MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCVT: Bưu chính viễn thông
CNTT: Công nghệ thông tin
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
HĐQT: Hội đồng quản trị
SXKD: Sản xuất kinh doanh
TĐKT: Tập đoàn kinh tế
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
VNPT: Tập doàn bưu chính viễn thông Việt Nam
XDCB: Xây dựng cơ bản
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu hướng phát triển chung của nền kinh tế, Bưu chính Viễn
thông Việt Nam đã có những thay đổi mạnh mẽ theo hướng hội nhập kinh
tế quốc tế. Từ một ngành nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về kỹ thuật đã phát
triển ngang tầm khu vực, có nhiều đóng góp đáng kể vào công cuộc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước hành
lang pháp lý ngày càng hoàn thiện với việc Nhà nước ban hành và công bố
Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao
dịch điện tử; Chiến lược phát triển Bưu chính Viễn thông đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020; Bộ máy quản lý cũng được củng cố và hoạt
động ngày càng hiệu quả với sự ra đời của Bộ Bưu chính, Viễn thông ở
trung ương và các sở Bưu chính Viễn thông tại các tỉnh, thành phố. Môi
trường kinh doanh cũng đã chuyển biến mạnh theo hướng cạnh tranh với sự
xuất hiện của nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tham gia cung cấp dịch vụ
BCVT trên thị trường. Tuy nhiên do điều kiện lịch sử, Bưu chính Viễn
3. Mục đích, nhiệm vụ khoa học của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ chế
quản lý doanh nghiệp nhà nước, thực trạng cơ chế quản lý doanh nghiệp
Bưu chính Viễn thông ở Việt Nam, luận văn nêu lên định hướng và đề xuất
các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông trong quá trình đổi mới
hiện nay. Nhiệm vụ khoa học của luận văn:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về cơ chế quản lý doanh nghiệp nói chung;
- Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý doanh nghiệp Bưu chính Viễn
thông, tập trung vào Tổng công ty Bưu chính Viễn thông (nay là Tập đoàn
Bưu chính Viễn thông Việt Nam);
- Nêu lên định hướng và các giải pháp thiết thực hoàn thiện cơ chế quản
lý doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông trong điều kiện chuyển đổi Tổng công
ty Bưu chính Viễn thông thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông.
2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Cơ chế quản lý doanh nghiệp và vấn đề đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp
trong ngành Bưu chính Viễn thông trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài đi sâu nghiên cứu nội dung và giải pháp đổi mới cơ chế quản lý
trong các doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông Việt Nam, trực tiếp là Tổng
công ty bưu chính Viễn thông Việt Nam - doanh nghiệp chủ đạo trong ngành
Bưu chính Viễn thông.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp trừu
tượng hoá, kết hợp logic với lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp thống kê.
6. Đóng góp của luận văn:
- Hệ thống hoá lý luận về cơ chế quản lý doanh nghiệp
dắt nền kinh tế phát triển”.
Cơ chế kinh tế phát huy tác dụng trong vận hành thể chế kinh tế, nên còn
được gọi là cơ chế vận hành kinh tế.
Như vậy, khái niệm cơ chế kinh tế bao hàm ba nội dung: cơ chế kinh tế
gồm các chế định điều hóa quá trình kinh tế; cơ chế kinh tế phát huy tác dụng
qua sự tương tác giữa các yếu tố cấu thành; cơ chế kinh tế vận hành và phát
huy tác dụng theo một phương thức nhất định, có quy luật.
Cơ chế quản lý kinh tế là các quy tắc điều chỉnh các hành vi, hoạt động
kinh tế của các cá nhân và tổ chức kinh tế; là hệ thống các biện pháp, hình
thức, cách thức tổ chức, điều khiển nhằm duy trì các mối quan hệ kinh tế phát
triển phù hợp với những quy luật kinh tế khách quan theo mục tiêu đã xác
định trong những điều kiện kinh tế xã hội của từng giai đoạn phát triển.
4
Cơ chế quản lý kinh tế tác động sâu sắc đến hiệu quả phát triển của nền
kinh tế quốc dân; do vậy, hiệu quả kinh tế xã hội là một trong những tiêu
chuẩn quan trọng đánh giá tính đúng đắn của cơ chế quản lý kinh tế.
