ĐỀ TÀI: CƠ CHẾ QUẢN LÝ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH ĐIỆN LỰC VIỆT
NAM
LỜI MỞ ĐẦU
Điện năng là một loại hàng hoá đặc biệt. Đặc thù của quá trình kinh doanh điện năng bao
gồm 3 khâu liên hoàn: Sản xuất - Truyền tải - Phân phối điện năng xảy ra đồng thời và ngay tức
khắc, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ không qua một khâu thương mại trung gian nào. Điện
năng được sản xuất ra khi đủ khả năng tiêu thụ vì đặc điểm của hệ thống điện là ở bất kỳ thời
điểm nào cũng có sự cân bằng giữa công suất phát ra và công suất tiêu thụ (không để tồn đọng).
Thị trường điện lực (TTĐL) là việc hộ tiêu thụ cuối tiêu thụ điện năng từ các nhà máy sản
xuất điện thông qua hệ thống truyền tải điện (được xem như độc quyền tự nhiên) hình thành nên
thị trường điện bán buôn giữa các nhà máy điện và thị trường điện bán lẻ cho các hộ tiêu thụ điện
năng.
Ngành điện Việt Nam hiện đang nằm trong xu thế đa dạng hoá các thành phần kinh tế
tham gia hoạt động điện lực cùng với nhu cầu về liên kết và hội nhập khu vực. Phương thức quản
lý độc quyền nhà nước của hoạt động sản xuất kinh doanh điện hiện nay còn nhiều bất cập. Việc
nghiên cứu đưa ra mô hình quản lý thị trường điện lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong đầu
tư, phát triển, quản lý và vận hành hệ thống điện, đồng thời xem xét vấn đề giá điện và chất
lượng dịch vụ điện cũng như huy động các nguồn tài chính mới cho nhu cầu phát triển điện lực là
rất cần thiết và phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGÀNH ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
2.1. Cơ cấu tiêu thụ điện tại Việt Nam
Việt Nam đang trong quá trình CNH – HĐH đất nước, việc tiêu thụ điện tại Việt Nam gia
tăng qua các năm và chủ yếu tập trung trong lĩnh vực công nghiệp.Theo đó, công nghiệp là ngành
chiếm tỉ trọng tiêu thụ điện năng nhiều nhất với tốc độ tăng từ 47.4% lên đến 52% tổng sản lượng
tiêu thụ điện tương ứng trong năm 2006 và 2010. Tiêu thụ điện hộ gia đình chiếm tỉ trọng lớn thứ
hai nhưng có xu hướng giảm nhẹ do tốc độ công nghiệp hoá nhanh của Việt Nam, từ 42.9% năm
2006 thành 38.2% năm 2010. Phần còn lại dịch vụ, nông nghiệp và các ngành khác chiếm khoảng
10% tổng sản lượng tiêu thụ điện năng.
Bảng 1. Tiêu thụ điện theo ngành trong khoảng thời gian 2006-2010(Nguồn: Tổng sơ đồ VII)
STT Danh mục
2005
11004 TBA 110KV) do 4 Công ty Truyền tải điện quản lý vận hành. Tuy nhiên, mặt kỹ thuật thì
tính liên kết của hệ thống lưới điện truyền tải chưa cao, khi một phần tử bị sự cố sẽ ảnh hưởng
Phát điện
Bán buôn/Truyền tải
Công ty phân phối
Khách hàng
Phát điện
Bán buôn/Truyền tải
Công ty phân phối
Khách hàng
Mua bán giữa các công ty
chung tới toàn bộ hệ thống lưới điện. Đối với lưới điện phân phối, do 7 công ty điện lực trực
thuộc EVN quản lý trực tiếp bán điện đến các hộ phụ tải.
2.3. Thị trường điện Việt Nam
Cho đến năm 2010 thị trường điện tại Việt nam vẫn ở dạng độc quyền với Tập đoàn Điện
lực Việt Nam (EVN), một công ty nhà nước, nắm giữ hơn 71% tổng lượng điện sản xuất, nắm
toàn bộ khâu truyền tải, vận hành hệ thống điện, phân phối và kinh doanh bán lẻ điện.
