Luận văn: Luận văn Đánh giá khả năng chịu hạn và tạo vật liệu khởi đầu cho chọn dòng chịu hạn từ các giống lạc L08, L23, L24, LTB, LCB, LBK bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro pot - Pdf 15


Luận văn
Đánh giá khả năng chịu hạn và tạo
vật liệu khởi đầu cho chọn dòng
chịu hạn từ các giống lạc L08, L23,
L24, LTB, LCB, LBK bằng kỹ thuật
nuôi cấy in vitro
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị
kinh tế cao. Cây lạc được gieo trồng phổ biến ở hơn 100 nước với diện tích
22 triệu ha [12].
Hạt lạc là một trong những nguồn thực phẩm chứa nhiều chất béo và
protein cần thiết cho khẩu phần ăn của con người. Ngoài ra, hạt lạc còn chứa
các vitamin nhóm B và một lượng hydratcacbon nhất định. Hạt lạc là nguyên
liệu chính để sản xuất dầu ăn, bánh kẹo, fomát và là mặt hàng xuất khẩu có
giá trị. Các phụ phẩm của lạc (khô dầu, thân, lá) dùng làm thức ăn cho gia
súc hay phân bón đều tốt và rẻ tiền. Trồng lạc có tác dụng cải tạo đất và phù
hợp với cơ cấu chuyển đổi kinh tế nông nghiệp hiện nay [11], [12].
Ở Việt Nam, cây lạc đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu cây nông
nghiệp, đặc biệt ở những nơi khí hậu thường xuyên biến động và điều kiện
canh tác còn gặp nhiều khó khăn. Trong những năm gần đây, việc tổng kết

CB
, L
BK
bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống lạc L
08
, L
23
, L
24
, L
TB
L
CB
, L
BK

giai đoạn hạt nảy mầm, giai đoạn cây non và ở mức độ mô sẹo.
- Tạo vật liệu khởi đầu cho chọn dòng chịu hạn ở các giống lạc L
08
, L
23
, L
24
,
L
TB
L
CB

,
L
TB
L
CB
, L
BK
bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro: Xác định ngưỡng chọn lọc, tái
sinh cây, tạo cây hoàn chỉnh, trồng ngoài đồng ruộng.
- Sử dụng kỹ thuật RAPD để đánh giá ADN genome một số dòng có nguồn
gốc từ mô sẹo chịu mất nước so với giống gốc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giá trị kinh tế, đặc điểm nông sinh học và tình hình sản xuất lạc trên
thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Giá trị kinh tế của cây lạc
Hạt lạc chiếm 40% – 58% lipit, 16% – 43% protein, 6% – 24% gluxit,
2,5% cellulose. Trong 100g lạc có 60 UI vitamin A, 300 UI vitamin B, một
lượng PP đủ dùng cho người lớn trong 1 ngày và cung cấp 578,6 calo [5].
Protein của lạc có đủ 8 loại axit amin không thay thế, đặc biệt trong hạt lạc có
chất lecithin (phosphattidyl choline) có tác dụng làm giảm lượng cholesterol
trong máu, chống hiện tượng xơ vữa mạch máu [9]. Thức ăn bằng lạc có thể
khắc phục tình trạng thiếu protein cho con người [8]. Dầu lạc là một hỗn hợp

