MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
1.1.2. Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và sự cần thiết phải hoàn thiện cơ
chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản 13
+ Đặc điểm về kinh doanh điện năng: 45
+ Đặc điểm về công nghệ sản xuất: 45
+ Đặc điểm về tổ chức vận hành và bảo dưỡng hệ thống 46
3.3.5. Các giải pháp đặc thù khác 84
3.3.5.2. Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý, cá nhân liên quan đến đầu tư
XDCB, chuyên nghiệp hoá công tác quản lý dự án 85
- Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý: 85
- Nâng cao năng lực của cán bộ tham gia quản lý dự án, chuyên gia xét thầu:
85
- Phải thực sự chuyên nghiệp trong hoạt động đấu thầu 86
3.3.5.3. Tăng cường hiệu quả quản lý công tác đấu thầu, nâng cao chất lượng đấu
thầu của các nhà thầu, tăng cường quản lý hợp đồng sau đấu thầu 87
3.3.5.5. Chấn chỉnh và nâng cao hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
trong đầu tư xây dựng 89
- Thực hiện nghiêm pháp luật đề ra: Để pháp luật thực hiện được nghiêm thì
trước hết phải thực hiện nghiêm ở các cơ quan bảo vệ pháp luật. Có cơ chế
thưởng, phạt thật hấp dẫn để làm cho người vi phạm không dám vi phạm,
người phát hiện và xử lý được hưởng quyền lợi thoả đáng làm cho người vi
phạm không thể hối lộ được. Lấy tiền phạt thu được làm tiền thưởng cho
người phát hiện, xử phạt. Người phát hiện vi phạm mà không xử phạt theo
đúng quy định sẽ bị phạt theo đúng mức phạt đó. Thưởng, phạt nghiêm đúng
mức độ một thời gian sẽ không còn vi phạm nữa. Củng cố và tăng cường các
hoạt động tư pháp cho phù hợp với cơ chế thị trường: Hệ thống toà án phải
đảm bảo khả năng xét xử một cách nhanh chóng, công minh đúng pháp luật
tất cả các mối quan hệ của các chủ thể trong xã hội, đặc biệt là các quan hệ
kinh tế giữa Nhà nước với các doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với
nhau. Xây dựng và thực hiện quy định về thể thức và quy trình làm việc,
source not found
BIỂU
Biểu đồ 2.1. Cơ cấu kinh tế năm 2005 và 2009 Error: Reference source not
found
SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
1.1.2. Cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và sự cần thiết phải hoàn thiện cơ
chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản 13
+ Đặc điểm về kinh doanh điện năng: 45
+ Đặc điểm về kinh doanh điện năng: 45
+ Đặc điểm về công nghệ sản xuất: 45
+ Đặc điểm về công nghệ sản xuất: 45
+ Đặc điểm về tổ chức vận hành và bảo dưỡng hệ thống 46
+ Đặc điểm về tổ chức vận hành và bảo dưỡng hệ thống 46
3.3.5. Các giải pháp đặc thù khác 84
3.3.5. Các giải pháp đặc thù khác 84
3.3.5.2. Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý, cá nhân liên quan đến đầu tư
XDCB, chuyên nghiệp hoá công tác quản lý dự án 85
3.3.5.2. Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý, cá nhân liên quan đến đầu tư
XDCB, chuyên nghiệp hoá công tác quản lý dự án 85
- Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý: 85
- Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý: 85
- Nâng cao năng lực của cán bộ tham gia quản lý dự án, chuyên gia xét thầu:
85
- Nâng cao năng lực của cán bộ tham gia quản lý dự án, chuyên gia xét thầu:
85
- Phải thực sự chuyên nghiệp trong hoạt động đấu thầu 86
- Phải thực sự chuyên nghiệp trong hoạt động đấu thầu 86
3.3.5.3. Tăng cường hiệu quả quản lý công tác đấu thầu, nâng cao chất lượng đấu
thầu của các nhà thầu, tăng cường quản lý hợp đồng sau đấu thầu 87
Nam Định đã và đang là một trung tâm kinh tế - chính trị quan trọng của vùng Nam
đồng bằng sông Hồng với những thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, kinh tế biển,
công nghiệp dệt may, chế biến nông sản, thực phẩm, thuỷ sản, sản xuất vật liệu xây
dựng và cơ khí, điện, điện tử.