Hiện nay các bên tham gia vào thị trường phát điện tại Việt Nam là các công ty Nhà nước
như Tập đoàn Điện lực Việt nam (EVN), Tập đoàn Dầu khí Viêt Nam (PVN), Tập đoàn Than và
Khoáng sản Việt Nam (VINACOMIN) và các nhà sản xuất điện độc lập (IPPs) và dự án BOT
nước ngoài. Các công ty Nhà nước chiếm thị phần rất lớn trong sản xuất điện. Ví dụ vào cuối
năm 2009, tổng công suất lắp đặt các nguồn điện tại Việt Nam là 17.521MW trong số đó nguồn
điện thuộc sở hữu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là 53%, của Tập đoàn Dầu khí Việt
Nam (PVN) là 10% và VINACOMIN là 3.7%. Các nhà sản xuất điện độc lập (IPP) và dự án
BOT nước ngoài chiếm 10.4% tổng công suất lắp đặt của năm 2009.
2.4. Cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động của ngành điện lực
2.4.1. Các mô hình tổ chức kinh doanh điện năng trên thế giới
Cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và quản lý, kết hợp với sự phát triển của
một số học thuyết kinh tế mới đã tạo điều kiện để nhiều công ty điện lực nghiên cứu xây dựng,
phát triển các mô hình kinh doanh mới thay thế cho mô hình truyền thống trước đây, như mô
IPP IPP
IPP
IPP IPP
Bán lẻ
CT PP
CT PP
CT PP
CT PP Bán lẻ
KH
KH KH
KH
KH KH
Lưới truyền tải,
thị trường bán buôn
Lưới phân phối,
thị trường bán lẻ
2. Mô hình thị trường điện cạnh tranh phát điện nhưng chỉ có một đại lý mua buôn: Là mô hình
chỉ có một người mua duy nhất từ nhiều nhà máy phát điện. Toàn bộ điện năng sản xuất ra phải
bán cho đại lý mua buôn và đại lý này thực hiên chức năng phân phối độc quyền cho khách hàng
tiêu thụ.
Hình 2. Mô hình Thị trường điện cạnh tranh phát điện có một đại lý mua buôn
3. Mô hình thị trường cạnh tranh phát điện và cạnh tranh bán buôn: Là mô hình mà các công ty
phân phối có thể mua điện từ nhiều công ty bán buôn khác nhau tuy nhiên vẫn độc quyền trong
khâu phân phối cho các khách hàng dùng điện.
Hình 3. Mô hình Thị trường cạnh tranh phát điện và cạnh tranh bán buôn
IPP: Nhà máy điện độc lập CT PP: Công ty phân phối KH: Khách hàng
4. Mô hình thị trường điện cạnh tranh hoàn toàn: Là mô hình mà ở đó tất cả các khách hàng đều
có quyền lựa chọn nhà cung cấp điện chứ không bắt buộc phải mua qua các nhà phân phối độc
quyền. Giá cả ở đây hoàn toàn được xác định dựa trên mối quan hệ cung cầu điện năng.
Hình 4. Mô hình Thị trường cạnh tranh hoàn toàn
nhà nước.
Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (Ao) có trách nhiệm bố trí phương thức phát
điện theo hợp đồng ký với Công ty BOT, IPP , Cổ phần và kế hoạch đã giao. Trường hợp không
huy động công suất, điện năng của các Công ty BOT, IPP, Cổ phần, EVN vẫn phải trả tiền theo
hợp đồng đã cam kết với các Công ty.
Các Công ty Điện lực miền và thành phố lớn mua điện từ hệ thống lưới điện truyền tải
theo giá bán nội bộ do HĐQT của EVN phê duyệt hàng năm để bán lại cho khách hàng sử dụng
điện. Các Công ty truyền tải có trách nhiệm tải điện cho các Công ty Điện lực, không tham gia
kinh doanh điện.
Như vậy, với cơ cấu tổ chức và điều hành như trên và mặc dù đã có nhiều cải tiến, thị
trường điện hiện tại thực chất là thị trường độc quyền một người bán với sự điều tiết đồng thời
của nhiều cơ quan nhà nước. Mô hình quản lý sản xuất kinh doanh của EVN vẫn đang thực hiện
theo mô hình Nhà nước độc quyền quản lý tất cả các khâu của quá trình: Sản xuất - Truyền tải -
Phân phối điện năng. Mô hình này đã dẫn đến nhiều hạn chế về quản lý cũng như hiệu quả đầu
tư, không thúc đẩy sự phát triển sản xuất kinh doanh điện năng. Giá bán điện cho từng loại khách
hàng được tính trên cơ sở chi phí cận biên dài hạn và do Chính phủ quy định áp dụng thống nhất
trong cả nước. Giá bán điện vẫn còn mang nặng tính “bù chéo” giữa các nhóm khách hàng. Hoạt
động kinh doanh điện năng hiện nay vẫn chưa tách bạch rõ ràng chức năng kinh doanh và hoạt
động công ích của các công ty phân phối điện.
