Đánh giá khả năng keo tụ và làm mềm nước của vật liệu hạt chùm ngây - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
 HÀ VŨ HUY

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KEO TỤ VÀ LÀM MỀM
NƯỚC CỦA VẬT LIỆU HẠT CHÙM NGÂY
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA PHÂN TÍCH Thái Nguyên, n
Thái Nguyên, n
ăm 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn. Với lòng kính
trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa Hóa trường Đại học Sư
Phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập và hoàn thành luận văn.
Phó giáo sư - Tiến sĩ Tạ Thị Thảo cùng toàn thể các quý thầy cô Bộ môn Hóa
Phân tích trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nỗi đã hướng dẫn, chỉ bảo và tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm việc học tập và thu thập số liệu
tại khoa để tôi có thể hoàn thành được luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các anh chị em và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động
viên và giúp đỡ tôi học tập làm việc và hoàn thành luận văn.

Học viên
Hà Vũ Huy


1.2.1. Các thông số đánh giá chỉ tiêu chất lượng nước 12
1.2.1.1. Các chỉ tiêu vật lý
1.2.1.1.1. Độ pH 12
1.2.1.1.2. Nhiệt độ 12
1.2.1.1.3. Màu sắc 12
1.2.1.1.4. Độ đục 12
1.2.1.1.5. Tổng hàm lượng chất rắn 12
1.2.1.1.6. Tổng hàm lượng chất rắn lơ lửng 13
1.2.1.1.7. Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan 13
1.2.1.1.8. Tổng hàm lượng các chất dễ bay hơi 13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
1.2.1.2. Các chỉ tiêu hóa học 14
1.2.1.2.1. Độ kiềm toàn phần 14
1.2.1.2.2. Độ cứng của nước 14
1.2.1.2.4. Nhu cầu oxy hóa học 15
1.2.1.2.5. Nhu cầu oxy sinh hóa 15
1.2.1.2.6. Một số chỉ tiêu hóa học khác trong nước 15
1.2.1.3. Các chỉ tiêu vi sinh của nước 16
1. 2.1.3.1. Vi trùng gây bệnh 16
1.2.1.3.2. Các loại rong tảo 17
1.2.1.4. Tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho sinh hoạt và ăn uống 18
1.2.2. Các phương pháp và quá trình xử lí nước 19
1.2.2.2. Quá trình lắng 20
1.2.2.3. Quá trình lọc nước 21
1.2.2.4. Làm mềm nước 22
1.2.2.5. Khử trùng nước 24
1.2.2.6. Khử sắt và mangan 25


Chương 3: Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả xử lí độ đục 32
3.1.1. Mẫu nước sông Hồng lấy tại chân cầu Vĩnh Tuy – tháng 12/2012
3.1.1.1. Kích thước hạt chùm ngây 1,2 mm 32
3.1.1.2. Kích thước hạt chùm ngây 0,8 mm 34
3.1.2. Mẫu nước sông Hồng lấy tại chân cầu Thăng Long – tháng 12/2012
3.1.2.1. Kích thước hạt chùm ngây 1,2 mm 36
3.1.2.2. Kích thước hạt chùm ngây 0,8 mm 38
3.1.3. Mẫu nước đục nhân tạo 39
3.1.3.1. Kích thước hạt chùm ngây 1,2 mm 39
3.1.3.2. Kích thước hạt chùm ngây 0,8 mm 41
3.2. Kết quả xử lí độ màu 43
3.2.1. Dung dịch gốc có nồng độ NaCl 0,25M 43
3.2.2. Dung dịch gốc nồng độ NaCl 1 M 45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
3.2.3. Ảnh hưởng của thời gian lưu trữ dung dịch gốc đến hiệu quả xử lí 45
3.3. Kết quả loại bỏ độ cứng 47