chín sớm có thời sinh trưởng từ 90 – 125 ngày, giống chín muộn có thời gian
sinh trưởng từ 140 – 160 ngày. Dạng chín muộn trội hoàn toàn so với dạng
chín sớm [8].
1.1.3. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và ở Việt Nam
Trong các cây lấy dầu, lạc có diện tích, sản lượng đứng thứ hai sau đỗ
tương và được trồng khắp các châu lục. Châu Á, là nơi có diện tích trồng, sản
lượng lạc cao nhất, chiếm trên 60% sản lượng lạc của thế giới. Châu Phi đứng
thứ hai chiếm 30%, các châu lục khác rất ít (châu Mỹ 5%, châu Âu 0,22%) [9].
Trong số các nước trồng lạc thì Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ là những
nước có sản lượng lạc hàng năm cao nhất (trên 1triệu tấn/năm). Một số nước
như Dimbabue, Camơrun (Châu Phi) có sản lượng lạc rất thấp, chỉ đạt 0,17
triệu tấn/năm [11].
Ấn Độ là quốc gia có diện tích trồng lạc đứng đầu thế giới (8,1 triệu
ha) song sản lượng hàng năm thấp, chỉ đạt 5,4 triệu tấn vì năng suất lạc chỉ
đạt 6,9 – 9,98 tạ/ha. Trung Quốc có diện tích trồng lạc chỉ hơn nửa Ấn Độ
(4,3 triệu ha) nhưng hàng năm đạt 11,89 triệu tấn, đứng đầu thế giới. Còn Mỹ
tuy có diện tích gieo trồng thấp (0,59 triệu ha) nhưng nhờ có các giống lạc
cao sản nên sản lượng hàng năm cao (đạt 1,8 triệu tấn/năm) đứng thứ 3 trên
thế giới [9], [11], [12].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Trong 25 nước trồng lạc ở châu Á, Việt Nam đứng ở vị trí thứ năm về
sản lượng lạc hàng năm. Trong các thập kỷ 60, 70, 80 của thế kỷ XX diện
tích, năng suất và sản lượng lạc của nước ta còn thấp. Đến thập kỷ 90 của thế
kỷ XX, diện tích, năng suất, sản lượng lạc của nước ta tăng nhanh, trong
vòng 10 năm năng suất lạc tăng gần 30% [12].
Ở Việt Nam cây lạc có mặt ở 59/61 tỉnh thành, chia thành 5 khu vực
chính: Vùng Trung du miền núi phía Bắc, với tổng diện tích 41.000 ha; Khu
vực Bắc Trung Bộ là vùng trọng điểm sản xuất lạc với 71.000 ha, đạt 68,7 –

đổi chất bình thường của cơ thể [13]. Trong thời gian cây bị hạn, hàm lượng
nước tự do trong lá giảm xuống nhưng hàm lượng nước liên kết lại tăng lên.
Chất nguyên sinh của tế bào có tính đàn hồi lớn thì cây có khả năng chịu hạn
cao [42].
Hạn còn ảnh hưởng đến hô hấp. Trong thời gian khô hạn, ở những cây
trung sinh thường tăng cường hô hấp. Nhờ gia tăng hô hấp mà cây giữ được
độ ngậm nước của keo nguyên sinh chất [13]. Sự tăng cường quá trình thuỷ
phân khi gặp điều kiện khô hạn là nguyên nhân tăng cường hô hấp trong cây.
Khi mất nước ban đầu hô hấp tăng, nhưng sau đó giảm đột ngột, nếu tình
trạng thiếu nước kéo dài [42].
Thiếu nước ảnh hưởng đến quang hợp. Hạn hán đã ảnh hưởng xấu đến
quá trình hình thành diệp lục, phá hoại lạp thể nên hiệu suất quang hợp giảm
xuống nhanh chóng. Theo Buxigon, cây trúc đào khi bị hạn thì cường độ
quang hợp giảm 40% [42].
Hạn ảnh hưởng đến hoạt động hút khoáng của hệ rễ, dẫn đến tình trạng
thiếu những nguyên tố dinh dưỡng quan trọng trong quá trình trao đổi và tổng
hợp các chất hữu cơ khác nhau trong cơ thể thực vật [13]. Hạn ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình sinh trưởng các tế bào, đặc biệt là trong pha giãn của
tế bào, từ đó mà ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của toàn cây [42].
1.2.2.2 Ảnh hƣởng của hạn đến cây lạc
Trong mỗi thời kỳ sinh trưởng, cây lạc chỉ có khả năng chịu hạn ở một
mức độ nhất định. Biểu hiện bề ngoài nhận thấy rõ rệt nhất khi cây lạc bị hạn
ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng là ở bộ lá. Khi độ ẩm đất giảm, lá lạc nhỏ và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
dày, màu lá từ xanh đậm chuyển dần sang xanh nhạt do diệp lục bị phá hủy
[15]. Trong điều kiện bị hạn tức thời, lá vẫn giữ nguyên kích thước nhưng
sức trương tế bào giảm, khí khổng khép lại, lá bị rũ xuống [8].
Thời kỳ trước ra hoa là thời kỳ cây lạc chịu được hạn lớn nhất, vì trong