Cơ chế quản lý kinh tế có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau:
trong hệ thống kinh tế vĩ mô tồn tại khái niệm cơ chế thị trường và cơ chế kế
hoạch tập trung, cơ chế điều tiết vĩ mô; tầm vi mô tồn tại cơ chế tự điều tiết…
Nghiên cứu cơ chế quản lý kinh tế là nghiên cứu trên góc độ của hệ
thống cơ chế kinh tế và vai trò, vị trí của kế hoạch, của tài chính, của hạch
toán kinh tế, của đòn bẩy và khuyến khích kinh tế vv. Không nghiên cứu
những nội dung của cơ chế đó riêng biệt, tách rời nhau mà trong mối quan hệ
mật thiết, một thể thống nhất hữu cơ. Cơ chế quản lý kinh tế chính là sự vận
dụng các qui luật kinh tế. Do đó, phải nhận thức và tuân thủ đúng các yêu cầu
của quy luật khách quan có liên quan đến quá trình phát triển nền kinh tế quốc
dân, phân loại chính xác tầm quan trọng của mỗi qui luật, nắm vững mối
tương tác giữa các qui luật để rút ra các giải pháp quản lý kinh tế thích hợp
cho từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó chính là việc phải biết vận
dụng đúng các qui luật trong quản lý nền kinh tế quốc dân, hình thành nên cơ
Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng
mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ
hội và thách thức từ bên ngoài. Vì vậy, trước hết, chiến lược liên quan tới các
mục tiêu của doanh nghiệp. Thứ đến, chiến lược doanh nghiệp bao gồm
không chỉ những gì doanh nghiệp muốn thực hiện, mà còn là cách thức thực
hiện những việc đó là một loạt các hành động và quyết định có liên quan chặt
chẽ với nhau và lựa chọn phương pháp phối hợp những hành động và quyết
định đó. Chiến lược của doanh nghiệp phải khai thác được những điểm mạnh
cơ bản của mình (các nguồn lực và năng lực) và phải tính đến những cơ hội,
thách thức của môi trường.
Các chiến lược tồn tại ở vài cấp độ khác nhau - trải dài từ toàn bộ doanh
6
nghiệp (hoặc một nhóm doanh nghiệp) cho tới từng cá nhân làm việc trong đó.
Chiến lược doanh nghiệp – liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô
của doanh nghiệp để đáp ứng được những kỳ vọng của người góp vốn. Đây là
một cấp độ quan trọng do nó chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà đầu tư trong
doanh nghiệp và đồng thời nó cũng hướng dẫn quá trình ra quyết định chiến l-
ược trong toàn bộ doanh nghiệp.
Chiến lược kinh doanh - liên quan nhiều hơn tới việc làm thế nào một
doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể. Nó liên
quan đến các quyết định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu
cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra
được các cơ hội mới v.v
Chiến lược tác nghiệp - liên quan tới việc từng bộ phận trong doanh
nghiệp sẽ được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến
lược ở cấp độ công ty và từng bộ phận trong doanh nghiệp. Bởi vậy, chiến
lược tác nghiệp tập trung vào các vấn đề về nguồn lực, quá trình xử lý và
con người.
Quản trị chiến lược là gì? Đó là một loạt các bước mà doanh nghiệp phải
thực hiện: Phân tích tình hình hiện tại; các quyết định nhằm đưa chiến lược
trong môi trường kinh doanh.
- Các chủ điểm trong chiến lược có còn đúng không? Có cần phải thêm
vào các chủ điểm khác trong “danh mục những công việc quan trọng cần làm”
do tình hình kinh doanh đã thay đổi, xuất hiện công nghệ mới và có áp lực từ
môi trường bên ngoài hoặc thay đổi trong khả năng kinh doanh hay không?
Có chủ điểm chiến lược nào không còn phù hợp với“danh mục những công
viêc quan trọng cần làm”?
- Tiến trình đang thực hiện đối với chủ điểm chiến lược, và có cần phải
8
xác định lại thứ tự ưu tiên hoặc lập lại kế hoạch để đảm bảo rằng tỷ lệ thay
đổi đáp ứng được những yêu cầu kinh doanh.
Đồng thời, phải luôn đánh giá lại các cấp độ chiến lược hoặc kế hoạch sau:
- Tầm nhìn chiến lược
- Lộ trình đã được chọn để hướng tới tầm nhìn
- Các kế hoạch chi tiết để thực hiện.
Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ doanh nghiệp nào cũng theo đuổi
các mục đích chủ yếu: sự tồn tại, phát triển, đa dạng hoá và hiệu quả kinh
doanh. Những mục đích này hình thành hệ thống mục tiêu toàn diện trong
chiến lược hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: cơ cấu sản
phẩm, dịch vụ chủ yếu; doanh thu và tốc độ tăng trưởng hàng năm; hiệu quả
sử dụng vốn, công suất thiết bị; tổng lợi nhuận, nghĩa vụ Ngân sách, năng suất
lao động và thu nhập bình quân; các chương trình, dự án đầu tư phát triển;
hướng nghiên cứu sản xuất mới; hướng mở rộng thị trường, Các mục tiêu
trên được hoạch định theo thời gian: dài hạn (10 đến 15 năm), trung hạn (5
năm) và ngắn hạn ( hàng năm).
1.1.2.2. Cơ chế tài chính
Cơ chế tài chính là những cách thức, phương thức và công cụ tài chính
mà qua đó, quá trình quản lý tài chính được thực hiện. Trọng tâm của cơ chế
tài chính là: vấn đề huy động, sử dụng vốn; cơ chế hạch toán kinh doanh; cơ
chế phân phối lợi nhuận.
động cho tập đoàn để đảm bảo hiệu quả nguồn vốn huy động, giúp tập đoàn
có thể tham gia vào các thị trường vốn trong nước và quốc tế.
(ii) Cơ chế quản lý và sử dụng vốn:
Cơ chế quản lý, sử dụng vốn trong doanh nghiệp chủ yếu là những qui
định về quản lý, sử dụng vốn và tài sản, các qui định liên quan đến việc phân
cấp đầu tư, mua sắm, thanh lý tài sản, của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp.
Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì cơ chế quản lý và sử dụng vốn phải trên
cơ sở đánh giá các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chứ không thực hiện
10
quản lý theo kiểu hành chính, can thiệp quá sâu vào quyền quyết định của các
đơn vị sử dụng vốn.
Vấn đề đang được quan tâm nhất hiện nay ở các doanh nghiệp nước ta là
giải quyết mối quan hệ giữa quyền sở hữu và sử dụng vốn trong các doanh
nghiệp nhà nước.
(iii) Cơ chế hạch toán, xác định kết quả:
Hiện nay ở các Tổng công ty của Việt Nam đang tồn tại các hình thức
hạch toán: hạch toán tập trung, hạch toán phân tán, hạch toán vừa tập trung
vừa phân tán.
Bản chất của hình thức hạch toán tập trung là hạch toán phụ thuộc:
doanh thu, chi phí của các đơn vị thành viên được tập trung về công ty mẹ, lợi
nhuận và thu nhập của các đơn vị thành viên do công ty mẹ quyết định. Hình
thức hạch toán này tạo nên sự thụ động, ỷ lại của các đơn vị cấp dưới do
không xác định chính xác kết quả SXKD của đơn vị mình mà hưởng theo sự
điều tiết chung.
Hình thức hạch toán độc lập (phân tán) cho phép mỗi đơn vị xác định
đúng hiệu quả SXKD của đơn vị mình; do đó, phát huy được tính chủ động,
sáng tạo của từng đơn vị thành viên nhưng không tạo được mối liên kết chặt
chẽ giữa các đơn vị thành viên và công ty mẹ.
Cơ chế phân phối lợi nhuận và thu nhập trong doanh nghiệp cũng chịu
ảnh hưởng của cơ chế hạch toán. Chính vì vậy, việc lựa chọn hình thức hạch
các vấn đề: bố trí việc làm phù hợp khả năng; thực hiện chế độ quản lý khoa
học; chế độ đãi ngộ thích đáng.
(iii) Công tác phát triển nguồn nhân lực
12
Người lao động phải được cập nhật kiến thức thường xuyên thông qua
đào tạo, đạo tạo lại dưới các hình thức. Bên cạnh đó, phải chú trọng việc thu
hút nhân tài từ bên ngoài để tăng cường năng lực cho doanh nghiệp mà không
mất chi phí đào tạo.
1.1.2.4. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp không phải là cái gì bất biến. Ngược lại, nó
là một hiện tượng phức tạp. Về mặt này, vai trò và ảnh hưởng của người quản
lý rất quan trọng.
