thiết kế website thư viện sách của trung tâm thông tin tư liệu dầu khí - Pdf 24

mở đầu
Sự phát triển nhanh chóng của Internet đã làm cho máy tính ngày càng trở
thành một công cụ không thể thiếu trong mọi lĩnh vực của đời sống. Việc áp
dụng máy tính để tự động hoỏ cỏc hoạt động của thư viện đã đưa ngành thông
tin thư viện lên đỉnh cao của quản lý thông tin.
Được sự hướng dẫn của TS Cao Kim Ánh em đã thực hiện đề tài “Thiết kế
WebSite thư viện sách của Trung Tâm Thông Tin Tư Liệu Dầu Khí”. Mục
đích của đề tài là cải tiến một số chức năng trên khía cạnh “thư viện sỏch” của
WebSite này. Luận văn được trình bày như sau:
-Chương I : Tổng quan về Internet và các dịch vụ của Internet
-Chương II : Dịch vụ World Wide Web
-Chương III : Phương pháp tạo dựng WebSite
-Chương IV : Công cụ Microsoft Visual Interdev trong việc phát
triển trang Web động
-Chương V : Thiết kế WebSite thư viện sách của Trung Tâm
Thông Tin Tư Liệu Dầu Khí
Qua đây, em xin chân thành cám ơn TS Cao Kim Ánh, người đã tận tình
chỉ bảo và định hướng cho em trong suốt quá trình làm luận văn. Em xin cám ơn
toàn thể thầy cô giáo trong khoa Công Nghệ Thông Tin Trường ĐHDL Phương
Đông và các cán bộ phòng máy tính thuộc Trung Tâm Thông Tin Tư Liệu Dầu
Khí đã tạo mọi điều kiện thuận để em hoàn thành luận văn này.

Hà Nội ngày 16 tháng 5 năm 2002
Sinh viên
Bùi Thị Tâm
1
Chương I
Tổng quan về internet
1.1.Internet là gì ?
Tháng 7 năm 1968 cơ quan quản lý dự án phát triển của bộ quốc phòng Mỹ
(ARPA) đã đề nghị liên kết các mạng mỏy tớnh để trong trường hợp có chiến

thường, người sử dụng đơn lẻ dùng đường điện thoại để kết nối Internet, doanh
nghiệp/tổ chức kết nối máy tính của mình thành mạng LAN, sau đó kết nối một
hoặc một vài máy tính của mạng Lan đó với Internet thông qua đường thuê bao.
1.3. Giao thức TCP/IP
(Transmission Control protocol/Internet Protocol)
Giao thức (protocol) là một tập hợp các quy tắc, mô tả bằng các thuật ngữ kỹ
thuật một việc cần phải làm như thế nào. Để các máy tính nối mạng có thể
“hiểu” được nhau, chúng phải tuân theo một tập hợp các giao thức nhất định.
Tập hợp các giao thức được chọn cho Internet có tên là TCP/IP, là tên của hai
giao thức quan trọng nhất : TCP (Transmission Control Protocol – giao thức
kiểm tra truyền tải) và IP (Internet Protocol – Giao thức Internet).
Như vậy, TCP/IP thực chất là một họ các giao thức cùng làm việc với nhau
để cung cấp phương tiện truyền thông liên mạng. TCP/IP là bộ giao thức chuẩn
mở, không có tổ chức nào độc quyền kiểm soát, nó được thiết lập bởi tổ chức
3
IETF (Internet Engineering Task Force) và được chấp nhận bởi cộng đồng mạng
trên thế giới
1.3.1. Giao thức TCP
Giao thức TCP được thực hiện ở líp vận chuyển dữ liệu và là một giao thức
hướng kết nối. TCP cho phép hai chương trình máy tính trao đổi thông tin trên
mạng hoặc một nhúm cỏc mạng khác nhau một cách tin cậy. Khi một máy tính
có yêu cầu thiết lập một cuộc hội thoại với hệ thống mạng khỏc trờn Internet, nó
sẽ mở ra một kết nối logic đến hệ thống đó. Kết nối TCP cung cấp giữa hai máy
tính cho phép dữ liệu di chuyển đồng thời cả hai chiều và điều khiển cỏc dũng
dữ liệu đến các giao thức ở mức cao hơn.
1.3.2. Giao thức liên mạng (IP)
Giao thức xác định dịch vụ mạng này gọi là giao thức liên mạng. Giao thức
này có thể xem như một giao thức phi kết nối, nó cung cấp 3 định nghĩa quan
trọng sau :
- IP sẽ xác định một đơn vị cơ sở cho việc truyền dữ liệu, nó sẽ xác định