cơ, axit amin, các ion chủ yếu là ion K
+
), các chất này có tác dụng điều
chỉnh áp suất thẩm thấu. Áp suất thẩm thấu tăng lên giúp cho tế bào rễ thu
nhận được những phân tử nước ít ỏi còn trong đất. Bằng cơ chế như vậy, thực
vật có thể chịu được sự mất nước trong thời gian ngắn [18].
Ngoài ra, thực vật còn có khả năng chống chịu hạn bằng những biến
đổi về hình thái như lá cuộn lại thành ống, lá có nhiều lông, cu tin dày để
giảm thoát hơi nước [13].
1.2.3.2. Cơ sở sinh hóa và di truyền của tính chịu hạn
Khi phân tích thành phần hóa sinh của các cây chịu hạn, các nghiên
cứu đều cho rằng, khi cây gặp hạn có hiện tượng tăng lên về hoạt độ enzyme,
hàm lượng ABA, hàm lượng proline, nồng độ ion K
+
, các loại đường, axit
hữu cơ, giảm CO
2
, protein và axit nucleic [1], [6],[19], [31].
Nghiên cứu sự đa dạng và hoạt động của enzyme trong điều kiện gây
hạn đã được nhiều tác giả quan tâm. Trần Thị Phương Liên (1999) nghiên
cứu đặc tính hóa sinh của một số giống đậu tương có khả năng chịu nóng,
hạn đã nhận xét rằng áp suất thẩm thấu cao ảnh hưởng rõ rệt tới thành phần
và hoạt độ protease, kìm hãm sự phân giải protein dự trữ [18]. Một số nghiên
cứu trên các đối tượng như lạc, lúa, đậu xanh, đậu tương cho thấy, có mối
tương quan thuận giữa hàm lượng đường tan và hoạt độ enzyme α - amylase,
giữa hàm lượng protein và hoạt độ protease [17], [27], [35] Đường tan là
một trong những chất tham gia điều chỉnh áp suất thẩm thấu trong tế bào. Sự
tăng hoạt độ α - amylase sẽ làm tăng tăng hàm lượng đường tan do đó làm
tăng áp suất thẩm thấu và tăng khả năng chịu hạn của cây trồng [20], [31].
Những thay đổi hóa sinh khác do hạn gây ra cũng đã được nhiều tác

Kỹ thuật nuôi cấy mô và tế bào thực vật đã được ứng dụng rộng rãi
trong lĩnh vực nghiên cứu về khả năng chống chịu của cây trồng như chịu
hạn, chịu muối, chịu nhôm [22], [24], [41].
Chu Hoàng Mậu, Ngô Thị Liêm, Nguyễn Thị Tâm (2006) tiến hành xử
lý thổi khô mô sẹo các giống lạc MĐ7, L
17
, L
14
, L
18
, ĐBG, đã nhận thấy mô

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
sẹo của 5 giống lạc đều bị mất nước nhanh, khả năng chịu mất nước của các
giống có sự khác nhau rõ rệt, cao nhất là giống ĐBG và thấp nhất là L
18
[24].
Nguyễn Tường Vân, Lê Trần Bình, Lê Thị Muội (1994) tiến hành đánh
giá khả năng chịu muối (NaCl) của các giống lúa CR203, Lốc, C8, Co ở mức
độ mô sẹo, sau khi chuyển vào môi trường có bổ sung NaCl 1% và 2%. Sau
12 tuần theo dõi cho thấy khả năng chịu muối của giống Co là cao nhất và
giống CR203 có khả năng chịu muối thấp nhất [40].
Bằng kỹ thuật nuôi cấy mô sẹo in vitro, Nguyễn Văn Vinh, Lê Duy
Thành và cộng sự (1995) nghiên cứu khả năng chịu nhôm và axit của các
giống lúa: ĐC3, CM10, Pokaly, Cườm, Chiêm Bầu, CR203, NN8, OM 861-
20, OM 296 và Tép lai, đã thu được các dòng mô sẹo của giống Pokaly và
Cườm có khả năng chịu được AlCl
3
ở 600ppm và pH là 2,71. Mô sẹo của

