hoàn thiện cơ chế quản lý tiền lương của tổng công ty đường sắt việt nam - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGUYỄN THỊ THƯƠNG

Hoàn thiện cơ chế quản lý tiền lương của Tổng công ty
đường sắt Việt Nam
luËn v¨n th¹c sÜ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Hµ néi - 2006

Hµ néi - 2006

1
MỤC LỤC
Lời mở đầu………………………………………………………………3
Chƣơng 1. Lý luận cơ bản về tiền lƣơng và cơ chế quản lý tiền
lƣơng……7
1.1. Lý luận cơ bản về tiền lương……………………………………… 7
1.1.1. Khái niệm và bản chất của tiền lương……………………………7
1.1.2. Các chức năng cơ bản của tiền lương………………….………… 11
1.2. Cơ chế quản lý tiền lương………… 14
1.2.1. Khái niệm cơ chế, cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý tiền
lương…………………………………………………………….14
1.2.2. Nguyên tắc của cơ chế quản lý tiền lương……………………… 15
1.2.3. Mục tiêu của cơ chế quản lý tiền lương………………………… 16
1.2.4. Nội dung của cơ chế quản lý tiền lương………………… 17
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tiền lương trong doanh
nghiệp Nhà nước………………………………………………………………27
1.3.1.Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp………………… …….27
1.3.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp………………………… ….30
Chƣơng 2. Thực trạng cơ chế quản lý tiền lƣơng của Tổng công ty Đƣờng
Sắt Việt Nam………………….………………………………… 34
2.1. Một số nét về sự hình thành và phát triển của Tổng công ty Đường Sắt
Việt Nam………………………………………………………… 34

nghiệp………………………………………………………………… 128
Kết luận……………………………………………………………………130
Tài liệu tham khảo……………………………………………………… 133
Phụ lục
3

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài:
Tiền lương là phạm trù kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ hệ
thống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Chính sách tiền lương đúng đắn có tác
động lớn đến việc phát triển kinh tế, tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời
sống của người lao động. Tiền lương nói riêng và thu nhập nói chung là phần
mà người sử dụng lao động trả cho người lao động, phù hợp với giá trị sức lao
động đã hao phí trong quá trình sản xuất. Nhà nước và người lao động đều
quan tâm đến các chính sách tiền lương. Việc thường xuyên đổi mới, hoàn
thiện cơ chế chính sách tiền lương cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội,
chính trị của từng giai đoạn là một nhiệm vụ quan trọng. Một trong những yêu
cầu cấp bách của cải cách tiền lương hiện nay là đổi mới cơ chế quản lý tiền
lương, đảm bảo gắn tiền lương của người lao động với kết quả sản xuất và
đóng góp của bản thân họ, nâng cao vai trò đòn bẩy kinh tế của tiền lương,
giải quyết hài hoà lợi ích giữa người lao động, doanh nghiệp và xã hội.
Trong thời kỳ chuyển sang cơ chế thị trường, cơ chế quản lý tiền lương
đã chuyển từ chế độ bao cấp của Ngân sách Nhà nước sang cơ chế quản lý
quỹ tiền lương thông qua các thông số thay cho việc can thiệp trực tiếp đã làm
cho mọi người quan tâm đến hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Do đó, tiền
lương sẽ phụ thuộc vào khả năng từ tạo nguồn và cơ chế phân phối tiền lương
của doanh nghiệp, Giám đốc là người chịu trách nhiệm việc trả lương cho

lương và đơn giá tiền lương) và phân phối tiền lương.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài: 5
Tiền lương là một vấn đề rất phức tạp trên thế giới cũng như ở Việt
Nam. Trong thời gian vừa qua, dư luận trong nhân dân cũng như giới nghiên
cứu, lãnh đạo quản lý, hoạch định chính sách đã bàn nhiều đến vấn đề tiền
lương và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Chẳng hạn như
các bài: “Lương doanh nghiệp 5 năm nhìn lại” của Nguyễn Xuân Nga, Phó
trưởng ban Kinh Tế - Chính sách xã hội, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam.
Đề tài: “Hoàn thiện cơ chế quản lý lao động và tiền lương đối với các doanh
nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Thạc sỹ Phạm
Quyết, Trường Đaị Học Kinh Tế Quốc Dân. “Hoàn thiện cơ chế quản lý tiền
lương và thu nhập đối với người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước”,
Đào Thanh Hương, Luận án tiến sỹ kinh tế, Hà Nội. Các đề tài nói lên được
thực trạng tiền lương trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam,
đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, yếu kém
trong việc thực hiện chế độ tiền lương hiện hành. Tuy nhiên các giải pháp này
còn chưa đồng bộ, toàn diện… chưa mạnh dạn đề ra nhưng giải pháp kiên
quyết để tiền lương phát huy tác dụng khuyến khích sản xuất, nâng cao hiệu
quả công tác, chưa có công trình nghiên cứu một cách toàn diện về vấn đề tiền
lương trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam.
3.Mục đích của luận văn :
- Hệ thống hoá và hoàn thiện một số vấn đề lý luận cơ bản về tiền
lương, cơ chế quản lý tiền lương của Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước.
- Phân tích, đánh giá thực trạng trong cơ chế quản lý tiền lương của
Tổng công ty Đường sắt Việt Nam.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục hoàn
thiện cơ chế quản lý tiền lương của Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam.
7
- Chương 3 : Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tiền lương của
Tổng công ty Đường Sắt Việt Nam.

CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƢƠNG VÀ CƠ CHẾ
QUẢN LÝ TIỀN LƢƠNG
2.
1.1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƢƠNG
1.1.1. Khái niệm và bản chất của tiền lương
Trong công ước 95 (1949) của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về bảo
vệ tiền lương, Điều 1 ghi “Tiền lương bất luận tên gọi hay cách tính thế nào
mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử
dụng lao động và người lao động bằng pháp luật, pháp quy quốc gia là sự trả
công hoặc thu nhập do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động
theo một hợp đồng lao động bằng văn bản hay bằng miệng cho một công việc
đã thực hiện hoặc cho dịch vụ đã làm hoặc sẽ làm”.
“Tiền lương là số tiền trả cho công nhân viên chức theo số lượng và
chất lượng lao động của họ đã đóng góp.” [19]
Tháng 3 năm 1991 ban chỉ đạo nghiên cứu đổi mới chính sách tiền
lương Nhà nước đưa ra định nghĩa: “Tiền lương là giá cả sức lao động được

9
cho chúng ta thấy rõ những vấn đề cần phải vận dụng và nghiên cứu khi đưa
ra cơ chế quản lý thích hợp.
Như vậy, có thể nêu khái niệm tiền lương trong điều kiện hiện nay như
sau: “Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của
sức lao động mà người sử dụng lao động trả cho người cung ứng sức lao
động, tuân theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị và pháp luật của Nhà
nước”.
Trong nền kinh tế thị trường phát triển khái niệm tiền lương và tiền
công được xem là đồng nhất về bản chất kinh tế, phạm vi và đối tượng áp
dụng. Nhưng ở các nước đang chuyển sang cơ chế thị trường, khái niệm tiền
lương thường gắn với chế độ tuyển dụng suốt đời, hoặc một thoả thuận hợp
đồng. Tiền công thường không phân biệt rõ phần tiền lương và phụ cấp lương
mà trả trọn gói, chủ yếu áp dụng đối với người làm việc không ổn định, theo
hợp đồng thời vụ. Nói chung, tiền lương (hay tiền công) đều là giá cả sức lao
động mà người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo thoả thuận
để hoàn thành một công việc theo chức năng, nhiệm vụ quy định, là nguồn
thu nhập, nguồn sống chính của người lao động và gia đình họ. Ngoài tiền
lương có thể còn có phụ cấp có tính chất lương để bổ sung cho tiền lương do
khi xác định tiền lương chưa tính đến những yếu tố không ổn định so với điều
kiện lao động, điều kiện sinh hoạt bình thường, như phụ cấp lao động, phụ
cấp làm ngoài giờ, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp thu hút… Thêm vào đó tiền
thưởng cũng là khoản bổ sung cho tiền lương, tiền công làm tăng thu nhập để
kích thích người lao động nỗ lực làm việc tốt hơn, như thưởng tăng năng suất
lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm vật tư, nguyên liệu, thưởng
hoàn thành nhiệm vụ, thưởng từ lợi nhuận… Tất cả những khoản đó hình
thành thu nhập của người lao động.