c. Líp C: Cho phép định danh tới 2 triệu mạng, với tối đa 254 máy cho
mỗi mạng. Líp này được dùng cho các mạng có Ýt máy.
5
Netid Hostid
0 8 16 24 31
Netid Hostid
0 8 16 24 31
Ba bits đầu tiên của líp này là 110 trong byte đầu tiên, thì địa chỉ mạng bắt
đầu từ 192 đến 223.
d. Líp D: Dùng để gửi IP datagram tới một nhúm cỏc mỏy trờn một
mạng
Bèn bits đầu của byte đầu tiên là 1110, như vậy trong byte đầu tiên thì địa
chỉ mạng bắt đầu từ 224 đến 239. Phần còn lại gồm 24 bits của trường tiếp theo
tạo ra một số xác nhận mạng đặc trưng cùng làm việc. Một địa chỉ IP loại này là
địa chỉ gửi đến cho 1 hoặc nhiều máy tính, trong khi cỏc lớp A, líp B, líp C thì
mỗi IP xác định địa chỉ cho một máy.
e. Líp E: Dùng để dự phòng cho tương lai
1.4.2. Dịch vụ tên miền (DNS - Domain Name Server)
Việc định doanh các phần tử của liên mạng bằng các con số như trong địa
chỉ IP rõ ràng không làm cho người sử dụng hài lòng bởi chỳng khú nhớ và dễ
nhầm lẫn. Vì thế người ta xây dựng hệ thống đặt tên cho các phần tử của
Internet, cho phép người sử dụng chỉ cần nhớ tên chứ không cần nhớ địa chỉ IP
nữa.
6
Netid Hostid
0 8 16 24 31
§Þa chØ Multicast
0 8 16 24 31
Reserved for future use
0 8 16 24 31

dụng máy tính khách cần có phần mềm tương ứng để truy nhập thư điện tử.
Vớ dô : phần mềm Outlook Express, trên máy tính khách sẽ tự động phát
sinh thư mục thư điện tử được chia thành các mục nhỏ hơn : inbox để chứa thư
gửi đến, outbox để chứa thư sẽ được gửi đi, sent để chứa thư đã được gửi đi
1.5.2. News (Tin điện tử)
Trong thực tế cuộc sống, người ta sử dụng bảng tin để thể hiện ý kiến của
mình, đọc ý kiến của người khác, để thảo luận những vấn đề một nhóm người
cùng quan tâm. Mục đích sử dụng tin điện tử cũng tương tự như vậy. Sự hình
thành cỏc nhúm thảo luận trên Internet tạo thành một hệ thống được gọi là
Usenet. Hiện nay có hàng chục nghỡn nhúm thảo luận khác nhau trên Usenet.
Người ta có thể thảo luận mọi vấn đề thuộc mọi lĩnh vực khác nhau trên Internet
như những chuyện vui, nấu ăn, triết học, toán học, vật lý, tin học
“Bảng tin điện tử ” của một nhóm tin là một máy chủ Internet làm dịch vụ
tin (News Server), được gọi là Usenet Site (News Server trung tâm), nhưng
đồng thời nó cũng tự động gửi từ News Server này đến News Server khác. Nhờ
đó mà mọi thành viên trong nhóm có thể nhanh chóng tiếp cận bảng tin mới.
Sự hình thành nhóm tin bắt đầu từ những thông điệp đặc biệt, được gọi là
những thông điệp điều khiển (Control Message). Thông điệp này được tự động
gửi cho tất cả các News Admin. Những người quan tâm có thể bỏ phiếu bằng
cách gửi một thông điệp thích hợp đến một địa chỉ xác định. Một danh sách
những người tham gia bỏ phiếu sẽ được thiết lập. Kết quả được chọn nếu có 2/3
số người tham gia bỏ phiếu, hoặc có sự ủng hộ của quá bán cộng thêm 100
người. Thông thường thì những việc thảo luận về việc hình thành nhóm tin mới
được gửi đến nhóm news.announce.newsgroup và người quản trị nhóm tin này
có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của người quan tâm.
8
Tờn nhóm tin được đặt theo phương pháp “phõn cấp”. Nhờ đó, người ta
có thể dễ dàng tìm ra cỏc nhúm tin có quan hệ với nhau.
9
Vớ dô:

