Luận văn thạc sỹ: Hoàn thiện cơ chế quản lý vốn tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 - Pdf 25

MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
SƠ ĐỒ
HÌNH
Hình 2.1: Mối quan hệ giữa ROE và chi phí vốn chủ sở hữu của CIENCO 4
Error: Reference source not found
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước là một nội dung quan trọng trong tiến
trình đổi mới hơn 20 năm qua của nước ta. Ý tưởng phát triển một số tổng
công ty thành tập đoàn kinh tế đã được manh nha từ những năm 1990 cùng
với việc ban hành các Quyết định 90/TTg và 91/TTg của Thủ tướng Chính
phủ. Giai đoạn tập trung nhất của quá trình này được bắt đầu từ Nghị quyết
TW3 khoá IX (tháng 9/2001) của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Mục tiêu của
việc thành lập tập đoàn kinh doanh là tạo điều kiện thúc đẩy quá trình tích tụ,
tập trung, nâng cao khả năng cạnh tranh, thực hiện chủ trương xoá bỏ dần chế
độ Bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản và sự phân biệt doanh nghiệp trung
ương, doanh nghiệp địa phương; tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với
các doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4 (CIENCO 4) là một tổng
công ty nhà nước trực thuộc Bộ Giao thông vận tải được thành lập theo Quyết
định 90/TTg của Thủ tướng chính phủ. Trong mấy năm gần đây Tổng công ty đã
chủ động nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức và quản lý mới để chuyển sang
hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Từ quá trình chuyển đổi đó
cộng với hơn một năm hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con (từ
tháng 8/2007), cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và cả cơ chế quản lý của Tổng
công ty đã có một số thay đổi trong đó vấn đề quản lý vốn theo một cơ chế nào
để phát huy hiệu quả nhất cũng được đặt ra. Tuy nhiên, cơ chế quản lý vốn hiện
nay vẫn còn bộc lộ những hạn chế không phù hợp, tương thích với hoạt động

công trình giao thông 4.
- Kết cấu:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý vốn của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý vốn của Tổng công ty xây dựng
công trình giao thông 4.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý vốn tại Tổng công ty xây
dựng công trình giao thông 4.
Kết luận
2
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tế bào, bộ phận cấu thành của nền kinh tế, có quan
hệ chặt chẽ với các bộ phận khác. Cùng với sự phát triển của các phương thức
sản xuất, cách thức tổ chức doanh nghiệp cũng ngày càng phát triển.
Doanh nghiệp được hiểu là một chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp
nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở
hữu.
Ở Việt Nam, theo Luật Doanh nghiệp năm 2005: Doanh nghiệp là tổ
chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký
kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
1.1.1.2. Phân loại doanh nghiệp
Có nhiều cách thức để phân loại doanh nghiệp, tuy nhiên có các cách

4
nghiệp tư nhân: Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp
danh, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân. Nói cách khác, những doanh
nghiệp không thuộc sở hữu Nhà nước được hiểu là doanh nghiệp tư nhân.
Như vậy, tất cả những đơn vị, tổ chức cá nhân thuộc khu vực kinh tế tư
nhân dựa trên vốn của cá nhân tự có, hoặc đi vay được tổ chức kinh doanh
dưới nhiều hình thức khác nhau, dù là các chủ thể kinh doanh khác nhau như
kinh doanh cá thể, kinh doanh góp vốn hay Công ty đều được coi là doanh
nghiệp tư nhân.
Có thể thấy, không có một sự phân định rõ ràng giữa doanh nghiệp tư
nhân và doanh nghiệp Nhà nước. Nếu một công ty cổ phần mà Nhà nước nắm
giữ 51% cổ phần, theo Luật doanh nghiệp năm 2005, được gọi là công ty nhà
nước. Nếu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà thành viên đó là
Nhà nước thì vẫn có thể được hiểu là doanh nghiệp Nhà nước. Như vậy, tuỳ
thuộc vào tỷ trọng vốn của Nhà nước trong tổng vốn chủ sở hữu của doanh
nghiệp, doanh nghiệp đó có thể là doanh nghiệp Nhà nước hay tư nhân.
* Theo ngành nghề kinh doanh
Theo tiêu thức này, có thể phân các doanh nghiệp thành 6 loại hình
doanh nghiệp cơ bản sau trong hệ thống doanh nghiệp của nền kinh tế quốc
dân: doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp - thuỷ
sản, thương mại - dịch vụ, giao thông vận tải, xây dựng và các doanh nghiệp
khác (tư vấn tài chính, bảo hiểm, xổ số ).
* Theo chủ thể kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể
kinh doanh sau đây:
- Kinh doanh cá thể
5
- Kinh doanh góp vốn
- Công ty
Kinh doanh cá thể