Jay W.Lorsch, giáo sư về khoa học quan hệ nhân quần, là tiến sĩ về quản
lý công thương nghiệp của Trường Đại học Harvard, một nhân vật nổi tiếng
của lý luận quản lý hiện đại thuộc trường phái lý luận quyền biến, cho rằng,
trước hết phải phân biệt một cách chính xác “cơ cấu cơ bản” và "cơ chế vận
hành". Khi nói đến cơ cấu cơ bản của một doanh nghiệp, người ta cần phải xét
đến những vấn đề chủ yếu như sự phân công trong nội bộ tổ chức việc sắp
xếp nhiệm vụ công tác cho các phòng, ban khác nhau, làm thế nào để thực
hiện sự điều hòa, phối hợp cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện được mục tiêu
tổng thể của doanh nghiệp
Đáp án của những vấn đề này là: các doanh nghiệp thường dùng hình
thức biểu đồ để thể hiện cơ cấu tổ chức (như biểu đồ về hệ thống tổ chức).
Mặc dù đến nay, rất nhiều giám đốc vẫn sử dụng một cách rộng rãi các loại
biểu đồ, nhưng nếu chỉ có cơ cấu cơ bản thì không đủ mà cần phải thông qua
cơ chế vận hành để tăng cường cơ cấu cơ bản, đảm bảo thực hiện ý đồ của cơ
cấu cơ bản. Cơ chế vận hành là trình tự điều khiển, hệ thống thông tin, chế độ
thưởng phạt cũng như các chế độ đã được quy phạm hóa
Việc xác lập và tăng cường cơ chế vận hành sẽ làm cho công nhân viên
hiểu rõ rằng, cái mà doanh nghiệp yêu cầu và mong muốn ở họ là cái gì? Một
Họ đã trình bày những yếu tố chủ yếu cấu thành cơ cấu tổ chức của
14
những doanh nghiệp thành công, nhưng lại chưa đề ra được một đường lối
hữu hiệu, hoàn chỉnh để giải quyết vấn đề cơ cấu tổ chức doanh nghiệp một
cách có hệ thống. Trên cơ sở những nghiên cứu của mình, Lorsch đã tiếp tục
tìm tòi, nghiên cứu và viết ra cuốn "Thiết kế cơ cấu tổ chức”, hình thành một
hệ thống lý luận hoàn chỉnh về thiết kế cơ cấu tổ chức.
Lý luận về thiết kế cơ cấu tổ chức của Lorsch:
Những suy nghĩ về thiết kế cơ cấu tổ chức do Lorsch đề ra bao hàm 2
khái niệm cơ bản: "Sự dị biệt" hoặc "sự khác biệt”, Sự "tổng hợp" hoặc "tổng
thể hóa".
Sự dị biệt ở đây là trình độ nhận thức và tinh thần, tư tưởng của người quản
lý ở các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp và những sự khác nhau về cơ
cấu tổ chức chính thức của các bộ phận đó. Không như các học giả theo lý luận
quản lý cổ điển, coi phân công là nhân tố duy nhất quyết định năng suất lao động
và hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, Lorsch cho rằng, mỗi bộ phận sản xuất
của doanh nghiệp đều là một đơn vị nhỏ của doanh nghiệp.
Những thành viên của các bộ phận đó đều xuất phát từ nhiệm vụ sản xuất
và tố chất của nhân viên mà hình thành phương hướng phát triển và cơ cấu tổ
chức của mình một cách hết sức tự nhiên. Bởi vì, mỗi bộ phận khác nhau đều
nằm trong môi trường khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp. Giữa những bộ
phận ấy có sự khác biệt một cách hết sức tự nhiên ở mức độ khác nhau.
Một khái niệm cơ bản khác là sự "tổng hợp”. Khái niệm này là để chỉ
những sức ép, thách thức và đòi hỏi trong những hoàn cảnh nhất định, năng
lực và trình độ hợp tác, điều hòa của các bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp.
Theo đó, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là sự phối hợp và điều hành
giữa các bộ phận để thực hiện nhiệm vụ của doanh nghiệp. Bao gồm các vấn
đề về quản lý con người, về thị trường, công nghệ và các chiến lược tác
nghiệp khác nhằm đạt hiệu quả kinh doanh.
1.1.3. Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng cơ chế quản lý doanh
+ Cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ.