) cao hơn tốc độ tăng tiền lương.
Trong xã hội, tiền lương thực tế là mục đích trực tiếp của người lao động
hưởng lương. Vì vậy, chính sách tiền lương phải đảm bảo được tiền lương thực
tế cho người lao động có xu hướng tăng lên.
Thị trường sức lao động là biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là
người có sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động dựa trên
nguyên tắc thoả thuận để xác định giá cả sức lao động. Sức lao động là yếu tố
quyết định trong các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Nó biểu thị giá trị
của số lượng và chất lượng của lao động cấu thành trong tổng chi phí sản xuất
và là tiền đề để tăng năng suất lao động thông qua việc tăng cường hiệu quả 11
sử dụng các yếu tố sản xuất còn lại. Do đó yêu cầu phải tính đúng, tính đủ giá
trị sức lao động trước khi thực hiện quá trình lao động và sản xuất. Sức lao
động là yếu tố của quá trình sản xuất cần phải thực hiện thông qua quá trình
phân phối dựa trên hao phí lao động, hiệu quả lao động của người lao động.
Như vậy, tiền lương là vốn đầu tư quan trọng, là một phạm trì kinh tế đòi hỏi
tiền lương phải được hạch toán, tính toán đúng và đủ. Trong nền kinh tế thị
trường tiền lương không chỉ mang bản chất kinh tế mà còn mang bản chất xã
hội vì nó gắn liền với con người và cuộc sống của họ. Con người không giống
như hàng hoá thông thường, con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội.
Bởi vậy cho nên không thể tính toán giản đơn về mặt kinh tế hiệu quả của tiền
lương mà không chú ý đến các hậu quả xã hội có thể xảy ra.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường bản chất của tiền lương không chỉ
bó hẹp trong phạm trù kinh tế đơn thuần mà được biểu hiện như một khoản
thù lao bù đắp những chi phí thực hiện trong quá trình lao động. Tiền lương là
một phạm trù kinh tế xã hội tổng hợp, có tác động mạnh mẽ đến sản xuất, đời
sống và mọi mặt của nền kinh tế xã hội. Tiền lương phản ánh giá trị sức lao
động trong các điều kiện kinh tế, văn hoá và lịch sử nhất định. Vì vậy, hệ

thông qua giá trị của việc làm. Có thể thấy, giá trị lao động không chỉ phản
ánh ý nghĩa về mặt kinh tế thuần tuý mà còn bao hàm các ý nghĩa về mặt xã
hội, thể chế chính trị của một quốc gia. Nếu chỉ xét về độ lớn của tiền lương
(mức tiền lương) mà người lao động nhận được thì tiền lương chưa phản ánh
đầy đủ giá trị lao động. Nhưng nếu xét về kết cấu của tiền lương thì phải đảm
bảo sự phản ánh đầy đủ về giá trị lao động. Sự thừa nhận của xã hội về vị thế
của người lao động, mong muốn cũng như sự khẳng định khả năng của bản
thân người lao động là những nhân tố tác động đến độ lớn của tiền lương và
phản ánh được giá trị lao động. 13
Đây là chức năng quan trọng, nhất là trong điều kiện giá cả thị trường hay
biến động, khi giá cả biến động (bao gồm giá cả sức lao động và giá cả hàng
hoá thông thường) cần phải dựa trên cơ sở giá trị để điều chỉnh giá cả hợp lý.
1.1.2.2. Tái sản xuất sức lao động.
Trong quá trình làm việc sức lao động của con người bị tiêu hao, do đó
tiền lương cần phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động. Mức tiền lương cũng
cần phải đủ lớn để duy trì cuộc sống hiện tại và ngay cả khi họ không còn sức
lao động. Hơn nữa, để phát triển sức lao động thì người lao động phải sinh
con, nuôi dưỡng chúng, cho nên những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất
ra sức lao động phải gồm cả những tư liệu sinh hoạt cho con cái họ.
Hầu hết các nhà kinh tế học và xã hội học đều coi giá trị lao động là
một giá trị khách quan, được quy định và điều tiết không theo ý muốn của
người lao động và người sử dụng lao động. Nó là kết quả của sự mặc cả trên thị
trường lao động, giữa người có sức lao động “bán” và người sử dụng lao động
“mua”. Cũng như giá trị của mọi hàng hoá khác, giá trị sức lao động không cố
định mà thường xoay quanh giá trị thật của nó, có lúc cao, lúc thấp hơn, tuỳ theo
cung cầu trên thị trường lao động, đó chính là giá cả sức lao động.


Người lao động là người sáng tạo ra toàn bộ của cải của xã hội loài
người. Như vậy, lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong quá trình
sản xuất. Xét trên khía cạnh phân phối thì tiền lương chính là phần của cải mà
người lao động nhận được trả cho những đóng góp của mình vào quá trình
sản xuất. Vì vậy, tiền lương sẽ được người lao động tiêu dùng trong cả hiện
tại và tương lai (khi người lao động không còn khả năng lao động). Người lao
động luôn mong muốn nâng cao hiệu quả lao động (năng suất lao động) suy 15
cho cùng là nguồn gốc để tăng thu nhập, tăng khả năng thoả mãn các nhu cầu
của người lao động.
Các chức năng trên của tiền lương có quan hệ chặt chẽ với nhau và đòi
hỏi phải có sự quản lý của cả cấp vĩ mô và vi mô để tiền lương thực sự là biểu
hiện bằng tiền của giá trị sức lao động.

