Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TẠ VĂN LÂM
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC
PHARSELENZYM ĐẾN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ ĐẺ
THƢƠNG PHẨM VÀ GÀ THỊT TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHẠM THỊ HIỀN LƢƠNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài này, ngoài sự cố gắng, nỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
thầy cô, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè.
Đầu tiên cho tôi gửi lời biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo của
trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói chung, các thầy cô giáo Khoa
Chăn nuôi - Thú y nói riêng, những người đã cung cấp cho tôi không chỉ
những kiến thức chuyên sâu, mà cả những kiến thức sống thiết thực. Đặc biệt,
tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, lòng biết ơn vô hạn đến cô giáo TS. Phạm Thị
Hiền Lương người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tâm chỉ bảo, để tôi hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm kích đối với các đồng nghiệp, bạn bè, vì những
giúp đỡ trong công việc, trong cuộc sống và những góp ý thiết thực trong
chuyên môn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, vì trong quá trình thực
hiện đề tài tôi luôn nhận được sự ủng hộ, động viên, tin tưởng của cha mẹ và
những người thân thiết trong gia đình.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2013
1.1.2. Khả năng sinh sản của gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng 13
1.1.3. Đặc điểm sinh học của trứng gia cầm 21
1.1.4. Nhu cầu dinh dưỡng của gà đẻ trứng 26
1.1.5. Những hiểu biết về gà thịt Ross 308 và gà đẻ trứng thương phẩm
Isa Brown 28
1.1.6. Những hiểu biết về Chế phẩm sinh học Pharselenzym 30
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước. 35
1.2.1. Tình hình nghiên cứu chế phẩm chứa Selen ở nước ngoài 35
1.2.2. Tình hình nghiên cứu chế phẩm chứa Selen trong nước. 37
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
1.2.3. Các thông tin về chế phẩm Pharselenzym 38
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 40
2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu. 40
2.1.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu. 40
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 40
2.1.3. Thời gian nghiên cứu. 40
2.2. Nội dung nghiên cứu. 40
2.3. Phương pháp nghiên cứu. 41
2.3.1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học
Pharselenzym đến khả năng sản xuất của gà đẻ thương phẩm và thành
phần hóa học của trứng gà 41
2.3.2. Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym
đến khả năng sinh trưởng, chuyển hóa thức ăn và thành phần hóa học của
thịt gà 44
2.4. Xử lý số liệu 47
Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym đến khả năng sinh
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ca
: Canxi
CS
: Cộng sự
ĐC
: Đối chứng
ĐVT
: Đơn vị tính
G
: Gam
Hu
: Haugh
Kg
: Kilogam
Khoáng TS
: Khoáng tổng số
KL
: Khối lượng
KPCS
: Khẩu phần cơ sở
ME
: Năng lượng trao đổi
NST
: Năng suất trứng
Nxb
: Nhà xuất bản
Bảng 2.4: Giá trị dinh dưỡng của 1kg thức ăn thí nghiệm 45
Bảng 2.5: Lịch sử dụng vaccine cho gà thịt thí nghiệm 45
Bảng 3.1: Khối lượng gà trước và sau khi kết thúc thí nghiệm (g). 48
Bảng 3.2: Tỷ lệ đẻ qua các tuần của gà thí nghiệm (%) 50
Bảng 3.3: Năng suất trứng của gà thí nghiệm qua các tuần đẻ. 52
Bảng 3.4: Khối lượng trứng của gà thí nghiệm qua các tuần đẻ (g). 53
Bảng 3.5: Chất lượng trứng của gà thí nghiệm. 54
Bảng 3.6: Tiêu tốn thức ăn cho sản xuất trứng của gà thí nghiệm (g). 55
Bảng 3.7: Thành phần hóa học và hàm lượng Selen của trứng gà thí nghiệm. 57
Bảng 3.8: Chi phí thức ăn cho sản xuất trứng của gà thí nghiệm. 58
Bảng 3.9: Tỉ lệ nuôi sống của gà thịt thí nghiệm. 59