khỏi các nhà quản lý mang lại cho công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể
và góp vốn:
- Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới.
- Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lượng cổ đông.
- Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào
công ty (trách nhiệm hữu hạn).
1.1.2. Vốn của doanh nghiệp
Vốn là yếu tố cơ bản không thể thiếu đối với mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Nó tạo tiền đề cho sự ra đời của doanh nghiệp,
là cơ sở để mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao
động, đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị
Vốn được hiểu một cách chung nhất vốn là tư bản. Tư bản là giá trị
mang lại giá trị thặng dư bao gồm cả tư bản vô hình và tư bản hữu hình.
Vốn của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận tuỳ vào tiêu chí phân loại
theo tính chất kỳ hạn hay theo quyền sở hữu.
1.1.2.1. Căn cứ vào tính chất kỳ hạn
7
Vốn của doanh nghiệp được phân chia thành vốn ngắn hạn và vốn dài hạn
a. Vốn ngắn hạn: là vốn có thời hạn hoàn trả trong vòng một năm. Vốn
ngắn hạn bao gồm các khoản phải trả người bán, vay ngắn hạn ngân hàng, các
khoản phải nộp nhà nước hay cấp trên, phải trả cán bộ công nhân viên, phát
hành trái phiếu ngắn hạn
Đặc điểm: Vốn ngắn hạn chủ yếu là từ hình thức vay ngân hàng và tín
dụng thương mại, được huy động để bổ sung nhu cầu vốn lưu động của doanh
nghiệp, đầu tư vào tài sản ngắn hạn, có chu kỳ quay vòng ngắn. Lãi suất của
vốn ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất vốn dài hạn.
b. Vốn dài hạn: là vốn có thời gian đáo hạn hơn một năm. Vốn dài hạn
bao gồm: vốn chủ sở hữu, các khoản nợ dài hạn do phát hành trái phiếu hay
vay ngân hàng, lợi nhuận giữ lại
Đặc điểm: Vốn dài hạn được huy động dưới hình thức phát hành cổ

+ Chi phí lãi vay là chi phí hợp lý hợp lệ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
1.2. CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm cơ chế quản lý vốn của doanh nghiệp
Như trên đã đề cập, vốn là yếu tố cơ sở, tiền đề để doanh nghiệp bắt đầu
quá trình sản xuất kinh doanh và đạt được mục tiêu đề ra.
Đối với một doanh nghiệp, để bắt đầu chu kỳ sản xuất, phải sử dụng vốn
hữu hình để mua các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, nhiên liệu, máy móc,
thiết bị, lao động vv. Trong quá trình sản xuất, các yếu tố đầu vào hữu hình
9
kết hợp với vốn vô hình như kinh nghiệm, tài năng sản xuất và quản lý của đội
ngũ cán bộ, công nhân viên để tạo ra sản phẩm hàng hoá và tạo ra giá trị thặng
dư. Sự thiếu vốn là một trong những trở ngại chính, một trong những nguyên
nhân kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế.
Vốn trong doanh nghiệp phải đảm bảo bằng tài sản có thực, được tích
luỹ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ để tiến hành kinh doanh, phải
vận động vì mục tiêu sinh lời và luôn gắn với chủ sở hữu. Không thể có
những đồng vốn vô chủ và đi liền với nó là sự lãng phí vô độ.
Doanh nghiệp cần thiết phải quản lý vốn vì vai trò của vốn thực sự được
phát huy khi vốn được quản lý có hiệu quả. Tác động của hiệu quả quản lý là
rất lớn: "Số vốn thường tăng do tiết kiệm và giảm do phung phí và quản lý
kém Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp để tăng vốn. Lao động tạo ra sản
phẩm để tích luỹ trong quá trình tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu
chăng nữa, nhưng không tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên Hậu quả
của việc quản lý kém nhiều khi cũng chẳng khác gì tính hoang phí." [1]
Do đó, bằng cách thức, phương thức và công cụ gì để có thể huy động được
vốn với cơ cấu hợp lý và chi phí ở mức thấp cho nhu cầu sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải có cơ chế quản lý vốn thích hợp.
Từ "cơ chế" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp được sử dụng để chỉ cấu tạo
và nguyên lý hoạt động của máy móc. Thuật ngữ cơ chế còn được sử dụng
trong giới sinh vật học và giới y học để thực hiện tác dụng và điều tiết qua lại