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÀNH ĐIỆN LỰC NHỮNG NĂM QUA
2.1. Những kết quả đạt được
Sự hình thành Tổng Công ty Ðiện lực Việt Nam vào 27 tháng 1 năm 1995 để thống nhất
quản lý toàn ngành trên phạm vi cả nước, nhằm huy động tối ưu mọi nguồn lực của cả ba miền
trong việc xây dựng và phát triển ngànhđiện cho sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Với chính sách mở cửa của Ðảng và Nhà nước, một loạt các công trình đã được xây dựng
trong thời gian qua với nguồn vốn của các tổ chức quốc tế và trong nước. Năm 2001, tổng sản
lượng điện năng sản xuất và mua ngoài là 30.608kWh. Chiến lược giai đoạn 2010 - 2020 của
ngành điện là sản xuất và nhập khẩu tổng cộng 194-210 tỉ kWh đến năm 2015, 330-362 tỉ kWh
năm 2020, và 695-834 tỉ kWh năm 2030, đáp ứng được cơ bản nhu cầu điện năng cần thiết cho
sự phát triển kinh tế của đất nước và sinh hoạt của nhân dân.
xuất, mà còn tổn hại rất lớn đến kinh tế. Đại diện Tổng công ty Thép cho biết, luyện thép phải
duy trì thời gian liên tục 24/24 giờ, nếu giữa chừng mà bị cắt điện, thì không những hư mẻ thép,
mà còn có khả năng xảy ra những sự cố kỹ thuật không lường. Ví dụ như trường hợp của những
người trồng thanh long ở Bình Thuận cũng lao đao vì lịch cắt điện triền miên khiến thanh long
đậu hoa kém, gây tổn thất nặng nề.
Không thể phủ nhận, thiếu điện là do hệ thống điện đang thiếu nguồn phát. Vì vậy, để ổn
định nguồn điện, chúng ta đã phải nhập điện từ Trung Quốc. Không chỉ năm 2011 mà từ nhiều
năm trước, việc nhập khẩu điện từ Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng điện
của các tỉnh phía Bắc. Việc cơ sở hạ tầng không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế dẫn tới
việc thiếu hụt điện cung ứng trong nội địa và EVN phải nhập khẩu điện từ Trung Quốc ngày càng
tăng.
Ở nước ta đã từ nhiều năm nay, Cơ chế mà các cơ quan quản lý nhà nước tạo ra
cho ngành điện là độc quyền trên thị trường bán buôn, bán lẻ và đường dây truyền tải. Do đó rất
nhiều nhà đầu tư, nhà sản xuất điện gặp nhiều mắc mớ với EVN trong khâu mua bán điện, bởi
EVN bao giờ cũng mua giá thấp hơn giá bán. Trong khi người bán bao giờ cũng muốn bán giá
cao. Từ đó sinh ra mâu thuẫn và họ cho rằng EVN cậy thế độc quyền ép giá Ví dụ như là những
“mắc mớ” giữa tập đoàn dầu khí với EVN, than khoáng sản với EVN Mới đây nhất là cuộc
tranh cãi giữa EVN và Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) về giá bán điện của nhà
máy nhiệt điện Sơn Động do TKV làm chủ đầu tư. Tháng 11/2007, TKV đã chào bán mức giá
720 đồng/kWh, nhưng EVN thì chỉ đồng ý mua với giá 678,4 đồng/kWh. Tới tháng 1/2008, TKV
tính toán lại, giảm 10 đồng xuống còn 710 đồng/kWh. Tuy nhiên, phía EVN vẫn chưa chấp
thuận. Theo Tổng Giám đốc TKV, mức giá trên đã được Tập đoàn tính toán trên cơ sở giảm tối
đa chi phí đầu vào, đảm bảo hiệu quả đầu tư của dự án. Còn theo tính toán của EVN, nếu chấp
nhận mua giá trên, cộng chi phí truyền tải, phân phối và tổn thất điện năng khoảng 295 đồng/kwh
thì tổng chi phí giá điện đến người tiêu dùng sẽ là 1.015 đồng/kWh. Với sản lượng điện mua từ
nhà máy Sơn Động vào khoảng 1,2 tỷ kWh/năm, thì mỗi năm EVN sẽ phải bù lỗ khoảng 144,2 –
173 tỷ đồng. Do vậy, 2 Tập đoàn này đã phải nhờ đến Bộ Công Thương làm trọng tài giải quyết
vấn đề. Tình trạng đàm phán không có hồi kết này đã và đang diễn ra ở nhiều dự án khác, gây
ảnh hưởng tới tình hình hoạt động chung của ngành.