Bảng 3.10: Khối lượng gà qua các kỳ cân (g/con) 60
Bảng 3.11: Sinh trưởng tuyệt đối của gà thịt (g/con/ngày). 62
Bảng 3.12: Sinh trưởng tương đối của gà thịt (%). 63
Bảng 3.13: Tiêu tốn thức ăn của gà thịt thí nghiệm/ kg tăng khối lượng. 65
Bảng 3.14: Tiêu tốn NLTĐ (ME) và Protein/kg tăng khối lượng gà thịt. 66
Bảng 3.15: Thành phần hóa học và hàm lượng Selen của thịt gà thí nghiệm. 67
Bảng 3.16: Sơ bộ hạch toán chi phí cho chăn nuôi gà thịt thí nghiệm 68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1: Đồ thị tỷ lệ đẻ qua các tuần đẻ của gà thí nghiệm. 51
Hình 3.2: Đồ thị sinh trưởng tích luỹ của gà thịt thí nghiệm 61
Hình 3.3: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà thịt thí nghiệm 63
- Xác định được hàm lượng Selen trong sản phẩm thịt và trứng của gà
thí nghiệm.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp thêm những tư liệu khoa học về
vai trò của khoáng vi lượng trong chăn nuôi nói chung, chăn nuôi gà công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
nghiệp nói riêng. Đặc biệt là vai trò của Selen trong thức ăn đến khả năng sản
xuất và đề kháng của gà công nghiệp.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu về chế phẩm sinh học Pharselenzym góp phần đẩy
mạnh chương trình phát triển chăn nuôi gia cầm bền vững, hạn chế sử dụng
kháng sinh trong chăn nuôi quy mô trang trại cũng như nông hộ, nhằm tạo ra
sản phẩm an toàn, có hiệu quả kinh tế cao.
phát dục. Đây là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm, hoàn thiện thêm
về tính chất, chức năng của các bộ phận cơ thể.
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình
thái, kích thước các bộ phận cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật là quá trình
phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn từ khi trứng rụng tới khi trưởng thành, khi
con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở
các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu
là tích luỹ mỡ, còn tích luỹ cơ thể xem như ở trạng thái ổn định.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ do quá trình đồng hóa và dị
hóa cơ thể, là sự tăng về chiều cao, dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận
và toàn bộ cơ thể của con vật. Đồng thời sinh trưởng chính là sự tích lũy dần
các chất dinh dưỡng chủ yếu là protein, nên tốc độ tích lũy và sự tổng hợp các
chất dinh dưỡng, cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sinh
trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên và cs, 1992) [24].
Về mặt sinh học: Sinh trưởng là quá trình tổng hợp protein nên thường
lấy tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng.
Theo Johason (1972) [11] thì cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai
và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật.
Nhìn từ khía cạnh giải phẫu, sinh lý thì sự sinh trưởng của các mô cơ diễn ra
theo sơ đồ sau:
Hệ thống tiêu hóa nội tiết - hệ thống xương - hệ thống cơ bắp - mỡ
Thực tế chăn nuôi gia súc, gia cầm lấy thịt cho thấy trong giai đoạn đầu
của sự sinh trưởng thì thức ăn dinh dưỡng được dùng tối đa cho sự phát triển
của xương, mô cơ, một phần rất ít lưu giữ cho cấu tạo của mỡ. Đến giai đoạn
cuối của sự sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi
hệ thống cơ xương, nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng
năng một số bộ phận của cơ quan nội tạng còn chưa phát triển hoàn chỉnh như
các men tiêu hóa trong hệ tiêu hóa, do vậy thức ăn giai đoạn này cần chú ý
đến thức ăn dễ tiêu, vì thức ăn giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ
sinh trưởng của gà. Quá trình thay lông cũng diễn ra trong cùng một giai đoạn
này, nó làm thay đổi quá trình trao đổi chất, tiêu hóa và hấp thu, do đó cần
chú ý đến hàm lượng của các chất dinh dưỡng và axit amin thiết yếu trong
khẩu phần ăn.