Chương 4: Kết luận và kiến nghị
4.1. Kết luận 50
4.2. Kiến nghị 50
Tài liệu tham khảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Bảng 3.1. Kết quả loại bỏ độ đục của nước bằng chiết xuất hạt chùm ngây với kích
thước hạt 1,2 mm 41
Bảng 3.2. Kết quả loại bỏ độ đục của nước bằng chiết xuất hạt chùm ngây với kích
thước hạt 0,8 mm 43
Bảng 3.3. Độ đục của mẫu nước sau khi keo tụ và để lắng với hàm lượng chùm
ngây 100 mg/l 44
Bảng 3.4. Độ đục của mẫu nước sau khi keo tụ và để lắng với hàm lượng chùm
ngây 200 mg/l 45
Bảng 3.5. Độ đục của mẫu nước sau khi keo tụ và để lắng với hàm lượng chùm
ngây 300 mg/l 45
Bảng 3.6. Độ đục của mẫu nước sau khi keo tụ và để lắng với hàm lượng chùm
ngây 400 mg/l 45

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Mở đầu

Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Sự cạn kiệt
nguồn nước, sự gia tăng về nhu cầu nước sạch, sự suy giảm về chất lượng nguồn
nước đang là những thách thức toàn cầu mà nhân loại phải đối mặt, đồng thời cũng
là vấn đề cấp thiết của nước ta.
Việt Nam hiện có hơn 10 triệu hộ gia đình sống phân tán trong các vùng nông thôn,
vùng sâu, vùng xa, vùng mưa bão, lũ lụt…từ nhiều năm nay đang phải sử dụng nước
uống và sinh hoạt từ nguồn nước mưa, giếng, sông, suối, ao, hồ…với mức độ ô
nhiễm tổng hợp ngày càng tăng. Theo báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển
Nông thôn, trong năm 2011 có 22% người dân sống ở vùng nông thôn (tương đương
13,3 triệu người) không thể tiếp cận với nguồn nước sạch.
Việc sử dụng thiết bị lọc nước cho các vùng này không khả thi do hầu hết đều dựa
vào những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, vì thế giá thành khá cao, phức tạp, dễ
hỏng hóc. Trong khi các bình lọc nước cấu tạo đơn sơ khác không đủ hiệu năng lọc
độc và diệt khuẩn nước sạch.
Phương pháp được cho là rẻ nhất được sử dụng ở vùng nông thôn hiện nay là sử
dụng hóa chất keo tụ như phèn nhôm, và một số hóa chất khác như clo để diệt
khuẩn; vôi để hiệu chỉnh độ pH; polyacrylat để hoàn thiện quá trình lắng trong
nước, Tuy nhiên khi quy mô xử lí nước là cả một vùng dân cư rộng lớn hoặc các
tuyến dân cư chịu bão lũ thì việc dùng các hoá chất này thật khó đáp ứng nổi, gây

98%. Khi tiến hành thí nghiệm trên mẫu nước có độ đục cao hơn là 146 NTU, vật
liệu hạt chùm ngây cho kết quả loại bỏ độ đục là 84% và 88% khuẩn E.coli, trong
khi tỉ lệ này ở phèn nhôm là hơn 97%
[1]
Mặc dù hiệu quả keo tụ chưa cao bằng
phèn nhôm và một số hóa chất khác, nhưng chiết xuất từ hạt chùm ngây đã cho thấy
nó có hiệu quả keo tụ và làm sạch vi khuẩn khá cao, đủ để khuyến khích sử dụng
trong xử lí nước ở các quốc gia đang phát triển.
Ngoài khả năng làm sạch nước, cây chùm ngây còn là nguồn dược liệu quí hiếm.
Lá, hoa, quả, thân , vỏ, rễ của cây chứa nhiều khoáng chất, chất đạm, vitamins và
nhiều họp chất khác. Các bộ phận của cây có những hoạt tính trong điều trị y học
như dùng để trị các bệnh u xơ tiền liệt tuyến, suy nhược cơ thể, thần kinh, giúp ổn
định huyết áp, đường huyết, chữa tăng cholesterol,… cây đã được dùng để trị nhiều
bệnh trong y học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á.
Tại các quốc gia đang phát triển, cây chùm ngây được coi như nguồn thực phẩm
có giá trị dinh dưỡng cao. Ở Ấn Độ, quả chùm ngây được sử dụng khá rộng rãi,

