giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại tổng công ty sông đà'' - Pdf 12

MỤC LỤC
1
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT NỘI DUNG TRANG
I Bảng
Bảng 2.1 Nhân lực từ năm 2005 và dự kiến năm 2010 của
Tổng công ty Sông Đà
42
Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu tài chính từ năm 2005 – 2007 của
Tổng công ty Sông Đà
44
Bảng 2.3 Bảng phân tích tình hình huy động vốn và sử dụng vốn 52
Bảng 2.4 Bảng phân tích tính hình quản lý và sử dụng tài sản
cố định tại Tổng công ty Sông Đà
58
Bảng 2.5 Số liệu về chi phí 71
Bảng 2.6 Tình hình doanh thu 79
Bảng 2.7 Doanh thu chi tiết 81
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu đánh giá Hội đồng quản trị và ban
Tổng giám đốc về hiệu quả hoạt động quản lý doanh
nghiệp
100
Bảng 3.2 Bảng tỷ lệ trích lập các quỹ từ lợi nhuận sau thuế
saukhi bù lỗ năm trước (nếu có) và trả cổ tức cho các
cổ đông
104
II Biểu đồ
Biểu đổ 2.1 Tỷ trọng ngành nghề 43
Biểu đồ 2.2 Tình hình doanh thu 43
III Sơ đồ
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu vốn tại Tổng công ty Sông Đà 46

và đảm bảo thành công cho các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, tạo
nền tảng cho sự ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Để các doanh nghiệp
đứng vững và phát triển trong môi trường kinh doanh khắc nghiệt hiện tại,
một trong những vấn đề đang được quan tâm là cơ chế quản lý tài chính tại
các doanh nghiệp. Quá trình nghiên cứu tôi lựa chọn vấn đề hoàn thiện cơ chế
quản lý tài chính của Tổng công ty Sông Đà để nghiên cứu nhằm giải quyết
một vấn đề vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn.
3
2. Mục đích nghiên cứu của Luận văn
- Phân tích thực trạng của Cơ chế quản lý tài chính tại Tổng công ty
Sông Đà.
- Nêu giải pháp nhằm hoàn thiện Cơ chế quản lý tài chính của Tổng công
ty Sông Đà.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Tổng công ty Sông Đà
Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu các nội dung cơ bản về cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp.
- Nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Sông Đà.
4. Cơ sở nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu
- Lý luận của học thuyết Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng, chủ trương
chính sách của Nhà nước, đồng thời kết hợp với những lý thuyết về quản trị hiện đại
vận dụng vào điều kiện thực tế của doanh nghiệp nói chung và Tổng công ty Sông
Đà nói riêng.
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, kết hợp giữa logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, sử dụng các
phương pháp của khoa học thống kê, khảo sát thực tế để nghiên cứu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Một là, đề tài đã hệ thống hóa lý luận và phân tích vai trò của cơ chế
quản lý tài chính đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hai là, đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng của cơ chế quản lý tài

1.1. Tổng công ty Nhà nước và mô hình công ty mẹ - công ty con
1.1.1. Tổng công ty nhà nước
Tổng công ty nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự đầu tư
vốn giữa các công ty nhà nước, giữa công ty nhà nước với các doanh nghiệp
khác hoặc được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thành
viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường
và các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một hoặc một số chuyên
ngành kinh tế - kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực
hiện lợi ích của các đơn vị thành viên và toàn tổng công ty.
Tổng công ty nhà nước bao gồm các tổng công ty do Nhà nước quyết
định đầu tư và thành lập, tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập,
tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.
Tổng công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập là hình thức
liên kết và tập hợp các công ty thành viên hạch toán độc lập có tư cách pháp
nhân, hoạt động trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính,
nhằm tăng cường tích tụ, tập trung vốn và chuyên môn hóa kinh doanh của
các đơn vị thành viên và tổng công ty.
Tổng công ty do các công ty tự đầu tư và thành lập là hình thức liên kết
thông qua đầu tư, góp vốn của công ty nhà nước quy mô lớn do Nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ với các doanh nghiệp khác, trong đó công ty nhà
nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác.
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là tổng công ty được
thành lập để thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty
trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên chuyển đổi từ các công ty nhà
nước độc lập và các công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên do
mình thành lập; thực hiện chức năng đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước và
quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với cổ phần, vốn góp của Nhà nước tại
6
các doanh nghiệp đã chuyển đổi sở hữu hoặc hình thức pháp lý từ các công ty
nhà nước độc lập.