- Giai đoạn trưởng thành:
Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đã phát triển hoàn
thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục. Quá trình tích
lũy các chất dinh dưỡng trong giai đoạn này một phần để duy trì cơ thể, một
phần để tích lũy mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn giai đoạn gà con.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
- Khối lượng cơ thể:
Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của cơ
thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định sự sai khác về tỷ lệ sinh
trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ tuổi.
Đơn vị tính bằng g/con hoặc kg/con.
- Sinh trưởng tuyệt đối:
Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của cơ thể
trong một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2 - 39 - 77, 1997)
[33]. Sinh trưởng tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng
tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại.
- Sinh trưởng tương đối:
Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng (thể
tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát so với thời điểm
đầu khảo sát (TCVN 2 - 40 - 77, 1997) [32]. Gà con non có sinh trưởng tương
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như: dòng, giống,
tính biệt, dinh dưỡng và các điều kiện chăn nuôi.
- Ảnh hưởng của dòng, giống:
Theo Chambers (1990) [41] có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng và
phát triển của cơ thể, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung, có gen ảnh
hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen thì ảnh hưởng theo nhóm tính
trạng và có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ.
Goedfrey và cs (1952) [44] cùng một số tác giả khác cho rằng các tính
trạng số lượng được quy định bởi ít nhất 15 cặp gen.
Theo Jaap và cs (1969) [46]; Champman (1995) [42] đều cho rằng kiểu
di truyền về khối lượng cơ thể, phải do nhiều gen quy định và ít nhất phải do
một gen liên kết với giới tính.
Cook và cs (1956) [39] đã xác định được hệ số di truyền tại 6 tuần
tuổi về khối lượng là 0,5; hệ số di truyền khối lượng cơ thể theo Godam
và Godgy (1956) là 0,43; ở 10 tuần tuổi theo Cook tính được là 0,5 và ở 6
tuần tuổi là 0,4.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Phùng Đức Tiến (1996) [31] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh
trưởng từ 0,4 - 0,5. Các tài liệu của Chambers (1984) [40]; Siegel và cs (1962)
[60] đã tổng kết một cách hoàn chỉnh về hệ số di truyền và tốc độ sinh trưởng.
Kết quả tính toán qua phân tích phương sai của con đực từ 0,4 - 0,6.
Kushner (1969) [14] hệ số di truyền khối lượng cơ thể sống của gà 1
tháng tuổi là 0,32; 2 tháng tuổi là 0,46; 3 tháng tuổi là 0,44; 6 tháng tuổi là
0,55 và gà trưởng thành là 0,43. Nguyễn Ân và cs (1998) [1] gà 3 tháng tuổi
là 0,26 – 0,5.
Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [10] cho biết sự khác nhau giữa các
giống gia cầm rất lớn, giống kiêm dụng nặng hơn hướng trứng khoảng 500 -
Lê Hồng Mận và cs (1993) [23] xác định được nhu cầu dinh dưỡng về
protein nuôi gà broiler cho năng suất cao, thì ngoài năng lượng/protein
(ME/CP) trong khẩu phần thức ăn cũng là vấn đề rất quan trọng cần được
quan tâm.
Dinh dưỡng của gia cầm gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần đều có
tầm quan trọng và ý nghĩa riêng của nó.
Ở gà broiler, một phần năng lượng để duy trì, một phần để tăng khối
lượng, cá thể có tốc độ tăng trưởng nhanh thì sẽ cần ít năng lượng để duy trì
hơn, tiêu tốn thức ăn ít hơn. Tăng khối lượng nhanh do cơ thể đồng hóa tốt,
trao đổi chất được tăng cường làm cho việc sử dụng thức ăn có hiệu quả tốt
hơn. Theo Chambers và cs (1984) [40] thì mối tương quan giữa khối lượng
của gà Broiler với lượng thức ăn tiêu tốn từ 0,5 - 0,9. Gà có tốc độ tăng khối
lượng cao thì yêu cầu thức ăn có tỷ lệ protein cao hơn. Theo Praudman và cs,
1970 [56]; Pym và cs, 1978, dinh dưỡng không chỉ cần thiết cho quá trình sinh
trưởng mà còn cần thiết để thể hiện khả năng di truyền của sinh trưởng.