nhiều đồn điền trồng cây chùm ngây để cung cấp quả phục vụ cho nhu cầu thực
phẩm tươi, thực phẩm đóng hộp và xuất khẩu ra thị trường thế giới. Ở Tây Phi, lá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
chùm ngây được dùng làm nước sốt và gia vị thức ăn. Ở tỉnh Konso thuộc Ethiopia,
lá chùm ngây là lương thực chủ yếu của người dân,
Trên thế giới, chùm ngây được xem là một cây đa dụng, được hai tổ chức thế giới
WHO và FAO xem như là giải pháp lương thực cho các nước thuộc “Thế giới thứ
ba”. Nhiều nghiên cứu đều cho thấy lá chùm ngây rất giàu vitamin, khoáng chất và
protein: có lẽ nhiều hơn bất kỳ loại rau nhiệt đới nào khác. Nhiều chương trình đã sử
dụng lá chùm ngây để phòng chống suy dinh dưỡng và các bệnh liên quan (mù
lòa, )

• Tên thông dụng: Chùm ngây (Việt Nam), Moringa (international), Drumstick
tree (US), Horseradish tree, Behen, Drumstick Tree,
• Tên Khoa học: Moringa oleifera hay M. pterygosperma thuộc họ Moringaceae
• Nhà Phật gọi là cây Độ Sinh (Tree of Life )
Các nhà dược học, các nhà khoa học nghiên cứu thực vật học, dựa vào hàm lượng
dinh dưỡng và nguồn dược liệu quí hiếm được kiểm nghiệm, đã không ngần ngại
đặt tên cho nó là cây Thần Diệu ( Miracle Tree) .
Nguồn gốc : Cây xuất xứ từ vùng Nam Á, có lịch sử hơn 4 ngàn năm, nhưng phổ
biến rất nhiều ở cả Châu Á và Châu Phi. Cây Chùm Ngây rất phổ thông ở Ấn Độ và
được dân tộc Ấn trân trọng đặt tên là cây Độ Sinh.
Trong hầu hết các bộ phận của cây đều chứa các chất mà con người cần như:
Khoáng chất, vitamin, các axit amin, bêta-caroten, phenolics
Ở Việt Nam, cây chùm ngây đã có trong tự nhiên từ lâu đời. Tuy nhiên công dụng
của nó thì còn ít người biết đến. Cây được phát hiện mọc hoang từ lâu đời tại nhiều
nơi như Thanh Hóa, Bình Thuận, Ninh Thuận, vùng Bảy Núi ở An Giang, đảo Phú
Quốc, Tại vùng núi ở Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang) có nhà chỉ trồng nó làm hàng
rào. Sau khi biết tác dụng của cây chùm ngây, huyện Tri Tôn đã xây dựng một dự án
để bảo tồn và phát triển và dành tới 3.000m
2
để làm vườn nhân giống. [19]
1.1.1.2. Đặc điểm
Chùm ngây là loại cây thân gỗ. Cây có thể cao tới 5 - 6m, rất dễ trồng, dễ sống.
Việc trồng cây không kén đất, ít tốn công chăm sóc. Có thể trồng quanh hàng rào,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
trồng ở những bãi đất trống, trồng dọc đường đi Cây trồng khoảng 4-5 tháng là bắt
đầu có thể thu hoạch lá.
Hầu như chưa thấy loài sâu bọ nào phá hoại được cây. Khả năng chống chịu hạn
hán của cây cũng rất tốt, có thể trồng trên cả các gò, đồi, các vùng đất xấu. Tuy