Công ty Điện lực Nam Định (ĐLNĐ) là doanh nghiệp nhà nước, trực thuộc
Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc (ĐLMB) – Tập đoàn Điện lực Việt Nam
(ĐLVN), là một đơn vị SXKD và mặt hàng kinh doanh chủ yếu là điện năng thương
phẩm.
Mạng lưới truyền tải và phân phối do Công ty ĐLNĐ quản lý đã phát triển
tương đối hoàn thiện song vẫn còn không ít những tồn tại và hạn chế gây nên nguy
cơ mất an toàn và tổn thất điện năng lớn.
Lưới điện trung, cao thế có nhiều tuyến, lộ dây cũ nát được xây dựng từ rất
lâu. Do đường dây được thiết kế và xây dựng từ lâu nên hiện nay đã không còn đảm
bảo đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật để vận hành: Tiết diện dây nhỏ gây ra hiện tượng
quá tải, cột điện cũ không đảm bảo an toàn kỹ thuật
Ngành điện và tỉnh Nam Định chủ trương tiếp nhận lưới điện hạ thế nông
thôn của tỉnh (trước đây do địa phương tự đầu tư) để Công ty ĐLNĐ quản lý, đầu tư
cải tạo, bán điện trực tiếp đến hộ dân để toàn tỉnh (nhất là nông dân) được hưởng
1
giá điện, chất lượng điện như thành phố mà không phải đóng góp thêm kinh phí.
Thực hiện chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Nam Định và Tập đoàn
ĐLVN, Công ty ĐLNĐ xây dựng kế hoạch tiếp nhận lưới điện hạ thế toàn tỉnh.
Thời gian giao - nhận lưới điện hạ thế của tỉnh trong năm 2008, 2009, 2010.
Sau việc bàn giao lưới điện trung áp nông thôn cho ngành điện quản lý đã
được hoàn tất, Chính phủ tiếp tục có chủ trương chuyển giao lưới điện của thủy
nông, nông lâm trường, quân đội, và lưới điện hạ áp nông thôn cho ngành điện quản
lý. Sau tiếp nhận, khó khăn lớn nhất đặt ra là khối lượng quản lý lớn, hạ tầng lưới
điện đã cũ nát, mất an toàn, tổn thất điện năng cao. Từ đó đòi hỏi vốn đầu tư lớn và
sự nỗ lực cao độ của tập thể cán bộ công nhân viên trong quản lý vận hành, đầu tư
xây dựng và cải tạo lưới điện.
lực tỉnh Nam Định” đã chọn vẫn mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, bổ
sung và làm phong phú thêm tình hình nghiên cứu khoa học về cơ chế quản lý đầu
tư XDCB.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu, hệ thống hoá cơ sở lý luận về cơ chế quản lý đầu tư XDCB, từ
đó làm tiền đề để hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư XDCB ở Công ty ĐLNĐ.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý đầu tư XDCB của Công ty ĐLNĐ
trong thời gian qua, tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, những lợi thế, những khó
khăn. Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư XDCB
ở Công ty ĐLNĐ trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quản lý đầu tư XDCB ở Công ty ĐLNĐ.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động đầu tư XDCB ở Công ty ĐLNĐ
đặt trong mối quan hệ với Tổng Công ty ĐLMB, Tập đoàn ĐLVN.
Thời gian nghiện cứu: từ năm 2006 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với
chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp thống kê phân tích thu thập xử lý số liệu, tổng hợp, so sánh;
3
phương pháp logic kết hợp lịch sử sử và một số phương pháp khác.
6. Những đóng góp của luận văn
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về đầu tư XDCB và cơ chế quản lý đầu tư XDCB.
- Giới thiệu tổng quát về quá trình hình thành và phát triển của Công ty
ĐLNĐ, những đóng góp của Công ty ĐLNĐ cho sự phát triển kinh tế - xã hội
(KTXH) của tỉnh Nam Định, cho việc hoàn thành những nhiệm vụ SXKD của Tổng
Công ty ĐLMB và Tập đoàn ĐLVN trong những năm qua.
- Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý đầu tư XDCB ở Công ty
ĐLNĐ trong thời gian qua, tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu, những lợi thế, những
khó khăn, xác định nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm rút ra từ công tác
Đầu tư theo nghĩa hẹp là đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các
nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương
lai lớn hơn các nguồn lực đã đầu tư để đạt được các kết quả đó
Đầu tư có thể tiến hành theo những phương thức khác nhau: đầu tư trực tiếp,
đầu tư gián tiếp.
- Đầu tư gián tiếp: là loại hình đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho
vay hoặc mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (mua trái phiếu
chính phủ, trái phiếu công trình, chứng khoán, trái khoán, gửi tiết kiệm ) hoặc lãi
suất tùy thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành. Theo
phương thức đầu tư này, người bỏ vốn đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý và
điều hành dự án. Đầu tư gián tiếp không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ
5
làm tăng giá trị tài chính của tổ chức, cá nhân đầu tư. Vì vậy, phương thức đầu tư
này còn gọi là đầu tư tài chính.
- Đầu tư trực tiếp: Theo phương thức này, người bỏ vốn đầu tư sẽ trực tiếp
tham gia quản lý trong quá trình đầu tư, quá trình quản lý kinh doanh khi đưa dự án
vào khai thác, sử dụng sau này. Đầu tư trực tiếp có hai hình thức:
+ Đầu tư dịch chuyển: Đầu tư dịch chuyển là bỏ chi phí ra để mua cổ phần
của người khác nhằm chuyển dịch quyền quản trị trong hoạt động kinh doanh. Đó là
hình thức đầu tư mà ở đó chỉ liên quan đến việc tăng hoặc giảm quy mô của từng
nhà đầu tư cá biệt, nó không ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hoặc giảm quy mô
vốn trên toàn xã hội.
+ Đầu tư phát triển (ĐTPT): ĐTPT là bộ phận cơ bản của đầu tư, là hình
thức đầu tư mà ở đó có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô vốn của nhà đầu tư và
quy mô vốn trên phạm vi toàn xã hội. Điển hình của ĐTPT là đầu tư vào khu vực
sản xuất, dịch vụ, đầu tư vào yếu tố con người và đầu tư vào cơ sở hạ tầng KTXH.
Đó là quá trình chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo nên những yếu
tố cơ bản của SXKD dịch vụ tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực SXKD mới
thông qua việc mua sắm lắp đặt thiết bị, máy móc, xây dựng nhà cửa vật kiến trúc
và tiến hành các công việc có liên quan đến sự phát huy tác dụng của các cơ sở vật
trường sinh thái, nguồn nhân lực
Thứ hai: Đầu tư hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm: i, Đầu tư mua
sắm trang thiết bị, chế tạo ra những cơ sở vật chất không gắn với đất như đóng tàu,
chế tạo máy bay ; ii, Đầu tư nhằm hình thành cơ sở vật chất gắn liền với đất được
gọi là đầu tư XDCB.
XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung nên đầu tư XDCB có
đầy đủ các đặc điểm và các tính chất của hoạt động đầu tư. Trong đó nổi lên các đặc
điểm cơ bản là đặc thù của hoạt động đầu tư XDCB: Một là, Sản phẩm của đầu tư
XDCB có tính cố định, nơi sản xuất cũng đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm. TSCĐ
sẽ chịu tác động rất lớn của các điều kiện về địa lý, địa hình, môi trường KTXH.
Sản phẩm XDCB chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu, thời tiết. Hai là, Thời gian
7
XDCB và thời gian tồn tại của sản phẩm XDCB lâu dài, khối lượng vốn đầu tư lớn.
Ba là, Tính đơn chiếc và chu kỳ sản xuất không lặp lại là đặc điểm riêng có của đầu
tư XDCB. Dù thiết kế giống nhau, nhưng địa điểm xây dựng khác nhau, thời gian,
khí hậu các vùng khác nhau dẫn đến sản phẩm không giống nhau hoàn toàn từ đó
chi phí sản xuất cũng không giống nhau.