- Ảnh hưởng của chế độ chăm sóc:
Bên cạnh các yếu tố nêu trên thì sinh trưởng của gà còn chịu ảnh hưởng
của nhiều yếu tố môi trường như chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, ẩm độ, độ
thông thoáng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
+ Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi:
Theo Nguyễn Đức Hưng (2006) [9] nhiệt độ chuồng nuôi gà sau 28 ngày
thích hợp là 18 - 20
o
C. Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu năng lượng
trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà broiler, do vậy tiêu thụ thức ăn của
gà chịu sự chi phối của nhiệt độ môi trường. Trong điều kiện nhiệt độ khác
và các chất độc khác. Thông thoáng làm giảm ẩm độ,
điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi từ đó hạn chế bệnh tật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Tốc độ gió và nhiệt độ không khí có ảnh hưởng tới tăng khối lượng của
gà. Gà con nhạy cảm hơn gà trưởng thành. Đối với gia cầm lớn cần tốc độ lưu
thông không khí cao hơn gà nhỏ.
+ Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng
Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [8], Tuler (1999) [62], Johannes
Petersen (1999) [47], Ross (2002) [59] cho biết với gà broiler giết thịt sớm 38
- 42 ngày tuổi, thời gian chiếu sáng như sau: 3 ngày đầu chiếu sáng 24/24 giờ,
cường độ chiếu sáng 20 lux/m
2
; ngày thứ tư đến kết thúc thời gian chiếu sáng
còn 23/24 giờ, cường độ chiếu sáng 5 lux/m
2
. Nhưng khi nuôi gà thịt dài ngày
có khối lượng cao thì áp dụng chế độ giảm thời gian chiếu sáng ở giai đoạn
giữa. Cụ thể: ngày thứ nhất chiếu sáng 24/24 giờ; ngày thứ hai chiếu sáng
20/24 giờ; ngày thứ 3 - 15: 12/24 giờ; ngày thứ 16 - 18: 14/24 giờ; ngày thứ
19 - 22: 16/24 giờ; ngày thứ 23 - 24: 18/24 giờ và ngày thứ 25 đến kết thúc
chiếu sáng 24/24 giờ.
Khi cường độ chiếu sáng cao, gà hoạt động nhiều, do đó làm giảm sinh
trưởng tích lũy. Với chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mùa hè cần phải che
ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào chuồng nhưng vẫn đảm bảo thông thoáng,
ánh sáng được phân bố đều trong chuồng và sử dụng bóng đèn có cùng công
suất để tránh gà tụ tập vào nơi có ánh sáng mạnh hơn.
1.1.1.3. Khả năng chuyển hóa thức ăn
hóa thức ăn từ 1 - 4 tuần tuổi là r = + 5. Hiệu quả sử dụng thức ăn liên quan
chặt chẽ đến sinh trưởng.
1.1.1.4. Khả năng cho thịt
Khả năng cho thịt là đặc điểm kinh tế quan trọng trong ngành chăn nuôi,
nó được thể hiện bằng năng suất và chất lượng thịt ở tuổi giết mổ.
- Năng suất thịt:
Năng suất thịt biểu hiện bằng tỷ lệ thân thịt, tỷ lệ các bộ phận, thường
được tính là tỷ lệ thịt xẻ, thịt đùi, thịt ngực và tỷ lệ mỡ bụng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Theo Ricard và cs (1967) [57] ta thấy mối tương quan giữa khối lượng
sống và khối lượng thịt xẻ là rất cao, thường là 0,9; còn giữa khối lượng sống
và khối lượng mỡ bụng thấp hơn thường từ: 0,2 - 0,5.
Các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau.
Chambers (1990) [41] cho biết giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền
về năng suất thịt xẻ, hay năng suất thịt đùi, thịt ngực … (phần thịt ăn được
không có xương). Ngoài ra năng suất thịt còn phụ thuộc vào tính biệt và chế
độ dinh dưỡng.