đoạn ADN được nhân bản ngẫu nhiên, do hai nhóm nghiên cứu của Williams
và Cs (1990), Welsh và McClelland (1991) đồng thời xây dựng.
Thành phần và các bước của phản ứng RAPD dựa trên cơ sở của phản
ứng PCR, chỉ khác ở kích thước mồi và nhiệt độ bắt cặp mồi, nhiệt độ bắt cặp
mồi của phản ứng RAPD vào khoảng 35
0
C- 45
0
C. Kỹ thuật RAPD có ưu
điểm ở chỗ sử dụng các mồi ngẫu nhiên dài 10 nucleotit. Mồi có thể bám vào
bất kỳ vị trí nào có trình tự nucleotit bổ sung trên phân tử ADN khuôn [21].
Do vậy, xác suất đoạn mồi có được điểm gắn trên phân tử ADN mẫu là rất
lớn. Sự khác nhau về vị trí và số lượng các đoạn ADN có thể ghép cặp bổ
sung với mồi chính là cơ sở của sự đa hình về phổ băng ADN được nhân bản.
Sản phẩm được phân tích bằng điện di trên gel agarose hoặc polyacrylamide
và có thể quan sát được sau khi gel được nhuộm bằng hóa chất đặc trưng. Vì
vậy, tính đa hình thường được nhận ra là do sự có mặt hay vắng mặt của một
sản phẩm nhân bản từ một locus [48].
Từ khi ra đời kỹ thuật RAPD đã được ứng dụng rộng rãi cho nhiều đối
tượng khác nhau như đậu xanh, đậu tương, đu đủ, lạc, lúa, chuối trong việc
đánh giá đa dạng di truyền giữa các loài và trong phạm vi một loài [34], [47]
phân tích và đánh giá bộ genome thực vật nhằm xác định những thay đổi của
các dòng chọn lọc ở mức độ phân tử [10], [47]. Ngoài ra còn được ứng dụng
hiệu quả trong việc tìm ra các chỉ thị phân tử để phân biệt các giống hay các
loài khác nhau
Raina và Cs (2001) đã sử dụng kỹ thuật RAPD và SSR để phân tích sự
đa dạng hệ gen, xác định mối quan hệ họ hàng giữa các giống lạc trồng và lạc
dại [50]. Đánh giá sự đa dạng của một số dòng lạc trong tập đoàn giống
chống chịu bệnh gỉ sắt, sử dụng với 11 mồi ngẫu nhiên, tác giả Bùi Văn
Thắng, Đinh Thị Phòng đã thu được 66/109 phân đoạn ADN đa hình [34].


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Chƣơng 2
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu
Sử dụng 3 giống lạc (L
08
, L
23
, L
24
) thu hoạch ở vụ Thu Đông năm 2006
do Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam cung cấp và các giống lạc
địa phương (L
TB
L
CB
, L
BK
) do sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh Thái Bình,
Cao Bằng, Bắc Kạn cung cấp.
2.2. Hoá chất, thiết bị và địa điểm nghiên cứu

C, ly tâm 20 phút với tốc độ 12.000 vòng/phút ở
4
o
C, bỏ dịch, lặp lại 3 lần như vậy. Sấy khô mẫu còn lại ở tube ở 70
o
C đến
khối lượng không đổi.
Hàm lượng lipit được tính bằng hiệu của khối lượng mẫu trước và sau
khi chiết theo công thức sau:
Hàm lượng lipit (%) =
%100x
A
BA

Trong đó: A: Khối lượng mẫu trước khi chiết (mg)
B: Khối lượng mẫu sau khi chiết (mg)
Xác định hàm lượng protein: Hàm lượng protein tan xác định theo phương pháp
Lowry được mô tả trong tài liệu của Phạm Thị Trân Châu và Cs (1998) [3].
Mẫu sau khi loại lipit được sử dụng chiết protein. Chiết protein bằng
dung dịch đệm photphat citrat (pH=10), để trong 24h ở 4
o
C, đem ly tâm 20
phút (12.000 vòng/phút), thu lấy dịch. Lặp lại thí nghiệm 3 lần. Dịch thu
được của mỗi lần chiết định mức bằng dung dịch đệm lên 10ml và đo hấp thụ
quang phổ trên máy UV ở bước sóng 750nm với thuốc thử folin.
Hàm lượng protein được tính theo công thức:
%100(%)
m
HSPLa
X