tháng 6 năm 2007 về tổ chức quản lý Tổng công ty Nhà nước và chuyển đổi
Tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập, công ty mẹ là công ty nhà
nước theo hình thức công ty mẹ - công ty con hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp thì: "Tổng công ty theo hình thức công ty mẹ - công ty con là hình
thức liên kết và chi phối lẫn nhau bằng đầu tư, góp vốn, bí quyết công nghệ,
thương hiệu hoặc thị trường giữa các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân,
trong đó có một công ty nhà nước giữ quyền chi phối các doanh nghiệp thành
viên khác (gọi tắt là công ty mẹ) và các doanh nghiệp thành viên khác bị công
ty mẹ chi phối (gọi tắt là công ty con) hoặc có một phần vốn góp không chi
phối của công ty mẹ (gọi tắt là công ty liên kết).
Tổ hợp công ty mẹ và các công ty con không có tư cách pháp nhân.
Công ty mẹ có tên gọi riêng, có con dấu, có bộ máy quản lý và điều hành, có
trụ sở chính trong nước.
Mô hình công ty mẹ - công ty con là mô hình tiên tiến được nhiều nước
trên thế giới thực hiện. Mô hình này thể hiện mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc
giữa công ty mẹ và công ty con trong đó yếu tố vốn là nút liên kết cơ bản.
Thông qua việc nắm giữ quyền chi phối, công ty mẹ có vị trí vai trò quan
trọng trong việc quyết định chiến lược phát triển của các công ty con nhằm
thực hiện mục tiêu chung của cả tập đoàn. Quyền sở hữu đem lại cho công ty
mẹ khả năng chi phối đối với công ty con, thông qua việc quyết định về tổ
chức, quản lý, nhân sự chủ chốt, thị trường cũng như những vấn đề quan
trọng khác. Mức độ sở hữu vốn của công ty mẹ trong công ty con quyết định
nội dung của mối liên hệ trên. Công ty con được công ty mẹ đầu tư 100% vốn
thì mối liên hệ với công ty mẹ sẽ hết sức chặt chẽ, thể hiện ở việc công ty mẹ
có quyền quyết định hoàn toàn những vấn đề quan trọng của công ty con. Các
công ty con mà công ty mẹ giữ cổ phần hoặc vốn góp chi phối sẽ có mối quan
hệ chặt chẽ với công ty mẹ. Tuy nhiên, với tỷ lệ vốn góp giành được quyền
chi phối, công ty mẹ vẫn đủ sức kiểm soát và định hướng cho công ty con
hoạt động nhằm phục vụ lợi ích, chiến lược của công ty mẹ.
8