1.1.1.4. Lợi ích và công dụng
Những nghiên cứu về chùm ngây đa số được thực hiện ở Ấn Độ, Philippines và
Châu Phi. Cây được biết đến và sử dụng từ hàng ngàn năm ở các nước có nền văn
minh cổ như Hy Lạp, Ý, Ấn Độ. Do có nhiều công dụng hữu ích nên cây hiện đang
được khuyến khích trồng ở hơn 80 quốc gia trên thế giới đặc biệt là những nước
nghèo.
Hiện nay chùm ngây được những quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi và đa dạng
trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm
chức năng. Các quốc gia đang phát triển sử dụng Moringa như dược liệu kỳ diệu kết
hợp chữa những bệnh hiểm nghèo, bệnh thông thường và thực phẩm dinh dưỡng.
 Công dụng điều trị bệnh: cây có những hoạt tính như kích thích hoạt động của
tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u-bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống
sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống
oxy hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm Cây đã được dùng
để trị nhiều bệnh trong Y-học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
 Giá trị dinh dưỡng: Hiện nay chùm ngây được hai tổ chức thế giới WHO và
FAO xem như là giải pháp ưu việt cho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ em suy dinh
dưỡng, và là giải pháp lương thực cho thế giới thứ ba.
Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, giàu chất đạm, vitamin,
betacaroten, acid amin và nhiều hợp chất phenol. Cây chùm ngây cung cấp hỗn hợp
gồm nhiều hợp chất quý hiếm như zeatin, quercetin, alpha-sitosterol, caffeoylquinic
acid và kaempferol.
Như vậy cây chùm ngây là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao.
 Công dụng lọc nước: nếu phần thân và lá chùm ngây có tác dụng điều trị bệnh
và giá trị dinh dưỡng cao, thì hạt của nó có thể sử dụng để lọc nước uống rất hiệu
quả mà hầu như không mất nhiều chi phí. Quá trình tinh lọc khá đơn giản, bao gồm
các công đoạn: xay nhuyễn hạt thành bột, trộn bột này với nước chưa được xử lý rồi

150 NTU xuống còn 10 NTU. Sau đó, người ta mới đưa ra nhiều dự án nghiên cứu
để so sánh hiệu quả xử lí độ đục của hạt chùm ngây như một chất keo tụ chính so
với phèn nhôm và phèn sắt
.
[1]

1.2.1.2. Loại bỏ độ màu
Theo nghiên cứu của R. Krishna Prasad cho thấy chiết xuất từ hạt chùm ngây có
thể loại bỏ được 56% (dùng dung dịch NaCl) và 67% (KCl) độ màu của nước thải từ
các nhà máy chưng cất rượu. Nghiên cứu trên các mẫu nước mặt tự nhiên bị ô
nhiễm, hạt chùm ngây có khả năng loại bỏ độ màu tới 83%.
[2]

1.2.1.3. Loại bỏ độ cứng
Thí nghiệm trên mô hình Jar-test với chất keo tụ chính là hạt chùm ngây trên 4
nguồn nước mặt tự nhiên với độ cứng CaCO
3
từ 180mg/l đến 300mg/l. Kết quả cho
thấy độ cứng của nước giảm khoảng 60 - 70% với thời gian chờ lắng 2h sau khi keo
tụ. [3]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khả năng loại bỏ độ cứng tăng lên khi tăng hàm
lượng của hạt chùm ngây. Với các mẫu nước có cùng độ cứng, số lượng các thành
phần gây nên độ cứng càng nhiều thì càng yêu cầu hàm lượng chất keo tụ cao hơn
để xử lí.
1.2.1.4. Khả năng hấp thụ của quả chùm ngây trong loại bỏ chất thải hữu cơ
Ô nhiễm nguồn nước ngầm bởi các chất thải hữu cơ đã trở thành mối quan tâm lớn
đối với môi trường. Trong số đó, các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi như benzen,

Nghiên cứu này đưa ra phương pháp xác định lượng vết bạc trong nước
bằng
cách
sử dụng chiết xuất pha rắn và xác
định
bằng phương pháp quang phổ hấp thụ
nguyên tử ngọn lửa (FAAS)
. Phương pháp đã tìm ra được giới hạn xác định và
định lượng tương ứng là 0,22 và 0,73 µg.L
-1
[6]
Một số các nghiên cứu khác cũng đã sử dụng hạt chùm ngây để hấp thụ và loại bỏ
Cd
hoặc loại bỏ
As ra khỏi dung dịch nước.