Để giải bài toán phức tạp hiện nay của ngành điện, phá bỏ cơ chế độc quyền, con đường
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
NGÀNH ĐIỆN LỰC VIỆT NAM
3.1. Phát triển mô hình quản lý điện mới
Theo Chiến lược phát triển chung của ngành điện trong giai đoạn tiếp theo: Phát triển
đồng bộ nguồn và lưới điện theo hướng hiện đại. Phát triển thuỷ điện, nhiệt điện than, nhiệt điện
khí, điện nguyên tử , kết hợp trao đổi, liên kết lưới điện với các nước trong khu vực. Tổng công
ty Điện lực Việt Nam chỉ đầu tư những công trình phát điện có công suất từ 100 MW trở lên, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp khác đầu tư các công trình có công suất nhỏ hơn. Phát triển
nhanh, đồng bộ, hiện đại hệ thống truyền tải, phân phối nhằm nâng cao độ tin cậy, an toàn cung
cấp điện và giảm tổn thất điện năng.
Đối với thị trường điện: Từng bước hình thành thị trường điện trong nước, trong đó Nhà
nước giữ độc quyền ở khâu truyền tải và chi phối trong khâu sản xuất và phân phối điện. Trước
mắt, hình thành thị trường mua bán điện trong nội bộ Tổng công ty Điện lực Việt Nam. Nghiên
cứu xây dựng đầy đủ các khuôn khổ pháp lý, các điều kiện để sớm hình thành thị trường điện độc
lập.
Qua tham khảo một số mô hình quản lý kinh doanh điện năng của các nước trên thế giới
gắn liền với việc xem xét thực trạng mô hình quản lý độc quyền nhà nước cũng như hoạt động
sản xuất kinh doanh ngành Điện Việt Nam. Với những định hướng phát triển của ngành Điện
trong thời gian tới cần thiết phải xây dựng một mô hình quản lý phù hợp nhằm đáp ứng được yêu
cầu phát triển thị trường điện lực và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Có thể xem xét biến
động của từng đối tượng tham gia vào thị trường điện trong giai đoạn 2005-2010 để xây dựng mô
hình hợp lý, cụ thể như sau:
- Đối với EVN: do đặc thù của ngành điện Việt Nam trong điều kiện hiện nay là mức cung khó
có thể đáp ứng được cầu điện năng trong giai đoạn này. EVN cần chủ động điều tiết các nguồn
phát đảm bảo cân bằng hệ thống, do vậy có thể trở thành người mua duy nhất của các nhà máy
điện.
- Đối với các nhà máy điện: từng bước thực hiện cổ phần hoá các nhà máy điện, chuyển các nhà
máy điện thuộc EVN thành các nhà máy điện độc lập. Các nhà máy điện chỉ bán điện trực tiếp
cho EVN thông qua chào giá cạnh tranh. Tuy nhiên trong điều kiện phát triển hơn của hệ thống
lưới điện, các khách hàng lớn cũng có thể mua trực tiếp từ các nhà máy điện.
ngành.
- Tái cơ cấu ngành theo hướng cần tách riêng tính công ích để có sự quản lý phù hợp; phân định
rõ và cụ thể về mục tiêu của từng lĩnh vực trong ngành để từ đó có phương thức điều tiết và can
thiệp hiệu quả.
- Mỗi một lĩnh vực cần cân bằng giữa đảm bảo mục tiêu kinh doanh và thực hiện chính sách của
Nhà nước. Về lâu dài, nên có sự tách biệt giữa mục tiêu kinh doanh và mục tiêu xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kinh tế công
2. Các mô hình quản lý thị trường ngành điện lực và khả năng áp dụng tại Việt Nam - Nguyễn
Thành Sơn (2007)
3.