Chính phủ.
9
Trong khi đó, các công ty liên kết, các công ty con có các quyền và
nghĩa vụ: quản lý và sử dụng linh hoạt số vốn do Tổng công ty (công ty mẹ)
đầu tư, chịu trách nhiệm trước Tổng công ty (công ty mẹ) về hiệu quả sử dụng
vốn và các nguồn lực; có quyền tự chủ kinh doanh trên cơ sở sử dụng tối ưu
các nguồn lực của công ty, phù hợp với nhu cầu thị trường và các mục tiêu,
phương án, kế hoạch kinh doanh chung của Tổng công ty; tham gia các hình
thức đầu tư hoặc được Tổng công ty giao tổ chức thực hiện các dự án đầu tư.
Tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con có quy
mô lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường. Phạm vi hoạt động rộng, có
nhiều chi nhánh trong nước và nước ngoài.
Tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con hoạt động
một hay nhiều lĩnh vực. Mỗi Tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ
- công ty con đều có định hướng mũi nhọn hoạt động kinh doanh và quản lý
tập trung một số mặt như: huy động, quản lý và sử dụng vốn, nghiên cứu triển
khai, đào tạo, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược thị trường, chiến
lược sản phẩm
1.2. Cơ chế quản lý tài chính.
1.2.1. Khái niệm về cơ chế quản lý tài chính
Thuật ngữ "cơ chế quản lý tài chính" đã được sử dụng rộng rãi trong
nhiều văn bản, tài liệu, sách báo và trong đời sống hàng ngày. Ngoài ra, cụm
từ "cơ chế tài chính" cũng thường được sử dụng trong thực tế để hàm ý nói
đến cơ chế quản lý tài chính.
Cơ chế là những cách thức, những phương thức và công cụ qua đó người
ta thực hiện quá trình hoạt động của mình.
Cơ chế quản lý là một hệ thống các nguyên tắc, hình thức, phương pháp
quản lý trong những giai đoạn phát triển khác nhau của nền sản xuất xã hội.
Cơ chế quản lý tài chính là những phương thức và công cụ qua đó quá
trình quản lý được thực hiện

tổng công ty nói riêng. Nó tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, của Tổng công ty. Điều đó được thể hiện qua
việc: tài chính doanh nghiệp có phát huy tác dụng tích cực hay không là phụ
thuộc vào cơ chế quản lý, phụ thuộc vào người quản lý. Cơ chế quản lý tài
11
chính là công cụ để các nhà quản lý quản trị tài chính doanh nghiệp, nó tác
động trực tiếp và có ý nghĩa quyết định đến hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của ta trước đây, với đặc điểm
là đơn nhất hình thức sở hữu và thành phần kinh tế. Nhà nước đã can thiệp
quá sâu vào từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
làm cho tài chính doanh nghiệp trở thành thụ động, cho nên tác động của nó
đến quá trình sản xuất kinh doanh là hết sức yếu ớt. Chuyển sang nền kinh tế
thị trường, Nhà nước đã có hàng loạt các chính sách mới nhằm xóa bỏ cơ chế
quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, xác lập một cơ chế quản lý năng động
hơn, cởi mở hơn trong khuôn khổ cho phép của pháp luật. Điều đó đã làm cho
tài chính doanh nghiệp có tác động ngày càng mạnh đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, các
luồng vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lâp hoặc sử dụng
các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của
doanh nghiệp trong khuôn khổ cho phép của pháp luật. Tài chính doanh
nghiệp phản ánh mối quan hệ kinh tế đa dạng trong quá trình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Khi có một cơ chế quản lý tài chính hợp lý thì tài
chính doanh nghiệp sẽ có những tác động tích cực đối với hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Những tác động đó được thể hiện ở
các điểm sau:
- Tài chính doanh nghiệp là công cụ khai thác, thu hút các nguồn lực tài
chính nhằm đảm bảo nhu cầu đầu tư và phát triển doanh nghiệp. Để thực hiện
quá trình sản xuất kinh doanh, trước hết doanh nghiệp phải có vốn. Trong cơ
chế quản lý bao cấp trước đây, vốn của các doanh nghiệp Nhà nước hầu như