Hoạt động đầu tư XDCB là hết sức cần thiết, bởi vì:
- Do đặc điểm sử dụng TSCĐ tham gia nhiều lần vào quá trình tái sản xuất,
giá trị TSCĐ bị giảm dần và chuyển dần từng phần vào trong giá trị sản phẩm nên
phải tiến hành đầu tư XDCB để bù đắp giá trị TSCĐ bị hao mòn và duy trì dự trữ
nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất tiếp theo. Như vậy, đầu tư XDCB nhằm thực
hiện tái sản xuất giản đơn TSCĐ.
- Theo sự phát triển chung của xã hội, nhu cầu quy mô sản xuất ngày càng
mở rộng đòi hỏi phải tiến hành đầu tư XDCB nhằm tăng thêm TSCĐ mới và tăng
thêm dự trữ tài sản lưu động. Như vậy, đầu tư XDCB nhằm thực hiện tái sản xuất
mở rộng TSCĐ.
- Trong thời đại của tiến bộ công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhiều máy móc
thiết bị trở nên lạc hậu. Vì vậy, phải tiến hành đầu tư mới để thay thế các tài sản sản
xuất đã bị hao mòn vô hình.
xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng.
+ Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo
lãnh, vốn tín dụng ĐTPT của nhà nước và vốn ĐTPT của doanh nghiệp Nhà nước
thì Nhà nước chỉ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư. Doanh nghiệp có dự án
tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định của pháp
luật có liên quan.
+ Đối với các dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tự
quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án. Đối với các dự án sử dụng hỗn hợp
nhiều nguồn vốn khác nhau thì các bên góp vốn thỏa thuận về phương thức quản lý
hoặc quản lý theo quy định đối với nguồn vốn có tỷ lệ phần trăm lớn nhất trong
tổng mức đầu tư.
9
Đối với dự án quan trọng quốc gia hoặc dự án nhóm A gồm nhiều dự án
thành phần, nếu từng dự án thành phần có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực
hiện theo phân kỳ đầu tư thì mỗi dự án thành phần có thể được quản lý, thực hiện
như một dự án độc lập. Việc phân chia dự án thành phần do người quyết định đầu tư
quyết định.
Đầu tư XDCB xét về bản chất nó là ngành sản xuất vật chất có chức năng tái
sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ có tính chất sản xuất và phi
sản xuất thông qua hình thức xây dựng mới, xây dựng lại hay hiện đại hóa và khôi
phục lại tài sản đã có.
1.1.1.2. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản trong phát triển kinh tế xã hội
Đầu tư XDCB có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật
cho xã hội, là nhân tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân mỗi nước,
thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Đặc trưng của XDCB là
một ngành sản xuất vật chất đặc biệt có những đặc điểm riêng khác với những
ngành sản xuất vật chất khác cả về sản phẩm và vốn đầu tư XDCB.
Trong bất kỳ xã hội nào cũng đều phải có cơ sở vật chất kỹ thuật tương ứng,
việc bảo đảm tính tương ứng này chính là nhiệm vụ của hoạt động đầu tư XDCB.
Như vậy muốn có nền kinh tế phát triển thì điều kiện trước tiên và cần thiết là phải
- Đầu tư XDCB có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế.
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư XDCB đến tổng
cung và tổng cầu của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư XDCB đều
cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của
nền kinh tế của mọi quốc gia.
Khi tăng đầu tư XDCB, cầu của các yếu tố đầu tư tăng làm cho giá cả của
các hàng hoá có liên quan tăng, đến một lúc nào đó dẫn đến yếu tố lạm phát. Lạm
phát dẫn đến ngừng trệ sản xuất, đời sống lao động gặp nhiều khó khăn, thâm hụt
ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác khi tăng đầu tư XDCB làm cho cầu
của các yếu tố có liên quan tăng lên, dẫn đến sản xuất của các ngành này phát triển,
11
thu hút thêm lao động, giảm thất nghiệp, nâng cao đời sống người lao động , tất cả
các vấn đề này tạo điều kiện cho phát triển tinh tế.
