Các yếu tố ảnh hưởng tăng trưởng trong doanh nghiêp, liên hệ kinh đô - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
TIỂU LUẬN
KINH TẾ DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
Đề tài : Tăng trưởng trong Doanh nghiệp thương mại
Sinh viên thực hiện : Phạm Trung Dũng
Lớp : 39A5b
2005
Phần I >KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế của doanh nghiệp thương mại là mức gia tăng sản lượng
hàng hóa tiêu thụ hay là doanh thu bán hàng trong một thời kỳ.
Doanh thu bán hàng là chỉ tiêu kết quả cơ bản phản ánh khả năng huy động
của các nguồn lực và trình độ kết hợp các nguồn lực của doanh nghiệp trong
việc đáp ứng cho các nhu cầu xã hội. Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền
mà doanh nghiệp thu về do bán hàng. Sự gia tăng doanh thu là yếu tố quan
trọng nhất để đánh giá tăng trưởng vì nó phản ánh mục tiêu hoạt động và có
thể do kết quả của việc sử dụng hợp lý các nguồn lực hoặc tăng các yếu tố
đầu vào. Tăng doanh thu là điều kiện cơ bản nhất để tăng lợi nhuận. Đến lượt
mình sự tăng lên của lợi nhuận là yếu tố đảm bảo cho mở rộng tái đầu tư, tăng
quy mô hoạt động và đồng thời tạo sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, lợi
nhuận cho việc thu hút vốn, thúc đẩy sự tăng trưởng .
Sự tăng lên của vốn qua đầu tư bằng nguồn tự tài trợ và vay vốn cùng với lao
động là một trong những chỉ tiêu cơ bản đo lường sự tăng trưởng của các yếu
tố đầu vào. Tăng vốn cố định thể hiện tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật : hệ
thống kho tàng cửa hàng, trang thiết bị phục vụ mua vào, dự trữ và bán ra. Sự
tăng lên của vốn lưu động trong đó chủ yếu là mức dự trữ hàng hoá bình quân
thể hiện sự tăng trưởng về quy mô hoạt động của doanh nghiệp .
Các chỉ tiêu trên đây cho phép đánh giá mức tăng trưởng tuyệt đối song nó
chưa phản ánh được vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Do đó để

đẩy hay kìm hãm sự tăng trưởng của doanh nghiệp .
Thị trường và môi trường hoạt động : sự thay đổi cung cầu và cơ cấu thị
trường, tình trang cạnh tranh có thể tạo thời cơ hay cản trở cho sự tăng trưởng
. Sự cạnh tranh gay gắt vừa tạo những kho khăn cho doanh nghiệp cũng là yếu
3
tố kích thích các nhà quản lý doanh nghiệp phấn đấu tăng trưởng để đạt được
lợi thể trong cạnh tranh. Các yếu tố kinh tế, kỹ thuật , công nghệ, pháp luật,
chính trị xã hội… cũng góp phần thúc đẩy hạn chế tăng trưởng .
Mục tiêu của các thành phần tham gia doanh nghiệp , cả người chủ và người
lao động đều mong muốn doanh nghiệp đạt được sự tăng trưởng liên tục bền
vững vì đó là điều kiện cơ bản đảm bảo thu nhập cho các nhà đầu tư và công
ăn việc làm cho người lao động…. Quy mô lớn vừa là kết quả của sự tăng
trưởng vừa là yếu tố kích thích tăng trưởng vì những lợi thế của nó. Sự tăng
trưởng dẫn đến tăng quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Và quy mô lớn đem
lại hiệu quả hoạt động cao hơn. Vì tận dụng được cơ sở vật chất kỹ thuật, khai
thác được lợi thế chuyên môn hoá trong lao động và quản lý, giảm bớt được
các chi phí quản lý, giao dịch….
Quy mô lớn đặc biệt có lợi thế trong thu hút vốn, thu hút lao động trẻ có chất
lượng cao, dễ có điều kiện nghiên cứu và áp dụng công nghệ kỹ thuật mới, tạo
ra năng suất lao động cao ….có thể mua hàng hoá , nguyên vật liệu với giá hạ
hơn và lợi thể cạnh tranh lớn hơn.