11
liên kết chặt chẽ, do vậy nội dung cơ chế quản lý vốn của các doanh nghiệp
này cũng rất đa dạng.
Trong phạm vi nghiên cứu Luận văn này, vì doanh nghiệp đang nghiên
cứu là một Tổng công ty 90 đã chuyển đổi mô hình hoạt động sang mô hình
Công ty mẹ - Công ty con do đó Luận văn sẽ nghiên cứu cơ chế quản lý vốn
của doanh nghiệp theo các nội dung cơ bản sau:
- Huy động vốn
- Thiết lập cơ cấu vốn phù hợp
- Điều hoà vốn
1.2.2. Nội dung cơ chế quản lý vốn của doanh nghiệp
1.2.2.1. Huy động vốn
Để phù hợp với nội dung phân tích về cơ cấu vốn của doanh nghiệp sau
này, tác giả chọn cách phân loại vốn theo quyền sở hữu. Vì vậy, phần này sẽ
đi sâu nghiên cứu các nguồn vốn và phương thức huy động vốn chủ sở hữu và
nợ của doanh nghiệp.
a. Huy động vốn Chủ sở hữu
Vốn Chủ sở hữu của doanh nghiệp được huy động bằng các hình thức
sau: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia và phát hành cổ phiếu mới.

Vốn góp ban đầu
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có
một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu đóng góp. Khi nói
đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình
thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất
và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp.
12
Nếu doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước thì vốn góp ban đầu chính
là vốn đầu tư của Nhà nước dưới dạng đầu tư trực tiếp 100% hoặc góp cổ
phần chi phối đối với tập đoàn kinh tế và thông qua đó quyết định mức độ sở

đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong
năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các
cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần (cổ tức) nhưng bù lại họ có quyền
sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.
Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tự tài
trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ
phiếu lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong
thời kỳ trước mắt (ngắn hạn) do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ
hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ
phiếu có thể bị giảm sút.

Phát hành cổ phiếu
Trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động
vốn bằng cách phát hành cổ phiếu. Phát hành cổ phiếu là quá trình bán cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán sơ cấp để thu hút vốn đầu tư. Phát hành cổ
phiếu được gọi là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu trong các trường hợp sau: Huy
động vốn chủ sở hữu khi thành lập doanh nghiệp (công ty cổ phần) và tăng
vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới.
Người mua cổ phiếu gọi là cổ đông, là người đầu tư vốn để hình thành
nên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Cổ động có trách nhiệm và quyền lợi
được pháp luật quy định tuỳ theo loại cổ phiếu mà họ nắm giữ, các quyền cơ
14
bản đó là: quyền chiếm hữu một phần lợi nhuận dưới hình thức lãi cổ phiếu
(cổ tức) và được quyền tham gia quản lý công ty. Những cổ đông cũ có quyền
được ưu tiên mua cổ phiếu mới theo tỷ lệ cổ phiếu mà họ hiện đang nắm giữ
với giá thấp hơn giá thị trường của loại cổ phiếu đó. Cổ đông không được rút
vốn ra khỏi công ty nhưng họ có thể chuyển nhượng cổ phiếu trên thị trường.
Cổ phiếu là một giấy chứng nhận được cấp cho cổ đông để chứng nhận số
cổ phần mà cổ đông đó đã mua ở công ty cổ phần, chứng thực về việc góp vốn