Telnet www.vaec.gov.vn
Ta có thể sử dụng trực tiếp địa chỉ IP của máy từ xa:
Telnet 192.168.5.80
Trong trường hợp máy chủ từ xa có nhiều dịch vụ thông tin, tương ứng với
các cổng (Port) khác nhau, ta cần khai báo cụ thể.
Vớ dô: Telnel cuchi.vaec.gov.vn 80
1.5.5.WWW
WWW (World Wide Web hay còn gọi là Web) là một dịch vụ thông tin mới
nhất và hấp dẫn nhất trên Internet. Web được mô tả là “hệ thống truy xuất thông
tin toàn cầu”, nhưng nói một cách chính thức thì WWW không phải là một hệ
thống cụ thể với tên gọi như thế, mà thực chất là một tập hợp các công cụ tiện
Ých và cỏc siờu giao diện giúp người sử dụng có thể tạo ra các siêu văn bản và
cung cấp cho người dùng khỏc trờn Internet. Công nghệ này có thể gọi là công
nghệ Web
Công nghệ Web một công nghệ cho phép truy cập và xử lý các trang dữ liệu
đa phương tiện (như văn bản , âm thanh, đồ hoạ, ảnh, phim ) trên Internet. Để
xây dựng các trang thông tin đa phương tiện như vậy, Web phải sử dụng ngôn
ngữ có tên là HTML (HyperText Markup Language). HTML cho phép người
đọc liên kết các kiểu dữ liệu khác nhau trên cùng một trang thông tin. WWW
truyền các tài liệu HTML thông qua giao thức HTTP.
11
Để thực hiện việc truy cập, liên kết các tài nguyên khác theo kỹ thuật siêu
văn bản, WWW sử dụng khái niệm URL (Uniform Resource Locator). Đõy
chớnh là một dạng tên để định danh duy nhất cho một tài liệu hoặc một dịch vụ
trong Web.
Hoạt động của Web dựa trờn mô hình Client/Server. Tại máy Client, người
sử dụng sẽ dùng Web browser để gửi yêu cầu tìm kiếm các tệp tin HTML đến
Web Server nhờ địa chỉ URL. Web Server nhận các yêu cầu đó và thực hiện rồi
gửi kết quả về cho Web Client. ở đây Web Brower sẽ biên dịch các thẻ HTML
và hiện thị nội dung các trang tài liệu được yêu cầu.

HTML chuẩn, không có tương tác với người sử dụng.
- Nhược điểm: Do thông tin là cố định cho nên không đáp ứng được nhu
cầu thông tin mang tính chất thời gian thực.
- Ưu điểm: Thông tin bên trong trang Web là cố định cho nên thời gian
Download nhanh hơn.
b. Web động
Các trang Web động là các trang Web hỗ trợ thêm khả năng tương tác với
người sử dụng. Với trang Web động, mọi số liệu đều mang tính chất thời gian
thực và được cập nhật thường xuyên do đó người sử dụng có thể xem kết quả
ngay tức thời tại một thời điểm hiện tại. Điều này Web tĩnh không thể đáp ứng
được.
2.1.5 Điểm siêu liên kết (HyperLink) :
Là những điểm ảnh, những bức tranh hay những chữ, dòng đặc biệt mà khi
được tương tác bằng cách kích chuột lờn thỡ từ HyperLink này có thể nhẩy tới
một điểm khác trong trang Web, mở ra mét trang Web mới hay truy nhập đến
một vài kiểu tài nguyên trên mạng.
2.1.5. Địa chỉ của Web
Điạ chỉ của Web được biết đến nhờ các URL (Uniform Resource Location -
Bé định vị tài nguyên thống nhất). Nếu các trang Web được ghi lồng vào sâu hết
14
mục này đến mục khỏc thỡ địa chỉ của Web sẽ hết sức dài. Một URL thường có
cấu trúc như sau:
Protocol://host.domain/directory/file.name
+ Protocol: Nghi thức TCP/IP sử dụng để tìm tài nguyờn(HTTP hay FTP)
+ Host.domain: Tên máy chủ nơi trang Web đó tồn tại
+ Directory: Tên thư mục ảo chứa trang Web. Thư mục ảo ở đây được
định nghĩa sẵn trên Web Server nã tham chiếu đến một thư mục vật lý nằm trên
máy chủ hoặc một máy mạng nào đó.
+ File.name: Tên của trang Web. Trang Web này thường mặc định là có
phần mở rộng là HTM, HTML nhưng cũng có thể có phần mở rộng như ASP,