1.2. CƠ CHẾ QUẢN LÝ TIỀN LƢƠNG
1.2.1. Khái niệm cơ chế, cơ chế quản lý kinh tế, cơ chế quản lý tiền lương
Cơ chế: là cách thức, theo đó một quá trình được thực hiện, là phương
pháp hoặc thủ tục để làm cho cái gì đó được thực hiện, là sự phối hợp các bộ
phận được sử dụng nhằm đạt đến một kết quả nhất định. [20].
Quản lý: Về nội dung, thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu không hẳn
giống nhau. Quản lý được định nghĩa như sau: “Quản lý là sự tác động của
chỉnh thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong
điều kiện biến động của môi trường” [15].
Cơ chế quản lý (kinh tế): “Là phương thức vận động của nền sản xuất
xã hội, được tổ chức và quản lý theo những quan hệ vốn có và được Nhà nước
quy định, phù hợp với các quy luật kinh tế, với đặc điểm của chế độ xã hội
theo từng giai đoạn phát triển của xã hội. Cơ chế quản lý bao gồm những
chính sách và phương pháp quản lý, những hình thức cụ thể của quan hệ sản

1.2.2. Nguyên tắc của cơ chế quản lý tiền lương
Những nguyên tắc quản lý tiền lương là cơ sở quan trọng để xây dựng
được một cơ chế quản lý tiền lương phù hợp trong một thể chế kinh tế nhất
định. Trước hết việc quản lý tiền lương phải tuân thủ các yêu cầu như:
- Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần cho người lao động.
- Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao.
- Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu. Tiền lương luôn là mối quan
tâm hàng đầu của người lao động. Một chế độ tiền lương đơn giản, rõ ràng, dễ 17
hiểu có tác động trực tiếp tới động cơ và thái độ làm việc của họ, đồng thời
làm tăng hiệu quả của hoạt động quản lý, nhất là quản lý về tiền lương.
Để xây dựng được một cơ chế quản lý tiền lương thích hợp thì tổ chức
tiền lương phải theo các nguyên tắc sau:
+ Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau. Nguyên tắc này thể
hiện sự bình đẳng trong phân phối.
+ Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương bình quân.
+ Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao
động làm các nghề khác nhau.
1.2.3. Mục tiêu của cơ chế quản lý tiền lương.
Chính sách tiền lương tự thân nó thể hiện mối quan hệ gắn bó chặt chẽ
giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Tiền lương tác động trực tiếp
đến đời sống của người lao động, mặt khác tác động đến lợi nhuận của chủ
doanh nghiệp. Tiền lương được nhìn dưới góc độ khác nhau giữa chủ DN, với
người lao động. Nhưng cả hai nhóm xã hội này đều cần đến nhau: Chủ doanh
nghiệp cần có người lao động để tạo ra lợi nhuận; người lao động cần có chủ
doanh nghiệp để có việc làm và thu nhập. Ở đây có sự mâu thuẫn biện chứng
nhưng đồng thời lại có sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố kinh tế và nhân

chức năng xã hội của Nhà nước, quản lý tiền lương của Nhà nước trên cơ sở
được thể chế hoá bằng các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý để doanh
nghiệp được quyền chủ động trong xác định chi phí tiền lương và trả lương
cho người lao động. Nhà nước quản lý tiền lương thông qua việc kiểm tra,
giám sát thực hiện tiền lương tối thiểu, áp dụng đơn giá tiền lương và sử dụng
quỹ tiền lương của doanh nghiệp. Cơ chế quản lý tiền lương của Nhà nước là
những chính sách và phương pháp quản lý tiền lương ở tầm vĩ mô được thực
hiện bằng các công cụ và phương tiện hữu hiệu.
* Quản lý tiền lương tối thiểu 19
Theo Điều 56 bộ Luật Lao động ban hành năm 1994 của nước Cộng
hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam “Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá
sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong
điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần
tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính
các mức lương khác cho các loại lao động khác”.
Mức lương tối thiểu theo quy định tại khoản 1, Điều 1 Nghị định số 28/CP
ngày 28/3/1997 của Chính phủ “là mức lương tối thiểu chung được công bố
trong từng thời kỳ”. Kể từ ngày 1/1/2003 cận dưới mức lương tối thiểu áp dụng
cho các doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều
1, Nghị định số 03/2003/NĐ - CP ngày 15/1/2003 của Chính phủ là 290.000
đồng/tháng. Theo Nghị định số 118/2005/NĐ - CP ngày 15/9/2005 của Chính
phủ mức lương tối thiểu là 350.000 đồng/tháng. Khi Chính phủ điều chỉnh lại
mức lương tối thiểu thì áp dụng theo mức quy định mới.
Mức lương tối thiểu của doanh nghiệp lựa chọn phải bằng hoặc cao hơn
mức do Nhà nước quy định. Hệ số điều chỉnh tăng thêm không quá 1.5 lần so
với mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Tại thời điểm kể từ ngày
01/01/2003 trở đi, phần tăng thêm áp dụng không quá 725.000 đồng.