4
PHẦN II >CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐẢM BẢO SỰ TĂNG
TRƯỞNG
1.Nguồn vốn
a) Phân bổ nguồn vốn
Việc phân bổ nguồn vốn trước tiên phụ thuộc vào tiến trình thực hiện các
chiến lược mục tiêu mà doanh nghiệp đang theo đuổi trong từng thời kỳ.
Doanh nghiệp cần phải có định hướng phân bổ và sử dụng nguồn vốn sao cho
hữu hiệu nhất và từ các yêu cầu này sẽ tính toán cân nhắc xem cần phải huy

được.
-Thứ tư : Phân tích và đánh giá các nguồn vốn khác nhau trước khi đi đến lựa
chọn nguồn vốn nào đó.
Có những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến tăng trưởng của doanh nghiệp khi
lựa chọn nguồn tài chính của doanh nghiệp : cơ cấu tài chính hiện tại, tính
chất các tài sản có, thu nhập và sự ổn định của thu nhập cũng như các điều
kiện của thị trường tài chính hiện tại chi phối. Điều quan trọng nhất trong việc
thu hút vốn là doanh nghiệp cần phải tạo ra và duy trì sự hấp dẫn của mình
trên thị trường tài chính. Doanh nghiệp cũng có thể thu hút vốn nhờ các chủ
sở hữu, cổ đông hay các nguồn tín dụng dài hạn trung hạn và các nguồn
khác………
-Thứ năm : Sau khi đã phân tích , đánh giá các nguồn vốn, doanh nghiệp
thường lựa chọn nguồn vốn đảm bảo thực hiện phương thức tăng trưởng trên
cơ sở xem xét các yếu tố cơ bản.
+ Mục đích sử dụng vốn
+ Chi phí sử dụng vốn
+ Những lợi ích và thiệt hại khi thu hút vốn
b) Ngân sách
Ngân sách là công cụ quan trọng của quản lý tài chính và kiểm tra quản lý.
Với ý nghĩa nào đó ngân sách là kế hoạch tác nghiệp mà doanh nghiệp dự
định thực hiện trong tương lai. Các loại ngân sách chủ yếu của doanh nghiệp
6
bao gồm : ngân quỹ tiền mặt, ngân quỹ và doanh số bán , ngân sách về vốn và
dự toán của các loại chi phí….
Phân bổ nguồn vốn và lập ngân sách là những công cụ cơ bản đảm bảo cho
việc thu hút và sử dụng các nguồn vốn để thực hiện phương thức tăng trưởng
đã lựa chọn một cách có hiệu quả
2.Nguồn nhân lực
Là một trong những yếu tố quyết định nhất đối với việc đạt được các mục tiêu
và chiến lược của doanh nghiệp trong đó có tăng trưởng . Khi lựa chọn một

Phương thức tăng trưởng này có những ưu thế :
Thuận lợi và chủ động kiểm soát được sự phát triển của doanh nghiệp.
Không có nguy cơ bị mất quyền soát vốn trong điều kiện doanh nghiệp vẫn
còn những nguồn tiềm năng để tăng trưởng.
Song trong trường hợp có những điều kiện về môi trường và thị trường như
nhu cầu tăng cao đặc biệt, các đối thủ cạnh tranh mạnh lên, hoạt động ráo riết
sự xuất hiện những mặt hàng có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ đòi hỏi phải có
đầu tư lớn để đổi mới kinh doanh, đầu tư vào maketing, mạng lưới tiêu thụ
…. thì các nguồn lực của doanh nghiệp có thể phải tìm cách tăng trưởng
thông qua con đường thu hút các nguồn lực từ bên ngoài như tìm kiếm, mua
lại công ty khác…(Sự tăng trưởng như vậy được gọi là tăng trưởng ngoại vi).
Hai là : tăng trưởng ngoại vi có ưu điểm là khắc phục những khuyết điểm của
tăng trưởng nhờ các nguồn lực bên trong doanh nghiệp . Nó cho phép doanh
nghiệp có thể thu hút được khối lượng các nguồn lực và sự tham gia của các
chủ thể mới, làm tăng thêm khả năng doanh nghiệp thích ứng được sự biến
động lớn của thị trường và môi trường, giảm bớt được các chi phí đào tạo và
chi phí thâm nhập thị trường. Sau nữa dễ thực hiện với những thuận lợi về tài
chính, vì với các giá tài sản hiện có thường rẻ hơn so với việc đầu tư mới, rút
ngắn thời gian khai thác. Đương nhiên việc có mặt thêm các chủ sở hữu càng
làm mất đi quyền tự do lựa chọn các quyết định, phải chia sẻ quyền lực và lợi
ích.