việc cần thiết, sau đó trả lại các kết quả của công việc đó về cho ứng dụng
Client.
Việc xử lý đồng thời trên Server rất quan trọng, nó thể hiện thông qua tính
hiệu quả trong việc thực hiện các yêu cầu. Các thao tác trên Server đòi hỏi đến
các tính toán và liên lạc, trao đổi có tính chất lượng yếu. Ví dụ như dịch vụ đăng
ký (login) từ xa. Nờỳ như không xử lý đồng thời, tại mỗi thời điểm, chỉ có thể
thực hiện được duy nhất một dịch vụ login từ xa. Mỗi khi có một Client liên lạc
với Server, Server phải “ lê qua ” hoặc từ chối các yêu cầu tiếp theo, cho tới khi
ứng dụng Client đó kết thúc. Điều này hạn chế khả năng của Server, ngăn cản
việc những người sử dụng từ xa truy nhập tới một máy tính cùng một lúc.
Tóm lại quá trình xử lý Client/ Server gồm các bước:
- Mỏy khách yêu cầu dữ liệu.
- Yêu cầu được dịch sang một dạng mã và được gửi qua mạng tới máy chủ.
16
- Máy chủ cơ sở dữ liệu tiến hành tìm kiếm thông tin.
- Các kết quả theo yêu cầu được gửi trả lại cho mỏy khỏch.
- Dữ liệu được trình bày tới người sử dụng.
Web là một môi trường Client/ Server, trong đó Client là các trình duyệt
Web còn Server là các WebServer hoặc các Database Server, trong đó cơ sở dữ
liệu (CSDL) có thể phân tán trên nhiều Server hoặc tập trung tại một Server.
Client và Server là hai thực thể hoàn toàn chia tách, không phụ thuộc vào nhau
trừ khi Client cần những thông tin từ Server. Nhiệm vụ chính của Client là phục
vụ như một giao diện người dùng, cho phép khởi đầu tác vụ nhập, yêu cầu xử lý.
Về phía Server, nhận yêu cầu qua mạng, phân tích nó và thường phải tra cứu hay
cập nhật CSDL. Kết quả của thao tác trên CSDL được gửi ngược cho Client
khởi đầu qua mạng, Client sẽ trình bày thông tin đú trờn giao diện màn hình
máy tính hoặc là trên máy in và quá trình kết thúc.
2.2.2.Trình duyệt Web( browser )
Web Browser (trình duyệt Web) là phần mềm được sử dụng từ phía người
sử dụng nhiệm vụ của nó là khởi tạo các con trỏ địa chỉ URL để gửi tới các Web

cầu đó và gửi lại kết quả của các yêu cầu đó thông qua giao thức HTTP, Client
sẽ nhận và xử lý các kết quả này rồi hiện thị chúng cho người dùng.
2.3. Giao thức HTTP( Hyper text transfer protocol)
Trong môi trường Client/ Server truyền thống, truyền thông được thực hiện
qua giao thức mạng cho phép các Client luôn duy trì kết nối tới Server hay Ýt
nhất còng có khả năng thiết lập một kết nối ngay lập tức. Môi trường Web
không cung cấp những kết nối cố định tới các Server, mà thay vào đó là kết nối
qua giao thức HTTP.
HTTP là giao thức truyền thông mà Client sử dụng để liên lạc với Server.
Mọi giao thức truyền thông đều phải yêu cầu có một chương trình tương ứng
trên Server để “ nghe “ các yêu cầu trên mạng do các Client truyền đến.
Với giao thức HTTP, trỡnh khỏch có thể gửi và yêu cầu trình chủ (Web
Server) xử lý những lệnh sau:
- GET - Yờu cầu trỡnh chủ trả về nội dung một tài nguyên theo địa chỉ định
vị URL.
18
- POST - Chuyển dữ liệu từ trỡnh khỏch lờn trỡnh chủ. Trình chủ tiếp nhận
dữ liệu, tính toán và trả về kết quả cho trỡnh khỏch.
- HEAD - Yờu cầu trỡnh chủ trả về thông tin mô tả một tài nguyên (tập tin).
- PUT - Đưa một tài nguyên (tập tin) lờn trỡnh chủ.
- DELETE - Yờu cầu trỡnh chủ xoá một tài nguyên (tập tin) nào đó.
Cú mét sự khác biệt khá quan trọng giữa HTTP và các giao thức khác đó là
HTTP không duy trì sự kết nối cố định. Sau khi Server hoàn thành việc phục vụ
yêu cầu lấy thông tin của Client, nó chấm dứt kết nối với Client. Khi Web
Browser từ Client yêu cầu thông tin mới thì một kết nối mới sẽ được thiết lập.
19
2.4.Một sè giao diện chuẩn
Khác với ứng dụng chạy trên máy tính đơn lẻ khi mà việc xử lý được thực
hiện trên mỗi máy tính, ứng dụng Web tập chung xử lý trên Server gồm có một
hay nhiều Server vì Web Brower chỉ đưa ra giao diện người sử dụng, toàn bộ