công việc của người lao động.
Mức lao động biểu thị tiêu hao lao động xã hội cần thiết (số lượng, chất
lượng) để hoàn thành công việc trong một điều kiện cụ thể nhất định. Do vậy,
đối với người lao động mức lao động là căn cứ xác định tiền lương, đối với
doanh nghiệp nó là căn cứ để xác định tiền lương và phân phối tiền lương. Sự
đa dạng và linh hoạt của quá trình sản xuất, sự phát triển liên tục của công
nghệ sản xuất đòi hòi các mức lao động phải được điều chỉnh thường xuyên.
Điều này có nghĩa là việc xây dựng và ban hành các mức lao động trong
doanh nghiệp phải do doanh nghiệp thực hiện và có một chế độ báo cáo định 21
kỳ với các cơ quan quản lý cấp trên theo phân cấp quản lý như Tổng Công ty
trực thuộc, Sở lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Để bảo đảm chất lượng định mức, trước khi ban hành và công bố với
các cơ quan có thẩm quyền, doanh nghiệp phải tổ chức áp dụng thử các mức
lao động mới xây dựng hoặc mới điều chỉnh cho một số đơn vị, bộ phận và
người lao động trong thời gian thích hợp tùy theo độ phức tạp của mức lao
động và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp, sau đó xem xét và điều chỉnh phù
hợp trước khi công bố để áp dụng rộng rãi trong toàn dây chuyền sản xuất,
kinh doanh và toàn bộ doanh nghiệp.
- Nếu mức lao động thực tế thực hiện nhỏ hơn 95% mức lao động được giao
thì phải xem xét, điều chỉnh hạ định mức lao động được giao.
- Nếu mức lao động thực tế thực hiện cao hơn 120% mức lao động được
giao thì phải xem xét, điều chỉnh tăng định mức lao động được giao.
Công thức xác định tỷ lệ thực hiện định mức lao động trong doanh nghiệp

95%  C
dc
 120%

- Tổng doanh thu (hoặc tổng doanh số).
- Tổng thu trừ tổng chi (trong tổng chi không có tiền lương).
- Lợi nhuận.
Sau khi xác định được tổng quỹ tiền lương và chỉ tiêu nhiệm vụ năm kế
hoạch sản xuất kinh doanh, đơn giá tiền lương của doanh nghiệp được xác định
theo 4 phương pháp:
a) Đơn giá tiền lương tính trên đơn vị sản phẩm (hoặc sản phẩm quy đổi)
Phương pháp này tương ứng với chỉ tiêu kế hoạch sản xuất, kinh doanh
được chọn là tổng sản phẩm bằng hiện vật (kể cả sản phẩm quy đổi), thường
được áp dụng đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh loại sản phẩm hoặc
một số loại sản phẩm có thể quy đổi được như: xi măng, vật liệu xây dựng,
điện, thép, rượu bia, xăng dầu, dệt may, thuốc lá, giấy, vận tải…
Công thức để xác định đơn giá tiền lương là:

Vđg = Vgiờ x Tsp

Trong đó: 23
Vđg : Đơn giá tiền lương (đơn vị tính là đồng/đơn vị hiện vật)
Vgiờ : Tiền lương giờ. Trên cơ sở lương cấp bậc công việc bình quân,
phụ cấp lương bình quân và mức lương tối thiểu doanh nghiệp lựa chọn.
Tsp: Mức lao động của đơn vị sản phẩm hoặc sản phẩm quy đổi (tính
bằng số giờ - người )
b) Đơn giá tiền lương tính theo doanh thu (hoặc doanh số) hoặc theo tổng
doanh thu trừ (-) tổng chi phí (chưa có tiền lương) hoặc trên lợi nhuận, được
xác định theo công thức sau:
c)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status