*Tăng trưởng ngoại vi
1.Tăng trưởng nhờ sát nhập theo chiều dọc
9
Tăng trưởng bằng hội nhập của doanh nghiệp thương mại được thực hiện
bằng cách doanh nghiệp liên kết (sát nhập) với những người cung ứng (doanh
nghiệp sản xuất hay thương mại bán buôn) hay với những doanh nghiệp
thương mại khác ( bán buôn hay bán lẻ) để thực hiện khâu tiêu thụ sản phẩm
hoặc sát nhập với tất cả các doanh nghiệp loại này để thực hiện sự kiểm soát
toàn bộ từ cung ứng đến tiêu thụ sản phẩm. Sự sát nhập như vậy thực chất là

Sự sát nhập theo chiều dọc cũng giúp các doanh nghiệp thương mại thực hiện
được sự điều hoà thị trường ở đầu ra do các thông tin ở đầu vào và đầu ra
được xử lý tốt hơn, đồng bộ và toàn diện hơn, sự xích lại gần giữa cung ứng
và tiêu thụ sẽ làm cho các quyết định được đưa ra nhanh chóng, kịp thời, hiệu
chỉnh tốt hơn các hoạt động trong quá trình hàng hoá đi từ sản xuất đến tiêu
dùng, tiết kiệm được các chi phí và nâng cao hiệu quả .
Sau cùng, sát nhập theo chiều dọc sẽ giúp tận dụng được những nguồn tiềm
năng của từng doanh nghiệp chưa được khai thác hết hay chưa khai thác có
hiệu quả.
a.Sự sát nhập theo chiều dọc với người cung ứng
Đây là hình thức tìm cách đạt được sự tăng trưởng bằng cách nắm quyền sở
hữu hay tăng sự kiểm soát đối với người cung ứng, có hai cách để đạt được
mục tiêu này:
Một là : Doanh nghiệp thương mại thành lập một công ty con chuyên thực
hiện chức năng cung ứng, qua đó thiết lập nguồn cung ứng của mình.
Hai là : Thực hiện việc mua một phần hay toàn bộ các cơ sở cung ứng cho
doanh nghiệp .
Sát nhập ngược chiều đặc biệt có lợi trong trường hợp người cung ứng đang
tăng trưởng nhanh, có nhiều khả năng thu được lợi nhuận. Nó cũng hấp dẫn
nếu như nguồn cung ứng hàng hoá cho doanh nghiệp bấp bênh, không ổn
định và có thể giảm được các chi phí giao dịch.
Tuy vậy sát nhập ngược chiều cũng có không ít những vấn đề phát sinh : để
thực hiện việc kiểm soát đối với cung ứng cần phải có vốn lớn, quy mô tăng
dẫn đến việc quản lý cũng trở nên phức tạp hơn. Nếu không đạt được sự phối
hợp đồng bộ, nhịp nhàng thì hiệu quả có thể bị hạ thấp, tính linh hoạt sẽ giảm.
11
b.Sát nhập theo chiều dọc với người tiêu thụ ( sát nhập thuận chiều)
Đây là hình thức doanh nghiệp thương mại tìm cách tăng trưởng bằng việc
mua lại toàn bộ hay một phần các doanh nghiệp hay đại lý … thuộc hệ thống
tiêu thụ sản phẩm sát với thị trường đích, cụ thể là có thể lập hệ thống bán

thị trường đang hoạt động.
Các điều kiện để thâm nhập thị trường mới tương đối thuận lợi. Đa dạng hoá
giúp doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả hơn vốn đầu tư. Nhờ đa dạng hoá mặt
hàng kinh doanh mà doanh nghiệp khai thác triệt để hơn các tài sản chưa
được sử dụng hết hay chưa hợp lý qua đó hạ thấp được giá thành nhờ các chi
phí cố định phân bổ cho một sản phẩm giảm . Sự đa dạng hoá sẽ có lợi nếu
doanh nghiệp trước đó chỉ kinh doanh những mặt hàng mang tính thời vụ,
những mặt hàng mà nhu cầu của thị trường thay đổi không ổn định.