- Chất lượng thịt:
Thịt gia cầm có tính ngon miệng và mùi vị hấp dẫn, điều này liên quan
đến đặc điểm sinh thái của tổ chức cơ và tính chất lý học của nó như độ mềm,
độ ướt Những sợi cơ của thịt gà rất mỏng và các tổ chức liên kết giữa
chúng nhỏ hơn thịt một số loài gia súc khác.
Theo Chambers (1990) [40] thì tốc độ sinh trưởng có tương quan âm với
tỷ lệ mỡ (-0,32) và khoáng tổng số (-0,14). Chất lượng thịt phụ thuộc vào
thành phần hóa học của thịt và có sự khác nhau giữa các dòng, giống, cùng
một chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, cùng một lứa tuổi và cùng một giống thì
không có sự khác nhau về thành phần hóa học của thịt. Prias (1984) (dẫn theo
gia cầm.
Để đánh giá khả năng sinh sản của đàn gà hay của một dòng gà nào đó
thì người ta dựa vào những chỉ tiêu sau:
- Tuổi đẻ đầu
Tuổi đẻ quả trứng đầu là thời điểm đàn gà đã thành thục về tính. Tuổi đẻ
đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài, giống, hướng sản xuất, kỹ thuật
chăm sóc, nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng.
Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm. Sự thành thục về tính
sớm hay muộn còn liên quan chặt chẽ đến khối lượng cơ thể, cũng như sự
hoàn thiện các cơ quan bộ phận của cơ thể. Những giống gia cầm có tầm vóc
nhỏ thường có tuổi thành thục sớm hơn những giống gia cầm có tầm vóc lớn.
Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, điều kiện
thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
dục sớm hơn. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tuổi thành thục
sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn.
Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời
điểm tại đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5%. Tuổi đẻ quả trứng đầu rất quan trọng vì nó
có thể quyết định đến sản lượng trứng sau này của đàn gà. Theo Hays (dẫn
theo Brandsch và Bilchel, 1978) [5] thì những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu lớn
hơn 245 ngày cho sản lượng trứng thấp hơn những gà có tuổi đẻ quả trứng
đầu nhỏ hơn 215 ngày là 6,9 quả.
Khối lượng cơ thể và cấu trúc thành phần cơ thể là những nhân tố ảnh
hưởng đến tính thành thục của gà mái. Nhưng thực tế, gà nặng cân lại đẻ ít
trứng. Hocking và cs (dẫn theo Chambers, 1990 [41]) giải thích rằng nguyên
nhân gây nên hiện tượng đẻ trứng ít của gà nặng cân là do tồn tại nhiều bao
noãn, chúng thường xuyên lấn át buồng trứng.
ngày trong giai đoạn đẻ.
Theo Card (1977) [38] cho biết quần thể gà mái cao sản đẻ theo quy luật.
Cường độ đẻ trứng cao nhất vào các tháng thứ 2, thứ 3, sau đó giảm dần cho
đến hết năm đẻ. Theo Mack (1991) (dẫn theo Nguyễn Thị Thanh Bình, 1998)
[4]: Đối với gà cao sản đồ thị đẻ trứng tăng nhanh từ khi bắt đầu đẻ đến tuần
24. Đạt 50% và đỉnh cao từ tuần 27 - 28, đến 35 tuần đạt > 90%, sau đó giảm
dần và giữ được 60 - 65% ở tuần thứ 76. Khi cường độ đẻ giảm nhiều, gà
thường hay biểu hiện bản năng đòi ấp. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ
thuộc nhiều vào yếu tố di truyền, vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp
khác nhau. Điều này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố như: Nhiệt độ, ánh
sáng, dinh dưỡng Theo Brandsch và Bilchel (1978) [5] thì nhiệt độ cao và
bóng tối kích thích sự ham ấp, đồng thời yếu tố gen chịu tác động phối hợp
giữa các gen thường và gen liên kết giới tính.
Số lượng trứng có tương quan di truyền âm với khối lượng cơ thể nhưng
khối lượng trứng có tương quan dương với khối lượng cơ thể. Gà mới đẻ lần
đầu thường có khối lượng trứng nhỏ, sau đó tăng dần lên cùng với sự phát
triển của cơ thể gà trong thời gian đẻ.