Bưu chính - Viễn thông là một ngành nghề kinh tế thuộc kết cấu hạ tầng
có vai trò quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
là mạch máu thông tin liên lạc của Đảng và Nhà nước. Nhằm đảm bảo cho
nhu cầu xã hội được đáp ứng chất lượng cao về mọi mặt, giá cả hợp lý, nơi có
lãi cao bù nơi có lãi thấp, khu vực có thu nhập cao bù khu vực có thu nhập
thấp. Do vậy, Nhà nước trực tiếp tính toán và ban hành cước phí các dịch vụ
cơ bản.
- Thứ tư, sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn luôn phải dự trữ
năng lực cho những nhu cầu cần thiết sau đây:
+ Dự trữ để thay thế cho bộ phận mạng lưới hỏng hóc nhằm đảm bảo
chất lượng phục vụ, đảm bảo sự liên tục của sản xuất.
+ Dự trữ đoán trước sự phát triển nhu cầu xã hội để đảm bảo luôn đi
trước 1 bước trong hệ thống kết cấu hạ tấng cơ sở kinh tế toàn xã hội. Đặc
điểm này chi phối đến kế hoạch huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.
Trong cơ cấu giá thành các sản phẩm của Bưu điện tỷ trọng chi phí cố
định lớn, phần chi phí biến đổi không lớn, đặc biệt là các sản phẩm viễn
thông. Đặc điểm này cũng chi phối đến kế hoạch đầu tư vốn.
- Thứ năm, sản xuất trên một địa bàn rộng lớn, trên mặt đất, trong mặt
đất, trên không trung, cáp quang dưới đáy đại dương. Bưu điện là ngành có
tốc độ hao mòn vô hình vào loại nhanh nhất. Đặc biệt trong điều kiện tiến bộ
khoa học kỹ thuật hiện nay chu kỳ đổi mới công nghệ chỉ từ 1 - 3 năm. Đặc
điểm này đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn lớn nhưng lại phải biết đầu tư, sử
dụng, bởi vì độ mạo hiểm rủi ro cao.
- Thứ sáu, do đặc thù của ngành, quá trình sản xuất gắn liền tiêu thụ, do
cung cấp dịch vụ trước, thu tiền sau, nên luôn có khoản ghi nợ phải thu khách
hàng gọi là Bưu điện phí ghi nợ, đây là số tiền khách hàng phải trả do đã sử
dụng các dịch vụ BC - VT theo giá cước. Đặc điểm này buộc doanh nghiệp
17
BCVT phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và có các biện pháp thu
nước là tập trung vào hoạt động kinh doanh, chuyển quản lý doanh nghiệp
công ích sang quản lý hoạt động công ích, thực hiện cơ chế đấu thầu hoạt
động công ích. Luật DNNN sửa đổi cũng đã qui định rõ về tài sản, quyền về
tài sản cho doanh nghiệp; tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp; Xoá bỏ các
loại bao cấp, bao gồm khoanh nợ, dãn nợ, xoá nợ, bù lỗ, Bổ sung cơ chế tạo
động lực mạnh mẽ hơn đối với doanh nghiệp Nhà nước và trách nhiệm cao
hơn đối với cán bộ quản lý về đầu tư và kết quả kinh doanh, gắn trách nhiệm
quản lý với kết quả kinh doanh.
HĐQT là cơ quan quản lý của doanh nghiệp, thực hiện chức năng đại
diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, trừ những thẩm quyền
được phân cấp cho các cơ quan nhà nước.
Luật cũng có các qui định về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, tổ chức
lại các tổng công ty, tạo các điều kiện để phát triển tổng công ty theo mô hình
công ty mẹ – công ty con.
Tuy nhiên, DNNN vẫn phải chịu ràng buộc hay chi phối bởi sự can thiệp
mang tính chất hành chính, chủ quan và thiếu phối hợp của không ít cơ quan
nhà nước. Ví dụ, trong các vấn đề liên quan đến sự sống còn của DNNN thì
Bộ chuyên ngành quyết về chiến lược, Bộ Nội vụ quyết về nhân sự, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư quyết về dự án đầu tư, Bộ Tài chính cấp vốn.