Đa dạng hoá cũng giúp doanh nghiệp khai thác tốt hơn các nguồn lực về lao
động và tiềm năng của cán bộ quản lý. Tận dụng được các lợi thế và vị trí của
doanh nghiệp cũng như lợi thế thương mại, sử dụng có hiệu quả hơn các chi
phí tiếp thị và phân phối. Đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh cũng tạo ra sự
hấp dẫn hơn đối với khách hàng gây được sự uy tín và vị thế của doanh
nghiệp trên thương trường.
Sự đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh và thị trường kinh doanh cũng giúp
doanh nghiệp giảm được những rủi ro nhất là rui ro tài chính đối với các
doanh nghiệp lớn. Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các tập đoàn kinh
doanh, các doanh nghiệp lớn ở trong nước cũng như nước ngoài đều đa dạng
hoá mặt hàng kinh doanh và thị trường kinh doanh . Sự phân chia rủi ro cho
các mặt hàng kinh doanh và cho thị trường làm cho doanh nghiệp có thể bù
trừ được các khoản lỗ của một mặt hàng hay tên một thị trường bằng những
khoản lãi cao hơn ở những mặt hàng và thị trường khác.
Chính vì giảm bớt rủi ro, thu lợi nhuận ổn định nên các doanh nghiệp này thu
hút vốn đầu tư hay vay vốn lợi nhuận lớn hơn với những chi phí thấp hơn. Lợi
thế đòn bẩy đánh giá tăng lên của khả năng sinh lời của vốn tự có kéo theo sự
tăng lên của hệ số vay nợ. Doanh nghiệp cũng đạt được sự hoà vốn nhanh
hơn.
13
Sự giảm bớt rủi ro trong kinh doanh vừa làm yên lòng người chủ vừa là một
trong những mục tiêu của nhà quản lý cũng như người lao động vì thu nhập

Thực hiện đa dạng hoá ngang doanh nghiệp cũng có thể bằng con đường tự
đầu tư kinh doanh hoặc mua lại những cơ sở kinh doanh ở bên ngoài.
c.Tăng trưởng bằng đa dạng hoá tổ hợp
Thực hiện đa dạng hoá tổ hợp là tìm cách hướng tới kinh doanh trên thị
trường mới ứng với những mặt hàng mới thuộc những nhóm ngành hàng khác
nhau
Tăng trưởng bằng phương thức này giúp doanh nghiệp khắc phục được tính
thời vụ, thiếu vốn, thu nhập thấp hay trong môi trường kinh doanh không
thuận lợi. Đôi khi doanh nghiệp thực hiện đa dạng hoá tổ hợp vì có sẵn các
nguồn tài chính. Điều cơ bản khi thực hiện đa dạng hoá tổ hợp là kinh doanh
cần đánh giá đựơc lợi ích mà phương thức tăng trưởng này đem lại hay là đối
với thị trường hiện tại không cho phép họ thực hiện tăng trưởng bằng các
phương pháp khác.
15
3.Tăng trưởng nhờ liên doanh
Liên doanh là sự tham gia của hai hay nhiều công ty vào một doanh nghiệp
trong đó các bên cùng góp vốn, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ
lệ góp vốn. Sự liên doanh có thể thực hiện giữa các công ty trong một nước
hay của các nước khác nhau.
Thực hiện liên doanh với các doanh nghiệp khác sẽ tạo được thị trường tiêu
thụ lớn hơn, thâm nhập thị trường của các nước đối tác dễ dàng hơn. Khai
thác tốt hơn lợi thế so sánh và những nguồn tiềm năng của các bên do có thể
bổ sung cho nhau những khiếm khuyết về các nguồn lực cũng như thị trường
tiêu thụ. Những tiến bộ và kinh nghiệm quản lý và công nghệ cho phép doanh
nghiệp sẽ hoạt động có hiệu quả hơn khi ở quy mô lớn. Liên doanh cũng cho
phép doanh nghiệp dễ dàng đạt được sự đa dạng hoá thị trường . Đồng thời
cũng giúp cho các doanh nghiệp phân tán được rủi ro trong kinh doanh , nâng
cao lợi nhuận.