- Đầu tư XDCB tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Đầu tư làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành, các vùng kinh tế. Để
phát triển kinh tế ổn định, vững chắc với tốc độ cao, cần thiết phải đầu tư để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH nâng cao tỷ trọng các ngành công
nghiệp, dịch vụ trong GDP đồng thời giải quyết sự mất cân đối về phát triển giữa
các vùng lãnh thổ nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh giữa các vùng
lãnh thổ của đất nước.
Nước ta hiện nay, nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cần phải chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng tăng tỷ trọng cơ cấu ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của
ngành nông nghiệp.
- Đầu tư XDCB tác động đến khoa học và công nghệ, là nhân tố quan trọng
ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa học, công nghệ của một doanh
nghiệp và quốc gia.
Công nghệ là trung tâm của CNH-HĐH. Đầu tư XDCB là điều kiện tiên
quyết của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ.
Công nghệ có được là do nhập khẩu hoặc tự nghiên cứu và ứng dụng. Song,
Theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam giải nghĩa từ “cơ chế” như sau: “cơ là máy
móc; chế là phép định ra. Cơ chế là cách thức sắp xếp theo một trình tự nhất định”.
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm
2000 giải nghĩa: “Cơ chế là cách thức theo đó một quá trình thực hiện”.
Theo từ điển Tiếng Việt (Vũ Chất, Nhà xuất bản văn hoá thông tin) năm
2009 thì quản lý chính là việc sắp đặt, trông nom.
Khi nói đến quản lý là nói đến chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Để kiểm
soát đối tượng quản lý và hướng đối tượng quản lý theo đúng chủ đích của mình,
chủ thể quản lý phải có những ý tưởng để tiết chế đối tượng quản lý thông qua công
cụ quản lý. Cơ chế quản lý là phương thức để chủ thể quản lý tác động tới đối tượng
quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra.
Như vậy, ta có thể hiểu: Cơ chế quản lý đầu tư XDCB là cách thức quản lý
đầu tư XDCB, là phương thức tác động từ chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý
13
đầu tư XDCB nhằm đạt được mục tiêu đặt ra. Cơ chế quản lý đầu tư XDCB bao
gồm những quy định về nội dung, trình tự công việc cần làm; tổ chức bộ máy để
thực thi các công việc và những quy định về thưởng, phạt khi thực hiện tốt hoặc
không tốt công việc đó.
1.1.2.2. Nguyên tắc cơ bản trong cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Tuy cơ chế quản lý mang tính chủ quan nhưng hiệu quả của cơ chế đòi hỏi
nó phải phù hợp với yêu cầu khách quan trong điều kiện lịch sử cụ thể. Do đó cơ
chế quản lý nói chung và cơ chế quản lý đầu tư XDCB nói riêng phải luôn luôn
được hoàn thiện để đáp ứng các điều kiện khách quan của thực tiễn. Quản lý đầu tư
XDCB phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả cao
Tiết kiệm và đạt hiệu quả cao vừa là mục tiêu, vừa là phương hướng, tiêu
chuẩn đánh giá trình độ, năng lực quản lý đầu tư XDCB.
Nội dung của nguyên tắc này là quản lý sao cho với một đồng vốn đầu tư
XDCB bỏ ra phải thu lại lợi ích cao nhất. Để tạo ra được một năng lực sản xuất mới,
hay một chất lượng phục vụ tốt hơn thì cần phải quản lý như thế nào để tiết kiệm chi
Kết hợp hài hoà các mặt lợi ích sẽ tạo động lực cho các bên tham gia đầu tư.
Nhà nước tính toán thấy có lợi sẽ đầu tư nhiều hơn, các doanh nghiệp đầu tư có lãi
sẽ nhanh chóng thu hồi được vốn đầu tư mở rộng SXKD, người lao động được đảm
bảo thu nhập hợp lý, sẽ yên tâm công tác, hăng say lao động, tránh được những vi
phạm, tiêu cực.