Năm 2005, Luật doanh nghiệp thống nhất được ban hành, Luật doanh
nghiệp 2005 có mục đích kết hợp và tiến tới thay thế các quy định hiện hành
về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp trong các luật như Luật
Doanh nghiệp, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Doanh nghiệp Nhà
nước. Luật DNTN tạo ra khung pháp lý áp dụng theo loại hình, đặc trưng của
doanh nghiệp chứ không theo chủ thể sở hữu doanh nghiệp. Cụ thể là Luật
DNTN qui định về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của bốn loại hình
19
doanh nghiệp cơ bản: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty
TNHH và công ty cổ phần. Bất cứ doanh nghiệp nào thuộc một trong bốn loại
hình này đều được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp thống nhất mà không
Đối với một số ngành, nghề hạn chế kinh doanh áp dụng cho các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có quy định những điều kiện nhất định
mà nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng theo hướng công khai, minh bạch
hơn. Những thay đổi này chắc chắn sẽ góp phần tăng tính hấp dẫn của môi
trường đầu tư.
Luật DNTN sẽ tạo một khung quản trị thống nhất và phù hợp với thông
lệ quốc tế để áp dụng cho các DNtrong nước (DNtư nhân, DNNN đã chuyển
đổi và DNcó vốn đầu tư nước ngoài). Điều này góp phần nâng cao hiệu quả
quản trị doanh nghiệp, tăng cường tính cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao
khả năng thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Khung
pháp lý chung sẽ giúp giải quyết những tồn tại trong quản trị DNNN, ví dụ
như quyền chủ sở hữu và quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý
chưa được xác định đầy đủ và rõ ràng, vẫn còn chế độ "hành chính chủ quản",
cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm người quản lý chưa hợp lý, cơ chế giám sát điều
hành kém hiệu quả v.v
Luật doanh nghiệp 2005 giành một chương mới về Công ty mẹ, công ty
con và nhóm công ty - một hiện tượng rất phổ biến trên thế giới nhưng lại là
mô hình mới ở Việt Nam. Những quy định này mở ra những cơ hội đầu tư
mới cho các nhà đầu tư nước ngoài, tạo một hướng phát triển mới trong cải
cách DNNN và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô
kinh doanh một cách hiệu quả mà vẫn kiểm soát được những rủi ro phát sinh
trong quá trình hoạt động.
Nhìn chung Luật doanh nghiệp đã đáp ứng được những yêu cầu đặt ra
21
trong tư tưởng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đó là: i) mở rộng quyền tự
do kinh doanh để tất cả các doanh nghiệp được kinh doanh và đầu tư trong
mọi lĩnh vực luật pháp không cấm cũng như được tự chủ và tự chịu trách
nhiệm về doanh nghiệp của mình; ii) đổi mới chức năng quản lý hành chính
nhà nước cho phù hợp với nền kinh tế thị trường và tăng cường tính minh
bạch; iii) phù hợp với các nguyên tắc quốc tế và cam kết của Chính phủ Việt
tập thể (Luật Hợp tác xã năm 1995, 2003), về các đơn vị sự nghiệp có thu
Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng, mặc dù đã có nhiều đổi mới và đáp
ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu của kinh tế thị trường mà Luật Doanh
nghiệp là một ví dụ, nhưng hệ thống pháp luật của Việt Nam vẫn thiếu nhiều
qui định quan trọng; còn nhiều nội dung chưa phù hợp với các nguyên tắc của
WTO và chậm được cải tiến so với các nước trong khu vực. Quy định của
pháp luật còn thiếu cụ thể, rõ ràng và quá hay bị thay đổi, thiếu nhất quán nên
khó dự đoán trước được. Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản
của tình trạn thực thi pháp luật yếu kém; pháp luật không đi vào cuộc sống
hoặc bị lợi dụng, vi phạm.
Để hoàn thiện khung khổ pháp luật phù hợp và phục vụ cho phát triển
kinh tế thị trường định hướng XHCN, Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện
chương trình xây dựng pháp luật phù hợp không những với thực tế Việt Nam
mà còn cả với các cam kết hội nhập và các qui định của WTO. Thực hiện tự
do hoá kinh tế, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bình đẳng của các chủ thể kinh
tế, một mặt bằng pháp lý và các điều kiện kinh doanh chủ yếu trên thương
trường cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là yêu cầu đang
được đặt ra trong công tác xây dựng pháp luật về kinh tế ở Việt Nam.
Thứ hai, thực hiện cải cách hành chính. Trong những năm đổi mới vừa
23