sản xuất không phải với bất kỳ loại sản phẩm nào; bán với bất kỳ giá nào mà
phải sản xuất những mặt hàng mà thị trường cần với giá cả phù hợp. Để đáp
ứng được nhu cầu đó, người quản lý phải có chiến lược sản phẩm hợp lý,
đồng thời phải sử dụng vốn một cách tiết kiệm và có hiệu quả; một mặt phải
bảo toàn được vốn, mặt khác phải sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng
quay vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh.
13
- Tác động của tài chính doanh nghiệp trong việc kích thích và điều tiết
sản xuất kinh doanh. Khác với cơ chế quản lý bao cấp, trong cơ chế quản lý
kinh tế mới, các mối quan hệ về tài chính của các doanh nghiệp được mở ra
trên phạm vi rất rộng và có liên quan đến vấn để phân phối, điều hòa lợi ích
đối với nhiều chủ thể kinh tế khác nhau trong nền kinh tế. Dựa vào khả năng
đó và trên điểm tựa các lợi ích, người quản lý có thể sử dụng tổng hợp các
chức năng của tài chính để kích thích hoặc điều tiết sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp thông qua các hoạt động tài chính. Tác động kích thích hoặc
điều tiết của tài chính doanh nghiệp thể hiện đậm nét nhất ở việc tạo ra "sức
mua" hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động đồng thời cũng xác định "giá
bán" hợp lý khi phát hành cổ phiếu, bán hàng hóa, dịch vụ. Bằng việc xây
dựng giá mua, giá bán hợp lý sẽ có tác động tích cực để sản xuất kinh doanh,
vốn được quay vòng nhanh, hệ số sinh lời lớn. Khả năng kích thích hoặc điều
tiết của tài chính doanh nghiệp cũng có thể phát huy tác dụng ngay trong quá
trình điều hành sản xuất kinh doanh thông qua các hoạt động phân phối thu
nhập, thực hiện các hợp đồng kinh tế.
- Tác động của tài chính doanh nghiệp trong việc kiểm tra, kiểm soát các
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong cơ chế quản lý quan
liêu, bao cấp, vấn đề hạch toán kinh doanh không được coi trọng một cách
thực sự. Trong cơ chế quản lý kinh tế mới hiện nay, thông qua các chỉ tiêu tài
chính như: hệ số nợ, hiệu suất sử dụng vốn, cơ cấu vốn có thể dễ dàng nhận
thấy thực trạng tốt, xấu trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Với
khả năng đó, người quản lý có thể kịp thời phát hiện, điều chỉnh, giám sát quá

1.3.1.1. Cơ chế huy động vốn
a) Cơ chế huy động vốn của doanh nghiệp trong các điều kiện khác nhau:
- Cơ chế huy động vốn trong cơ chế quản lý bao cấp: đặc trưng là sự bao
cấp và kiểm soát hoàn toàn của Nhà nước về nguồn vốn của doanh nghiệp.
Trong cơ chế này, quy mô vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào cơ chế cấp
phát vốn của Ngân sách Nhà nước và doanh nghiệp không phát huy được tính
chủ động sáng tạo trong việc huy động vốn. Các Liên hiệp xí nghiệp quốc
doanh, các Tổng công ty và doanh nghiệp trong thời kỳ trước khi có chính
sách đổi mới của Đảng và Nhà nước được quản lý theo quy chế này.
15
- Cơ chế huy động vốn trong môi trường có sự điều tiết của Chính phủ:
Biểu hiện đặc trưng của cơ chế này là sự mở rộng hơn các kênh thu hút vốn
cho doanh nghiệp và đa dạng hóa các hình thức huy động vốn với các công cụ
tài chính khác nhau. Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định
chặt chẽ của Chính phủ và bị kiểm soát tương đối chặt chẽ của các cơ quan
chức năng của Chính phủ như Bộ Tài chính, Ngân hàng thương mại, Ủy ban
chứng khoán Nhà nước, cơ quan Kiểm toán, cơ quan chủ quản Hoạt động
huy động vốn của doanh nghiệp bị kiểm soát một số mặt như: phương thức
huy động vốn, công cụ tài chính và cơ chế báo cáo.
- Cơ chế huy động vốn của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường cạnh
tranh: Đây là kiểu cơ chế hoàn toàn dựa vào các động lực kinh tế và cung cầu
về vốn trên thị trường để định hướng cho các doanh nghiệp trong quá trình
thu hút các nguồn tài chính nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Một xu thế đang nổi
lên là quá trình phi điều tiết hóa đối với hoạt động thu hút tài chính của các
doanh nghiệp. Nhìn chung, hiện nay hầu hết các nước công nghiệp phát triển
đang áp dụng phổ biến mô hình này. Tuy nhiên, mức độ tự do hóa và kiểm
soát của Chính phủ ở các quốc gia khác nhau có những sắc thái khác nhau.
Như vậy, mức độ phi điều tiết trong cơ chế huy động vốn phụ thuộc
vào một số yếu tố cụ thể của mỗi nền kinh tế: hệ thống tài chính và thị
trường tài chính; hệ thống luật pháp và vai trò can thiệp vĩ mô của Nhà