Nghiên cứu của Parul Sharma thực hiện ở Ấn Độ năm 2006 cho thấy khả năng loại
bỏ Cd bằng vật liệu từ hạt chùm ngây đạt 85,1%
[7].
Kết quả nghiên cứu chỉ ra các
điều kiện ảnh hưởng và thông số tối ưu của chúng để vật liệu hấp phụ Cd có hiệu
quả cao nhất: Liều lượng sinh khối (4,0 g), hàm lượng kim loại (25 µg/ml), thời
gian tiếp xúc (40 phút) và khối lượng của dung dịch thử (200 ml) ở pH 6,5.
Nghiên cứu sử dụng quang phổ biến đổi tia hồng ngoại nhấn mạnh các tương tác
của amino axit-Cd ảnh hưởng tới hiện tượng hấp phụ. Phát hiện này mở ra con
đường mới trong việc loại bỏ các kim loại độc hại từ nguồn nước bằng hạt nhân
chùm ngây đã tách vỏ (SMOS) với chi phí thấp, độ an toàn với nguồn nước và thân
thiện với môi trường.
Kết quả nghiên cứu ở Ấn Độ năm 2005 cho thấy điều kiện tối ưu để loại bỏ được
60,21% As (III) và 85,60% As (V) như sau: liều lượng sinh khối (2,0 g), hàm lượng

o
C, nước ngầm là : 17 – 31
o
C. Nhiệt độ nước thải cao hơn nhiệt độ nước
cấp.
1.2.1.1.3. Màu sắc
Nước nguyên chất không có màu. Màu sắc gây nên bởi các tạp chất trong nước
(thường là do chất hữu cơ (chất mùn hữu cơ – acid humic), một số ion vô cơ (sắt…),
một số loài thủy sinh vật…
Độ màu ảnh hưởng tới giá trị cảm quan đối với người dùng nước. Các hợp chất hữu
cơ có màu trong nước cũng có thể tác dụng vói clo tạo ra 1 số sản phẩm độc như
clorofooc,…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
1.2.1.1.4. Độ đục
Độ đục của nước là mức độ ngăn cản ánh sáng xuyên qua nước. Độ đục của nước
có thể do nhiều loại chất lơ lửng bao gồm các loại có kích thước hạt keo đến những
hệ phân tán thô gây nên như các chất huyền phù, các hạt cặn đất cát, các vi sinh vật.
Nó cũng chưa nhiều thành phần hoá học : vô cơ, hữu cơ
Độ đục cao biểu thị nồng đọ nhiễm bẩn trong nước cao. Nó ảnh hưởng đến quá
trình lọc vì lỗ thoát nước sẽ nhanh chong bị bịt kín. Khử trùng bị ảnh hưởng bới độ
đục.
Đơn vị đo độ đục: 1JTU = 1NTU = 1mg SiO
2
/l = 1 đơn vị độ đục
1.2.1.1.5. Tổng hàm lượng chất rắn
Các chất rắn trong nước có thể là những chất tan hoặc không tan. Các chất này bao
gồm cả những chất vô cơ lẫn các chất hữu cơ. Tổng hàm lượng các chất rắn (TS) là