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng, lãnh thổ
Quản lý theo ngành nhằm phát huy lợi thế trên toàn quốc về chiều sâu kinh
tế - kỹ thuật. Quản lý theo vùng, lãnh thổ tạo ra thế chủ động cho các cấp chính
quyền địa phương, làm cho quá trình quản lý sâu sát với đối tượng quản lý hơn. Kết
hợp quản lý theo ngành với quản lý theo vùng lãnh thổ sẽ tạo cho quá trình quản lý
hiệu quả hơn.
Quản lý đầu tư XDCB theo ngành trước hết bằng các quy định về tiêu chuẩn,
định mức kỹ thuật do Bộ Xây dựng và các Bộ quản lý chuyên ngành ban hành.
15
Quản lý đầu tư XDCB theo địa phương, theo vùng là xây dựng đơn giá vật liệu,
nhân công, ca máy cho từng địa phương.
Ngoài ra, trong quản lý đầu tư XDCB của Nhà nước còn phải tuân thủ các
nguyên tắc như: phải thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng; phân định rõ trách
nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và
nhà thầu trong quá trình đầu tư XDCB
1.1.2.3. Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư xây dựng cơ bản
Cơ chế quản lý đầu tư XDCB là phương tiện tác động từ chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý đầu tư XDCB. Cơ chế quản lý đầu tư XDCB quyết định đến hiệu
quả đầu tư. Việc cần thiết phải hoàn thiện cơ chế quản lý hiện hành về đầu tư
XDCB xuất phát từ những lý do sau đây:
- Nền kinh tế nước ta hiện tại là nền kinh tế thị trường sơ khai với những đặc
điểm cơ bản: thị trường thiếu đồng bộ, đặc biệt là thị trường các yếu tố đầu vào còn
đang trong giai đoạn sơ khai, manh mún như thị trường vốn, thị trường lao động
Các giao dịch, thanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế còn chiếm tỷ trọng quá
lớn. Ngoài ra ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể kinh tế còn nhiều hạn chế.
Phân công, phân cấp quản lý trong hệ thống bộ máy Nhà nước là tính tất yếu
của mọi loại hình nhà nước. Từ sự phân công, phân cấp đã hình thành nhiều tổ
chức, nhiều chủ thể trong hệ thống quản lý, đồng thời tạo ra tính độc lập tương đối
giữa các cơ quan hoạch định, soạn thảo, ban hành và trực tiếp quản lý. Do tính chất,
đặc điểm của sản phẩm XDCB chi phối, nên ngoài các chủ thể trong hệ thống quản
lý của Nhà nước còn cả các chủ thể với tư cách là doanh nghiệp cũng tham gia vào
quá trình đầu tư XDCB (đơn vị tư vấn, thi công ). Về mặt lợi ích, giữa Nhà nước
và doanh nghiệp nhiều khi rất khác nhau theo khuynh hướng của người bán là tối đa
hóa lợi nhuận, còn người mua là tối đa hóa lợi ích. Trình độ chuyên môn của các cơ
quan quản lý Nhà nước, các chủ đầu tư, ban quản lý, đơn vị nhận thầu đã được nâng
lên nhưng chưa đồng đều, chưa có sự chuẩn hóa về trình độ cho các vị trí trên, dẫn
đến tính hiệu quả quản lý chưa cao, cần hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư XDCB.
- Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã đẩy mạnh
công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật do đó môi trường pháp lý đã được cải thiện
17
đáng kể. Song nhìn chung, thực trạng nền pháp lý vẫn còn nhiều bất cập: tình trạng
thiếu Luật và không đồng bộ trong hệ thống Luật còn tồn tại, việc tổ chức triển khai
thực hiện Luật còn qua nhiều khâu, nhiều nấc, nhiều tầng (Luật, Nghị định, Thông
tư, Quyết định ) không đảm bảo tính kịp thời và có lúc, có nơi chưa thống nhất với
nhau, chế tài thực hiện Luật còn thiếu, đặc biệt là các chế tài về trách nhiệm kinh tế,
pháp chế chưa được tăng cường hữu hiệu, pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống.