Trong đó: X: Hàm lượng đường tan ( % khối lượng tươi)
a: Số đo trên máy (mg/ml)
b: Số ml dịch chiết
HSPL: Hệ số pha loãng
m: Khối lượng mẫu (mg)
(3) Xác định hoạt độ của enzyme α - amylase
Xác định hoạt độ của enzyme α - amylase theo phương pháp Heinkel
mô tả trong tài liệu của Nguyễn Lân Dũng (1979) [7].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
- Nguyên tắc: Dựa vào tính chất hòa tan của enzyme α - amylase trong dung
dịch đệm photphat 0,2M (pH=6,8).
- Cách tiến hành: Hạt lạc nảy mầm, bóc vỏ lụa, cân khối lượng, nghiền nhỏ
trong đệm photphat 0,2M (pH=6,8), ly tâm 12.000 vòng/phút trong 15 phút ở
4
0
C, dịch thu được sử dụng làm thí nghiệm. Thí nghiệm phân tích hoạt độ
enzyme α - amylase được tiến hành trên ống thí nghiệm, ống kiểm tra. Sau đó
đo trên máy quang phổ ở bước sóng 560nm.
Công thức xác định hoạt độ enzyme α- amylase:
ĐVHĐ/mg =
m
xHSPLCC )21(

Trong đó: C1: Lượng tinh bột còn lại của mẫu kiểm tra (mg/ml)
C2: Lượng tinh bột còn lại của mẫu thí nghiệm (mg/ml)
HSPL: Hệ số pha loãng
m: Khối lượng mẫu (mg)
Định tính hoạt độ enzyme α- amylase

Trong đó: n: Số đo trên máy ống kiểm tra(mg/ml)
k: Số đo trên máy ống thí nghiệm(mg/ml)
HSPL: Hệ số pha loãng
D: Số ml dịch chiết
T: Thời gian ủ enzyme với cơ chất
m: Khối lượng mẫu (mg)
Định tính hoạt độ enzyme protease: Tiến hành tương tự như định tính
hoạt độ α- amylase, cơ chất là gelatin 1%.
2.3.2. Phƣơng pháp sinh lý
Phương pháp đánh giá khả năng chịu hạn ở giai đoạn cây non theo Lê
Trần Bình (1998) [2].
- Chuẩn bị mẫu: Hạt lạc nảy mầm gieo vào các chậu (kích thước 30cm x
30cm) chứa cát vàng đã rửa sạch mỗi chậu trồng 40 cây, 3 chậu cho mỗi
giống, thí nghiệm được lặp lại 3 lần trong điều kiện và chế độ chăm sóc như
nhau. Thời gian đầu tưới nước cho đủ ẩm, khi cây lạc được 3 lá tiến hành gây
hạn nhân tạo.
- Đánh giá khả năng chịu hạn của các giống lạc thông qua xác định:
+ Chỉ số hạn tương đối (S): Chỉ số chịu hạn tương đối được xác định thông qua
tỉ lệ cây sống sót (%), khả năng giữ nước (%) của cây non trước và sau hạn 3
ngày, 5 ngày, 7 ngày. Chỉ số chịu hạn được xác định bằng diện tích đồ thị hình
sao gồm 6 trục mang các trị số tương ứng a, b, c, d, e, g của một giống.
Chỉ số chịu hạn tương đối được tính theo công thức:
S =
2
1
sin α (ab + bc + cd + de + eg + ga)
Trong đó: α

: % cây sống sau 3 ngày hạn; b: % khả năng giữ nước sau 3
ngày hạn; c: % cây sống sau 5 ngày hạn; d: % khả năng giữ nước sau 5 ngày