nhiều ngôn ngữ C, C
++
, Pascal, Visual Basic
Ých lợi của chương trình CGI là tạo được những trang Web tuỳ biến. Bên
trong chương trình CGI có thể tính toán, kết nối truy vấn CSDL, lưu các thông
tin do trỡnh khỏch gửi đến, Nội dung dữ liệu do trình CGI trả về cho mỏy
khỏch do đó sẽ phong phú và đa dạng hơn.
Cơ chế làm việc của các chương trình CGI tá ra rất hiệu quả trong các ứng
dụng truy xuất Web trên Internet. CGI sau này được Java cải tiến thành công
nghệ Servlet.
Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm như: thực hiện đơn giản, cơ động, có
thể chạy đa môi trường dễ sửa lỗi thì CGI cũn cú một số nhược điểm như tiêu
tốn tài nguyên và giới hạn về tốc độ do mỗi lần trình CGI thực thi là mỗi lần
Web Server phải nạp và giải phóng khỏi bộ nhớ.
Để khắc phục những nhược điểm của CGI, các nhà phát triển dịch vụ
Web đã thiết lập một giao diện chuẩn mới có thể mở rộng khả năng của Web
Server đó là ISAPI (Internet Server Application Program Interface - Giao diện
lập trình ứng dụng Internet Server).
2.4.2. ISAPI
21
ISAPI có chức năng giống như CGI, ưu điểm của chương trình ISAPI là
chỉ phải nạp một lần vào bộ nhớ khi lần đầu tiên Web Server triệu gọi ứng dụng.
Do đó vấn đề tốc độ mà chương trình CGI gặp phải được giải quyết triệt để, và
rất hiệu quả, tốn Ýt tài nguyên của hệ thống.
Với ngôn ngữ kịch bản, Microsoft đề xuất phương án thiết kế trang Web
ASP (Active Server Page). ASP là các trang Web chứa mã lệnh viết bằng ngôn
ngữ Visual Basic kết hợp với các thẻ định dạng của ngôn ngữ HTML.
Tương tự như ISAPI có Servlet, Servlet là các chương trình Java chỉ cần
nạp một lần vào máy ảo. Servlet sẽ phục vụ mọi yêu cầu từ mỏy khỏch gửi đến
tương tự chức năng của một chương trình CGI hay ISAPI. Sun đưa ra một khái

3.1.1. Cấu trúc một trang Web
Cấu trúc của một trang Web không tuân theo một chuẩn cố định nào cả mà
ta có thể định ra được nó. Nói chung các trang Web thường có cấu trúc như sau:
a. Phần Header của trang Web
Thường đặt các thông tin như tiêu đề của trang Web.
b. Phần mục đích của trang Web
Đặt thông tin về mục đích của trang này, phần này khá quan trọng vì khi một
người nào đó vào một trang Web thì đầu tiên người ta quan tâm đến mục đích
của trang Web họ đang xem.
c. Phần nội dung của trang Web
Đây là phần chính của một trang Web, phần này chứa thông tin mà ta muốn
trình bầy. Cách tổ chức phần nội dung này sao cho khoa học, dễ nhìn, là hết
sức quan trọng.
d. Phần Footer của trang Web
Đây là phần thông tin kết thúc của một trang Web. Thông thường phần này
chứa những thông tin về địa chỉ, số điện thoại, của đơn vị có trang Web.
3.1.2. Cấu trúc một WebSite
Để có một WebSite hoàn chỉnh không chỉ đơn thuần là công việc của người
làm tin học mà nó là kết hợp công việc của người lập trình, người trang trí,
người phân tích hệ thống, người quản trị cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên tư tưởng thiết
kế ở đây nhằm đưa ra những nguyên tắc chung nhất, để trên cơ sở đó tạo ra được
một hệ thống hoàn chỉnh có tính khoa học.
WebSite có thể được cấu trúc theo cỏc cỏch sau:
24
- Cấu trúc nối tiếp: Đây là cách để hệ thống thông tin theo dãy, hiển thị thông
tin một cách tuần tự. Thông tin sẽ nối tiếp nhau như một bản tường thuật,
theo thời gian hoặc trong sự sắp xếp logic nó là ý tưởng cho sự bàn luận nối
tiếp, các chủ đề được phát triển từ tổng quát tới cụ thể.
- Cấu trúc không cấp bậc: Điều này có nghĩa là các trang Web có cấp bậc như
nhau và từ một trang Web bất kỳ nào đó ta cũng có thể nhẩy đến một trang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status