Trước khi quyết định phát hành cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm của
từng loại trái phiếu. Trên thị trường ở nhiều nước, hiện nay thường lưu hành
những loại trái phiếu doanh nghiệp sau: Trái phiếu có lãi suất cố định; trái
phiếu có lãi suất thay đổi; trái phiếu có thể thu hồi; chứng khoán có thể
chuyển đổi.
Cổ phiếu là chứng khoán vốn xác nhận sự tham gia góp vốn của một chủ
thể (gọi là cổ đông) vào một công ty, tức là xác nhận cổ đông có quyền sở hữu
một phần đối với công ty đó theo tỷ lệ phần trăm cổ phiếu của cổ đông đó. Phát
hành cổ phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp.
Một trong những vấn đề quan trọng nhất đối với quyết định lựa chọn loại
công cụ tài chính nào để phát hành huy động vốn là xem xét, phân tích các
đặc tính của mỗi loại công cụ tài chính, dự tính các ảnh hưởng khi phát hành
các giấy tờ đó để huy động vốn.
17
Quy chế quản lý đối với quá trình phát hành trái phiếu và cổ phiếu phải
hình thành trên cơ sở tính đến các yếu tố ảnh hưởng. Đối với trái phiếu và cổ
phiếu, khi phát hành ra thị trường cần chú ý một số tác động sau:
Thứ nhất: Trái phiếu không làm thay đổi quan hệ sở hữu trong công ty,
không làm ảnh hưởng đến quyền quản lý và kiểm soát công ty, do đó nó được
coi là biện pháp an toàn về mặt sở hữu để huy động vốn. Tuy nhiên, nó có
liên quan mật thiết với khả năng tín dụng của công ty. Khi phát hành thêm trái
phiếu mà không thay đổi vốn chủ sở hữu thì tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu với vốn
vay sẽ giảm, phản ánh mức độ phụ thuộc về tài chính vào bên ngoài tăng lên,
mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp giảm đi.
Thứ hai: Chi phí của việc phát hành trái phiếu bao gồm lợi tức trái phiếu
phải trả cho người mua trái phiếu và các chi phí phát hành. Chi phí này thuộc
nhóm chi phí lãi vay và được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong
kỳ, do đó có lợi cho doanh nghiệp về phương diện thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thứ ba: Đối với công ty, sử dụng công cụ cổ phiếu thì tính linh hoạt thấp
hơn so với trái phiếu vì trái phiếu có thời gian xác định và có thể điều chỉnh