không lo gánh nặng nợ nần.
Việc phát hành cổ phiếu thường ra công chúng sẽ làm tăng thêm vốn chủ
sở hữu của công ty, từ đó làm cho hệ số nợ giảm xuống và tăng thêm mức độ
vững chắc về tài chính của công ty. Đồng thời nó cũng giúp công ty nâng cao
được khả năng vay vốn và mức độ tín nhiệm trên thị trường.
Tuy nhiên, khi công ty cổ phần phát hành cổ phiếu thường sẽ làm tăng
thêm cổ đông mới, từ đó phải chia sẻ quyền phân phối thu nhập, phân chia
quyền bỏ phiếu và quyền kiểm soát công ty cho số cổ đông mới này. Điều đó
gây ra sự bất lợi cho cổ đông hiện hành. Mặt khác, chi phí để phát hành cổ
phiếu thường như hoa hồng cho người bảo lãnh, chi phí quảng cáo nói chung
cao hơn cổ phiếu ưu đãi. Như vậy, huy động vốn qua phát hành cổ phiếu phải
xét đến nguy cơ bị thôn tính. Do đó, phải tính đến tỷ lệ cổ phần tối thiểu cần
duy trì để giữ vững quyền kiểm soát của công ty.
+ Cổ phiếu ưu tiên
Cổ phiếu ưu tiên là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong công ty cổ
phần đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số
16
ưu tiên hơn so với cổ đông thường. Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó
thường có cổ tức cố định, được xác định trước và không phụ thuộc vào kết
quả kinh doanh của công ty cổ phần. Người chủ của cổ phiếu này có quyền
được thanh toán lãi trước các cổ đông thường. Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức
cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nhận cổ tức
của kỳ đó. Tuy nhiên, người sở hữu cổ phiếu ưu tiên lại không có quyền tham
gia bỏ phiếu bầu Hội đồng quản trị và quyết định các vấn đề quản lý công ty.
Một vấn đề rất quan trọng khi phát hành cổ phiếu ưu tiên đó là thuế. Khác với
chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổ tức được lấy
từ lợi nhuận sau thuế. Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên.
Cổ phiếu ưu tiên thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ
phiếu được phát hành. Tuy nhiên trong một số trường hợp, việc dùng cổ phiếu
ưu tiên là thích hợp vì việc phát hành cổ phiếu ưu tiên giúp công ty cổ phần

Nguốn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm như khối lượng vốn
lớn, các giao dịch vay vốn thường đa dạng, linh hoạt, nhưng nguồn vốn này
cũng có những hạn chế nhất định như các hạn chế về điều kiện tín dụng, kiểm
soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn (lãi suất).
- Điều kiện tín dụng: Điều kiện để doanh nghiệp vay ngắn hạn ngân hàng
tương đối đơn giản, chủ yếu dựa trên các mối quan hệ sẵn có. Đối với vốn dài
hạn, để đáp ứng yêu cầu an toàn tín dụng và sinh lời của ngân hàng, khi muốn
vay vốn doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần
thiết mà ngân hàng yêu cầu. Ngân hàng sẽ phân tích hồ sơ vay vốn, đánh giá
các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuất - kinh doanh
của doanh nghiệp để đưa ra phán quyết cho vay cuối cùng.
- Các điều kiện đảm bảo tiền vay: Thông thường ngân hàng thường yêu
18
cầu doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng. Tài sản đảm bảo
có thể là hàng hoá trong kho, tài sản cố định, các hợp đồng chi trả của người
thứ ba, bảo lãnh của người thứ ba Việc yêu cầu người vay có tài sản đảm
bảo trong nhiều trường hợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được điều
kiện vay, kể cả những thủ tục pháp lý về giấy tờ, do đó, doanh nghiệp cần tính
đến yếu tố này khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.
- Sự kiểm soát của ngân hàng: Khi vay vốn của ngân hàng, doanh nghiệp
phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích tín dụng và tình hình sử
dụng vốn vay.
- Lãi suất vay vốn: Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi
suất vốn vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong
từng thời kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí
sử dụng vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp.

Tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là loại tín dụng mà bên bán trực tiếp dùng hàng
hoá cung cấp cho bên mua trong quá trình giao dịch thương mại. Tín dụng

đổi, trái phiếu trả lãi một lần, trái phiếu Coupon
Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể và tình hình trên thị trường tài chính mà
doanh nghiệp có thể lựa chọn phát hành loại trái phiếu nào thích hợp nhất.
Khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề như chi phí trả
lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu.
Ưu điểm của phương thức huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu là
doanh nghiệp có thể tăng vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh mà không
20
phải san sẻ quyền kiểm soát doanh nghiệp như khi phát hành cổ phiếu; chi phí
phát hành trái phiếu thấp hơn so với phát hành cổ phiếu; lãi phải trả cho trái
phiếu được tính là chi phí hợp lý hợp lệ khi xác định thu nhập chịu thuế của
doanh nghiệp; giúp doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấu vốn một cách linh hoạt
Tuy nhiên, khi sử dụng trái phiếu công ty để huy động vốn doanh nghiệp
phải có nghĩa vụ trả nợ đúng kỳ hạn. Do đó doanh nghiệp có thể gặp rủi ro
nếu tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp thiếu sự ổn định dẫn
đến tình trạng không đủ nguồn tài chính để trang trải.
1.2.2.2. Thiết lập cơ cấu vốn phù hợp
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp là mối tương quan tỷ lệ giữa Nợ dài
hạn và Vốn chủ sở hữu. Như vậy, khi đề cập đến cơ cấu vốn của doanh
nghiệp người ta chỉ xem xét vốn dài hạn là nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu mà
không xem xét đến nợ ngắn hạn vì nợ ngắn hạn mang tính ngắn hạn, tạm thời,
không ảnh hưởng nhiều đến sự chia sẻ quyền quản lý và giám sát hoạt động
của doanh nghiệp. Các khoản nợ ngắn hạn hầu như chỉ được sử dụng để đáp
ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp, không bị tác động nhiều
bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Hơn nữa, chi phí để tiếp
cận vốn ngắn hạn thấp hơn vốn dài hạn, do vậy khi thiết lập kế hoạch huy
động vốn, doanh nghiệp chỉ xem xét đến các nguồn vốn dài hạn.
Trên thực tế, không có doanh nghiệp nào sử dụng hoàn toàn vốn chủ sở
hữu và không có doanh nghiệp nào chỉ vay nợ để kinh doanh vì sử dụng nợ và
vốn chủ sở hữu đều có những ưu, nhược điểm của nó. Việc lựa chọn một cơ