C cho đến khi khối lượng không đổi
Hàm lượng các chất rắn hòa tan dễ bay hơi VDS là lượng mất đi khi nung lượng
chất rắn hòa tan (DS) ở 550
o
C cho đến khi khối lượng không đổi (thường được qui
định trong một khoảng thời gian nhất định)
1.1.2.2. Các chỉ tiêu hóa học
1.2.1.2.1. Độ kiềm toàn phần
Độ kiềm toàn phần là tổng hàm lượng các ion HCO
3-
, CO
3
2-
, OH
-
có trong nước.
Độ kiềm trong nước tự nhiên thường gây nên bởi các muối của acid yếu, đặc biệt là
các muối carbonat và bicarbonat. Độ kiềm cũng có thể gây nên bởi sự hiện diện của
các ion silicat, borat, phosphat… và một số acid hoặc baz hữu cơ trong nước, nhưng
hàm lượng của những ion này thường rất ít so với các ion HCO
3-
, CO
3
2-
, OH
-
nên
thường được bỏ qua.
1.2.1.2.2. Độ cứng của nước
Độ cứng của nước gây nên bởi các ion đa hóa trị có mặt trong nước. Chúng phản

- Độ cứng phi cacbonat (NCH) là độ cứng gây ra bởi hàm lượng Ca
2+
và Mg
2+
liên
kết với các anion khác HCO
3-
như SO
4
2-
, Cl
-
…Độ cứng phi carbonat còn được gọi là
độ cứng thường trực hay độ cứng vĩnh cửu.
1.2.1.2.3. Hàm lượng oxy hòa tan
Oxy hòa tan trong nước (DO) không tác dụng với nước về mặt hóa học. Hàm
lượng DO trong nước phụ thuộc nhiều yếu tố như áp suất, nhiệt độ, thành phần hóa
học của nguồn nước, số lượng vi sinh, thủy sinh vật… Hàm lượng oxy hòa tan là
một chỉ số đánh giá “tình trạng sức khỏe” của nguồn nước .
Hàm lượng DO có quan hệ mật thiết đến các thông số COD và BOD của nguồn
nước. Nếu trong nước hàm lượng DO cao, các quá trình phân hủy các chất hữu cơ sẽ
xảy ra theo hướng háo khí, còn nếu hàm lượng DO thấp, thậm chí không còn thì quá
trình phân hủy các chất hữu cơ trong nước sẽ xảy ra theo hướng yếm khí. Khi DO
xuống đến khoảng 4 – 5 mg/l, số sinh vật có thể sống trong nước giảm mạnh. Nếu
hàm lượng DO quá thấp, thậm chí không còn, nước sẽ có mùi và trở nên đen do
trong nước lúc này diễn ra chủ yếu là các quá trình phân hủy yếm khí, các sinh vật
không thể sống được trong nước này nữa.
1.2.1.2.4. Nhu cầu oxy hóa học
Nhu cầu oxy hóa học (COD) là lượng oxy cần thiết (cung cấp bởi các chất hóa
học) để oxit hóa các chất hữu cơ trong nước. Chất oxid hóa thường dùng là KMnO

2-
, SO
4
2-
, PO
4
3-
và cả NO
3-
.
1.2.1.2.6. Một số chỉ tiêu hóa học khác trong nước
a. Sắt
Sắt chỉ tồn tại dạng hòa tan trong nước ngầm dưới dạng muối Fe
2+
của HCO
3
-
,
SO
4
2-
, Cl
-
…, còn trong nước bề mặt, Fe
2+
nhanh chóng bị oxy hóa thành Fe
3+
và bị
kết tủa dưới dạng
Fe(OH)

có trong nước do khoáng chất hoặc có nguồn gốc hữu cơ. Với hàm lượng
lớn hơn 250 mg/l gây tổn hại cho sức khoẻ con người. Ở điều kiện yếm khí, SO
4
2-

phản ứng với chất hữu cơ tạo thành khí H
2
S có độc tính cao.
Các muối sunfat hoà tan trong nước biển tương tác với các chất hữu cơ thải xuống
biển.
CaSO
4
+ CH
4
→ CaS + CO
2
+ 2H
2
O
CaS + H
2
O + CO
2
→ CaCO
3
+ H
2
S
1.1.2.3. Các chỉ tiêu vi sinh của nước
Trong nước thiên nhiên có rất nhiều loại vi trùng và siêu vi trùng, trong đó có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status