các doanh nghiệp được áp dụng khá phổ biến, nhờ đó các công ty phát huy
được nguồn lực của mình, giảm bớt được chi phí, giảm bớt được sự phụ thuộc
vào bên ngoài, nhất là khi có sự biến động trên thị trường tài chính. Nhiều
công ty coi trọng biện pháp tái đầu tư từ lợi nhuận để lại, trong kế hoạch tài
chính hàng năm, công ty đặt ra các mục tiêu về tỷ lệ phần trăm lợi nhuận để
lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng.
Nguôn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu
như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận, được phép tiếp tục
đầu tư. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc
không chỉ vào khả năng sinh lợi của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc
vào chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước.
Tuy nhiên, đối với các công ty cổ phần, việc để lại lợi nhuận có liên
quan đến một số các yếu tố nhạy cảm. Khi công ty để lại một phần lợi nhuận
trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ
phần, các cổ đông sẽ không được nhận lãi cổ phần nhưng bù lại họ có quyền
sở hữu số vốn cổ phần tăng thêm trong công ty. Như vậy, giá trị ghi sổ của
19
các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều
này một mặt khuyến khích các cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, mặt khác có thể
giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ ngắn hạn, do cổ đông chỉ được
nhận một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hoặc số lãi ròng
không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán có thể bị giảm
sút, do đó có ảnh hưởng không tốt đến hoạt động tài chính của công ty.
Khai thác các nguồn vốn nội bộ còn bao hàm sự luân chuyển vốn giữa
các đơn vị thành viên của doanh nghiệp hoặc giữa công ty mẹ với các công ty
con dưới các hình thức khác nhau như: tín dụng nội bộ, trao đổi các tài sản,
đầu tư nội bộ, điều hòa và cấp phát vốn Sự lưu chuyển vốn nội bộ tạo ra khả
năng điều hòa và sử dụng tối ưu nguồn lực tài chính của doanh nghiệp.
Trong một số doanh nghiệp nước ngoài, nguồn tài chính nội bộ có thể
chiếm tỷ trọng rất cao từ 40% đến 50%, thậm chí đến 70% trong tổng nguồn

doanh nghiệp cũng như của các công ty con.
- Các quy trình, thủ tục cụ thể đối với việc doanh nghiệp tiến hành vay
- Phương thức kiểm soát của nhà nước đối với quan hệ tín dụng của các
doanh nghiệp.
Với xu thế hiện nay, hầu hết việc vay vốn trong các doanh nghiệp được
phân cấp và tự do hóa, trong đó mở rộng vai trò của các công ty con để nâng
cao tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, để đảm bảo sự an
toàn chung cho cả hệ thống, các doanh nghiệp phải thực hiện những biện pháp
nhằm kiểm soát hoạt động vay vốn tín dụng, nhất là tín dụng ngân hàng và
việc phát hành trái phiếu công ty. Trong doanh nghiệp, các công ty con được
chủ động vay vốn nhưng không được mâu thuẫn với chiến lược phát triển của
Tổng công ty. Một trong những vấn đề trọng tâm của cơ chế kiểm soát là: mối
quan hệ giữa tính chủ động, linh hoạt, hiệu quả và sự an toàn về tài chính của
doanh nghiệp. Một số biện pháp thường được các doanh nghiệp áp dụng:
- Tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ của các công con và hệ thống
kiểm soát quản trị của tổng công ty.
- Thiết lập các giới hạn tín dụng và các chỉ tiêu kiểm tra nhằm ngăn ngừa
việc vay vốn không có hiệu quả hoặc không an toàn.
21
- Hệ thống quản lý toàn bộ quy trình tín dụng của mỗi doanh nghiệp
bao gồm việc xây dựng luận chứng, vay vốn và sử dụng vốn một cách có
hiệu quả.
Các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại
(commercial credit) hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp (sưppliers'
credit). Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bán
chịu, mua bán trả chậm hay trả góp. Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh
hưởng hết sức to lớn không chỉ đối với doanh nghiệp mà cả đối với nền kinh
tế. Trong một số doanh nghiệp, nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng các
khoản phải trả có thể chiếm tới 20% tổng nguồn vốn, thậm chí có thể chiếm
tới 40% tổng nguồn vốn.