Với thực trạng môi trường pháp lý đang trên đà hoàn thiện đã đặt ra yêu cầu khách
quan thường trực cho việc hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư XDCB.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư XDCB nhằm huy động tối đa và sử dụng
có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tận dụng và khai
thác tốt các tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động ; bảo vệ môi
trường sinh thái; chống tham ô lãng phí trong XDCB. Bảo đảm xây dựng theo quy
hoạch, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong XDCB. Kiểm tra, kiểm soát ngăn
ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất
thoát, lãng phí ngân sách của nhà nước. Ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực do việc
KTXH ngày càng mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp SXKD. Cơ
chế chính sách của Chính phủ luôn giành ưu tiên cho phát triển lĩnh vực điện, đồng
thời cũng sẽ có bảo hộ nhất định cho ngành điện. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi
cho việc phát triển SXKD của Công ty ĐLNĐ.
Việc thể chế hoá Luật nhằm đáp ứng yêu cầu vận hành các hoạt động xây
dựng theo hướng vừa bảo đảm tính cạnh tranh, hội nhập của ngành xây dựng vào
nền kinh tế trong khu vực, vừa bảo đảm tuân thủ các quy định đã được Chính phủ
và các Bộ, ngành cụ thể hoá trong các Nghị định, Quyết định, Thông tư hướng dẫn.
Hệ thống các văn bản trên, lần đầu tiên đã xác lập khung pháp lý tương đối hoàn
chỉnh, đồng bộ nhằm điều tiết hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.
- Trước yêu cầu hội nhập quốc tế của nền kinh tế và do yêu cầu chuyên môn
hóa ngày càng cao về quản lý trong hoạt động xây dựng, Quốc hội nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Xây dựng, đánh đấu một bước phát triển mới
trong hệ thống pháp luật về đầu tư xây dựng ở Việt Nam.
19
Luật Xây dựng điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh trong hoạt động xây
dựng giữa các tổ chức, cá nhân; quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, các
nhân đầu tư xây dựng công trình và hoạt động xây dựng. Các tổ chức, cá nhân trong
nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng công trình và hoạt động xây
dựng trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ các quy định của Luật Xây dựng.
Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà XHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập
có quy định khác với Luật Xây dựng thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Luật xây dựng đã nâng cao tính pháp lý về quản lý nhà nước đối với các hoạt
động: quy hoạch xây dựng và quản lý quy hoạch; đầu tư xây dựng công trình; lập
dự án đầu tư, khảo sát thiết kế, xây dựng công trình; lựa chọn nhà thầu và hợp đồng
xây dựng; quản lý thi công xây dựng công trình; kiểm tra giám sát các khâu của quá
trình xây dựng; quản lý dự án và các hoạt động khác liên quan đến đầu tư xây dựng
công trình. Luật xây dựng tách quản lý nhà nước về đầu tư và quản lý nhà nước về
xây dựng theo từng chế định luật riêng, đảm bảo điều kiện cho chuyên môn hoá
ngày càng cao hoạt động chuyên ngành và đáp ửng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
định của luật đó. Đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),
việc đấu thầu được thực hiện trên cơ sở nội dung điều ước quốc tế mà Cộng hòa
XHCN Việt Nam là thành viên hoặc thỏa thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền của Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ký kết.
Ưu việt của Luật đấu thầu thể hiện rõ tính công khai, minh bạch trong đấu
thầu; quy định về thông tin liên quan đến quá trình đấu thầu được đăng tải công
khai trên hệ thống thông tin về đấu thầu do Bộ Kế hoạch và đầu tư quản lý. Từ đó
tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận và tìm kiếm thông tin
đấu thầu, giúp cơ quan quản lý kiểm soát được tính minh bạch ở khâu lựa chọn nhà
thầu. Luật đấu thầu nâng cao tính cạnh tranh, từng bước xoá bỏ tình trạng khép kín
và liên kết tiêu cực trong đấu thầu. Hình thức lựa chọn nhà thầu quy định chặt chẽ
hơn, hạn chế tình trạng lạm dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu kém cạnh tranh.
- Trong quá trình thi hành Luật có nhiều ý kiến kiến nghị cần phải điều chỉnh
bổ sung một số nội dung trong Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành cho phù
21