Hàm lượng prolin được tính theo công thức:
X%=
%100x
m
AxHSPL

Trong đó: X: Hàm lượng prolin(%)
A: Nồng độ thu được khi đo trên máy (mg/ml)
HSPL: Hệ số pha loãng
m: Khối lượng mẫu (mg)
2.3.3. Phƣơng pháp nuôi cấy in vitro
2.3.3.1. Tạo mô sẹo từ phôi lạc
Khử trùng hạt
Củ lạc được rửa sạch bằng nước máy, phơi khô, bóc vỏ gỗ, hạt lạc
được khử trùng trong điều kiện vô trùng bằng cồn 70
0
trong thời gian 2 phút,
tráng lại bằng nước cất khử trùng 1 đến 2 lần. Thêm Javen 60% lắc đều trong
25 phút, sau đó rửa bằng nước cất khử trùng 2 – 3 lần.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
%100(%) x
W
WW
W
f
df
L
Tạo mô sẹo

N
S
T
sv
v

Trong đó: Sv: Tỷ lệ mô sống sót (%);
Ssv: Số mô sống sót;
N
T
: Tổng số mô xử lý.
Tỉ lệ tái sinh cây được đánh giá sau 6 tuần nuôi cấy, theo công thức :

%100(%) x
N
N
R
sv
r
c

Trong đó: R
c
: Khả năng tái sinh cây (%);
N
r
: Số mô tái sinh cây;
N
sv
: Số mô sống sót.

trên máy vi tính theo tµi liÖu Nguyễn Hải Tuất vµ Ngô Kim Khôi (1996)
[40].
2.3.5. Phƣơng pháp sinh học phân tử
2.3.5.1. Phƣơng pháp tách chiết ADN tổng số từ lá lạc
- Quy trình tách chiết và làm sạch ADN tổng số từ lá lạc theo phương pháp
của Doyle J.J và J.L. Doyle [46].
- Xác định hàm lượng ADN trên máy quang phổ model 825-2A của hãng
Hewlett Packarrd.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
- Kiểm tra chất lượng ADN thu được thông qua điện di trên gel agarose 0,8%.
2.3.5.2. Phân tích tính đa hình ADN bằng kỹ thuật RAPD
Phản ứng RAPD được tiến hành với 10 mồi ngẫu nhiên, các mồi có trình
tự dài 10 nucleotit, thông tin về trình tự của các mồi được trình bày ở bảng 2.1.
Bảng 2.1. Trình tự các nucleotit của 10 mồi RAPD sử dụng trong nghiên cứu
Tên mồi
Trình tự mồi
Tên mồi
Trình tự mồi
ARA42
5’GGAAGCTTGG3’
DTN19
5’GGAAGCCAAC3’
CUM43
5’CAATCGCCGT3’
OPE10
5’GGGAAGGACA3’
DTN05
5’TCGGCGATAG3’

C. Điện di sản phẩm PCR trên
gel agarose 1,8%, nhuộm Ethidium bromide và chụp ảnh trên máy soi gel.
2.2.5.3. Phân tích số liệu RAPD
Phân tích số liệu theo qui ước: 1 = phân đoạn ADN xuất hiện và 0 =
phân đoạn ADN không xuất hiện, khi điện di sản phẩm RAPD với các đoạn
mồi ngẫu nhiên. So sánh hệ số tương quan kiểu hình theo phương pháp:
Jaccard và phân nhóm UPGMA. Lập biểu đồ hình cây dựa vào giá trị tương
quan kiểu hình (r) cao nhất trong chương trình NTSYSpc 2.0. Hàm lượng
thông tin tính đa hình (Polymorphism information content = PIC) của mỗi
mồi xác định theo công thức: PIC
i
= 1 - P
ij
2
. Trong đó P
ij
là tần số của allen
thứ j của kiểu gen i được kiểm tra. Phạm vi giá trị PIC từ 0 (không đa hình)
tới 1 (đa hình hoàn toàn).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22

CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hàm lƣợng protein và lipit của các giống lạc nghiên cứu
Để đánh giá chất lượng hạt của các giống lạc nghiên cứu, chúng tôi
tiến hành phân tích hàm lượng protein và lipit trong hạt tiềm sinh ở các giống
lạc L
08