trích lập quỹ dự phòng để bù đắp rủi ro mất vốn, được sử dụng lợi nhuận
sau thuế để bù lỗ.
Đối với công ty cổ phần: Nhà nước đầu tư vốn vào các công ty cổ
phần với vai trò là cổ đông. Tùy từng loại hình doanh nghiệp, Nhà nước
quyết định mức vốn đầu tư hoặc chi phối (trên 50% vốn điều lệ) hoặc
không chi phối (dưới 50% vốn điều lệ). Nhà nước cử đại diện tham gia
quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Nhà nước tham gia vào quá
trình sản xuất kinh doanh của công ty theo quyền và nghĩa vụ của cổ đông
theo quy định tại Điều 79 - Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua
ngày 29/11/2005. Cũng theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, công ty cổ
phần được phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn. Việc phát
hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ phải được đại hội đồng cổ đông
thông qua. Căn cứ vào nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, Hội đồng
quản trị trình Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành bao
gồm: Số lượng cổ phiếu, mệnh giá cổ phiếu (theo Nghị định
187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ thì mệnh giá cổ phiếu là
10 000 đ/cổ phiếu), giá phát hành, đối tượng phát hành Ngoài ra, để đảm
bảo nhu cầu vốn, công ty cổ phần được huy động vốn bằng các nguồn khác
như vay các tổ chức tín dụng, ngân hàng và các tổ chức khác theo quy định
của Nhà nước. Công ty cổ phần được toàn quyền quyết định sử dụng vốn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu bảo toàn và phát triển vốn.
1.3.2. Cơ chế quản lý chi phí
23
Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản cho
các chủ sở hữu. Bởi vậy, doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản chi phí nhất
định trong quá trình thực hiện sản xuất kinh doanh. Tùy từng loại hình kinh
doanh của doanh nghiệp mà tỷ trọng các bộ phận chi phí có thể không giống
nhau và cũng tùy theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta có thể xem xét
các loại chi phí dưới các góc độ khác nhau.
Dưới góc độ doanh nghiệp, để tạo ra sản phẩm, dịch vụ thì doanh nghiệp

vật tư, lao động Doanh nghiệp phải hạch toán đầy đủ các khoản chi phí phát
sinh trong năm tài chính và theo nguyên tắc quản lý chặt chẽ từng khoản chi
phí của doanh nghiệp.
Trên cơ sở định mức được duyệt làm căn cứ cấp phát, quản lý việc tiêu
hao vật tư, cuối năm doanh nghiệp phải quyết toán việc tiêu hao vật tư so với
định mức và so với kỳ trước để xác định rõ trách nhiệm việc quản lý và sử
dụng vật tư của từng bộ phận và cá nhân trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tự xây dựng và đăng ký định mức lao động và đơn giá tiền
lương theo quy định. Tổng quỹ tiền lương của công nhân viên trong doanh
nghiệp (bao gồm cả Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát) phải căn cứ vào đơn
giá tiền lương và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trường hợp doanh
nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh thì vẫn phải đảm bảo mức
lương tối thiểu cho công nhân viên trong doanh nghiệp. Mọi việc chi lương
sai chế độ, không đúng đối tượng phải thu hồi. Người quyết định chi sai phải
chịu trách nhiệm trước doanh nghiệp và pháp luật.
Doanh nghiệp được chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại cho các hoạt
động kinh doanh. Các khoản chi phí giao dịch, tiếp khách, đối ngoại, hội nghị
doanh nghiệp phải có cơ chế quản lý và công khai các khoản chi nói trên.
Giám đốc doanh nghiệp quyết định các khoản chi và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về quyết định của mình. Các khoản chi này không được vượt quá tỷ
lệ quy định so với tổng chi phí thực tế trong kỳ. Việc tính giá thành sản phẩm
nhập kho thực hiện theo quy định, chỉ tính chi phí vật tư, lao động trực tiếp và
chi phí sản xuất chung. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
được kết chuyển toàn bộ cho sản phầm hàng hóa tiêu thụ trong kỳ.
Doanh nghiệp được phép hạch toán vào chi phí các khoản chi phí bảo
hành sản phẩm, chi phí bảo hiểm tài sản, các khoản chi hoa hồng môi giới.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status