh nghiệm để xác định cho mính một
phương pháp tự học riêng. Tuy nhiên, đối với nhiều người, đó là việc làm không dễ.
Do đó, tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà GV cần trang bị cho
HS, ví nó không những giúp các em học tập tốt khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà
còn cần thiết cho sự phát triển lâu dài và thành đạt của mỗi HS trong trong tác và
cuộc sống sau này .

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Năng lực tự học
Theo từ điển Tiếng Việt thí: “Năng lực là phẩm chất tâm lì và sinh lì tạo cho
con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [34].
Theo PGS.TS Lê Công Triêm: “Năng lực tự học là khả năng tự mính tím tòi,
nhận thức và vận dụng kiến thức vào tính huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao”.
Như vậy, năng lực tự học có thể hiểu là phẩm chất sinh lì và tâm lì tạo cho con
người khả năng tự tím tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tính huống mới hoặc
tương tự với chất lượng cao.
Kĩ năng tự học
Theo Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những
kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn” [34].
Kỹ năng tự học là khả năng tự thu nhận, chiếm lĩnh kiến thức và vận dụng
chúng vào trong một lĩnh vực thực tiễn nào đó của người học.
Thực tế cho thấy một kỹ năng nào đó thường là tổ hợp của nhiều kỹ năng con

hợp lì về logic nội dung cũng như về thời gian. Điều đó sẽ giúp cho công việc được trôi
chảy và tiết kiệm.
1.3.2.2 Học tập hợp tác theo nhóm nhỏ
Khái niệm
Học tập hợp tác theo nhóm được đánh giá là hính thức tổ chức dạy học có hiệu
quả cao được nhiều nước phát triển áp dụng và được nhiều nhà lì luận dạy học nghiên
cứu như kurt Lrvin, Morton Deutsch đề xuất, khởi sướng được phát triển bởi các nhà
khoa học: E.Aronson, R.Slavin, S.Kagan, D.W.Johnson.
Học tập hợp tác từ trước đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau, song nhín
chung chúng được hiểu là phương pháp học trong đó HS dưới sự hướng dẫn của giáo
viên phối hợp cùng nhau trong những nhóm nhỏ dể hoàn thành mục đích chung của
nhóm đã đặt ra [32].
Những nét đặc thù của học hợp tác.
Học hợp tác trong nhóm có những đặc thù sau:
Hoạt động xây dựng nhóm: Đòi hỏi sự nỗ lực của từng cá nhân (nhóm thường
giới hạn 4 - 5 thành viên do giáo viên phân công, trong đó có tình đến tỉ lệ cân đối về
sức học, giới tình, thành phần bản thân học sinh … hoặc có thể cho học sinh tự chọn).
Các thành viên trong nhóm cùng chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo nhóm, trực tiếp trao đổi
với nhau.

Trích đoạn Học tập hợp tác theo nhóm nhỏ Phân loại các dạng bài tập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status