46,18 0,03
25,43 0,02
L
CB
48,68 0,04
24,21 0,01
L
BK
46,03 0,02
26,51 0,03

Bảng 3.1 cho thấy, hàm lượng protein trong hạt các giống lạc dao động
từ 24,21% đến 31,22%. Giống L
08
có hàm lượng protein cao nhất (31,22%),
thấp nhất là L
CB
(24,21%).
Hàm lượng lipit của 6 giống lạc dao động từ 43,86% đến 49,65%.
Giống có hàm lượng lipit cao nhất là L
08
(49,65%), tiếp đến là giống L
CB
(48,68%). Giống có hàm lượng lipit thấp nhất L
23
(43,86%).
Lipit là thành phần cấu tạo quan trọng của màng sinh học, nguồn
nguyên liệu cung cấp năng lượng cho cơ thể. Lipit trong lạc dễ tiêu hóa
không chứa cholesterol nên việc sử dụng chúng còn có tác dụng phòng và

đoạn hạt nảy mầm
3.2.1.1. Ảnh hƣởng của sorbitol 5% đến hoạt độ enzyme - amylase của
các giống lạc nghiên cứu ở giai đoạn hạt nảy mầm
Khi hạt nảy mầm, enzyme - amylase được tổng hợp và hoạt động
mạnh, giúp quá trình phân giải tinh bột diễn ra mạnh mẽ để tổng hợp các chất
hữu cơ cho sự hình thành cây non, làm cho hàm lượng đường tăng lên kéo
theo sự gia tăng áp suất thẩm thấu, dẫn đến tăng khả năng chống lại sự mất
nước của lạc ở giai đoạn hạt nảy mầm. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong
quá trình nảy mầm của hạt, đồng thời thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát
triển của mầm, đảm bảo cho cây non có thể sinh trưởng bình thường trong
điều kiện thiếu nước. Do đó việc khảo sát đặc điểm phản ứng của các giống
lạc ở giai đoạn hạt nảy mầm là một trong những cơ sở để đánh giá tính chịu
hạn của cây lạc. Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành đánh giá
tính chịu hạn của các giống lạc thông qua sự thay đổi hoạt độ - amylase và
sự biến động hàm lượng đường tan trong điều kiện hạn sinh lý ở giai đoạn
nảy mầm.
Kết quả phân tích sự biến động hoạt độ của - amylase ở giai đoạn hạt
nảy mầm khi xử lý dung dịch sorbitol 5% được trình bày ở bảng 3.2 và hình 3.1.
Kết quả cho thấy, hoạt độ của - amylase trong giai đoạn hạt nảy mầm
sau khi bị xử lý bởi sorbitol 5% biểu hiện khác nhau giữa các giống lạc và giữa
các ngày tuổi. Xu hướng chung của sự biến động này là hoạt độ của - amylase
tăng từ giai đoạn 1 ngày tuổi và cao nhất ở 7 ngày tuổi sau đó giảm dần ở 9 ngày
tuổi. Trong đó, giống L
24
có hoạt độ của -amylase cao nhất so với các giống

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24
còn lại. Ở các giai đoạn 1, 3, 5, 7, 9 ngày tuổi giống L
24

1,52 0,06
TN
0,45 0,04
1,02 0,24
2,13 0,04
2,64 0,05
1,82 0,09
% so ĐC
109,75
129,11
131,48
148,31
119,73
L
23

ĐC
0,38 0,01
0,71 0,04
1,42 0,02
1,62 0,02
1,58 0,05
TN
0,41 0,03
0,93 0,16
1,88 0,03
2,21 0,03
1,76 0,11
% so ĐC
107,89

0,32 0,01
0,48 0,22
1,15 0,04
1,36 0,02
1,09 0,09
TN
0,39 0,07
0,59 0,03
1,47 0,04
1,79 0,03
1,38 0,06
% so ĐC
121,89
122,92
127,83
131,62
126,61
L
CB

ĐC
0,39 0,05
0,46 0,04
1,56 0,03
1,76 0,03
1,41 0,10
TN
0,44 0,12
0,58 0,16
2,06 0,03

hoạt độ của - amylase ở giai đoạn hạt nảy mầm của các giống lạc. Bùi Thị
Thu Thủy (2005), phân tích hoạt độ của - amylase ở giai đoạn hạt nảy mầm của
một số giống lúa đã nhận thấy, những giống có khả năng chịu hạn đều có hoạt độ

Trích đoạn Tạo vật liệu khởi đầu cho chọn dòng chịu hạn ở các giống lạc bằng kỹ thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status