khấu toàn bộ các dòng tiền mà doanh nghiệp thu được hay chính là tỷ lệ sinh
lời cần thiết để không làm giảm số lợi nhuận dành cho các chủ sở hữu.
Các căn cứ để thiết lập cơ cấu vốn tối ưu là chi phí vốn trung bình và
sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận.
Chi phí trung bình của vốn (WACC) bao gồm chi phí Nợ và chi phí vốn
chủ sở hữu. Chi phí Nợ là chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để huy động
Nợ. Chi phí vốn chủ sở hữu bao gồm: chi phí của cổ phiếu ưu tiên, chi phí của
cổ phiếu thường và chi phí của lợi nhuận giữ lại. Chi phí Nợ được coi là chi
phí trước khi tính thuế thu nhập còn chi phí vốn chủ sở hữu là chi phí xác
định sau khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Chi phí Nợ chịu tác động của
thuế thu nhập doanh nghiệp nên sẽ giảm đúng bằng phần tiết kiệm nhờ thuế,
thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp càng lớn thì chi phí nợ càng thấp. Đây
22
chính là cơ sở của việc sử dụng đòn bẩy tài chính.
Chi phí vốn trung bình của doanh nghiệp sẽ thay đổi khi một trong các
nguồn vốn riêng lẻ có chi phí thay đổi. Có hai lý do để chi phí vốn sẽ thay
đổi. Thứ nhất là do hoạt động động đầu tư của doanh nghiệp tăng mức độ rủi
ro, khi đó, nhà đầu tư sẽ đòi hỏi tỷ suất lợi nhuận cao hơn để bù đắp mức độ
rủi ro tăng lên. Do đó, chi phí vốn của doanh nghiệp tăng lên. Thứ hai, là do
cung cầu vốn trên thị trường tài chính thay đổi. Khi cầu về vốn tăng, hay
doanh nghiệp muốn huy động thêm một lượng vốn mới thì chi phí vốn hay lãi
suất trên thị trường sẽ tăng lên tương ứng vì lượng cung vốn trên thị trường
lúc này thấp hơn so với nhu cầu của các doanh nghiệp. Do vậy chi phí bình
quân gia quyền của vốn sẽ thay đổi trong từng thời kỳ, với từng lượng vốn
huy động khác nhau.
Căn cứ thứ hai để doanh nghiệp thiết lập cơ cấu vốn tối ưu là nguyên tắc
đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận. Sử dụng Nợ làm giảm chi phí vốn trung bình
của doanh nghiệp do chi phí nợ thường thấp hơn chi phí vốn chủ sở hữu, hơn
nữa doanh nghiệp còn được hưởng phần tiết kiệm thuế do lãi vay là chi phí hợp
lý hợp lệ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy vậy, sử dụng nợ càng nhiều

Công thức tính của DOL và DFL như sau:
DOL =
% thay đổi của thu nhập trước thuế và lãi vay
% thay đổi của sản lượng hoặc doanh thu tiêu thụ
DOL cho biết 1% thay đổi của sản lượng hoặc doanh thu tiêu thụ sẽ dẫn
đến bao nhiêu % thay đổi của EBIT.
DFL =
% thay đổi của thu nhập trên một cổ phiếu
% thay đổi của thu nhập trước thuế và lãi vay
24

Trích đoạn Đòn bẩy kinh doanh và đòn bẩy tài chính Cơ chế quản lý tài sản Các yếu tố quản lý: nhận thức, năng lực, sự mạo hiểm của nhà quản lý Các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN CỦA TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status