Song tăng trưởng nhờ liên doanh cùng làm cho doanh nghiệp bị mất đi những
lợi thế : do phân chia quyền sở hữu nên doanh nghiệp cũng mất đi quyền tự

Thương hiệu Kinh Đô gần đây được nhiều người biết đến thông qua sản phẩm
bánh kẹo và gần đây Kinh Đô còn được nổi tiếng do công ty thành viên cùng
17
hệ thống Kinh Đô là Công ty CP Kinh Đô miền Bắc tham gia thị trường
chứng khoán, với cổ phiếu NKD. Có nhiều nhà đầu tư không hiểu vì sao có
nhiều công ty Kinh Đô. Ông Trần Lệ Nguyên, Tổng giám đốc Công ty CP
Kinh Đô cho biết, tiền thân của Công ty CP Kinh Đô là Công ty TNHH xây
dựng và Chế biến Thực phẩm Kinh Đô được thành lập năm 1993 tại TP. Hồ
Chí Minh với vốn đầu tư là 1,4 tỷ đồng, chuyên sản xuất bánh snack, một
loại bánh mới đối với người tiêu dùng trong nước. Một năm sau, công ty kinh
doanh thành công với loại bánh snack, công ty tăng vốn điều lệ lên gấp 10
lần và nhập về dây chuyền sản xuất bánh snack trị giá 750.000USD từ Nhật
Bản. Năm 1997, công ty nhập về dây chuyền sản xuất bánh mì, bánh bông lan
công nghiệp, cuối năm 1998 nhập thêm dây chuyền sản xuất kéo sôcôla. Đến
năm 1999, Công ty nâng vốn điều lệ lên 40 tỷ đồng, mở rộng nhà xưởng và
khai trương hệ thống cửa hàng bánh kẹo khắp nơi trong nước và năm 2000
vốn công ty đã lên 51 tỷ đồng. Với nhiều dây chuyền sản xuất nhiều loại
bánh, công ty đã đẩy mạnh XK sang các nước Mỹ, Pháp, Canada, Singapore,
Nhật, Lào, Thái Lan. Năm 2001, có thêm Công ty CP Thực phẩm Kinh Đô
Miền Bắc được thành lập tại Hưng Yên với số vốn là 50 tỷ đồng, để sản xuất
bánh kẹo cung ứng cho thị trường phía Bắc. Đến năm 2002 vốn điều lệ Công
ty Kinh Đô lên 150 tỷ đồng, trong đó có sự góp vốn của Công ty TNHH Xây
dựng và Chế biến Thực phẩm Kinh Đô là 50 tỷ đồng. Tính đến nay Công ty
CP Kinh Đô có vốn điều lệ là 200 tỷ đồng, trong đó có 7 đơn vị và cá nhân có
số cổ phần tỷ lệ từ 5% trở lên, với tổng giá trị cổ phiếu sở hữu là 182 tỷ đồng.
Số còn lại là của cán bộ CNV.
Bắt đầu từ ngày 01/10/2002, Công Ty Kinh Đô chính thức chuyển thể từ
Công ty TNHH Xây dựng và Chế Biến Thực Phẩm Kinh Đô sang hình thức
Công ty Cổ Phần Kinh Đô. Bên cạnh đó, hệ thống quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn ISO 9002 được thay thế bằng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu

triển vọng phát triển của ngành là rất khả quan. Với lợi thế của ngành cùng
19
với nỗ lực của Công ty rõ ràng triển vọng phát triển của Công ty trong thời
gian sắp tới là rất khả quan.
2.Các nhân tố thuận lợi, khó khăn tác động đến sự tăng trưởng của công
ty
a>Thuận lợi
Về kinh tế :Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người có
ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo. Những năm trở lại đây Việt
Nam có tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, trung bình đạt 7,3%/năm. Các
chuyên gia phân tích đều cho rằng trong các năm tới việc Việt nam duy trì tốc
độ tăng trưởng GDP ở mức 7%-8%/năm là hoàn toàn khả thi và sự tăng
trưởng này có tác động tích cực đến sự phát triển của ngành sản xuất bánh kẹo
.
Về luật pháp : Có thể nói, bánh kẹo là một trong những sản phẩm cần thiết
trong cuộc sống hàng ngày của con người, đảm báo nhu cầu dinh dưỡng của
các tầng lớp dân cư trong xã hội. Mặt khác, các doanh nghiệp sản xuất bánh
kẹo đều sử dụng nhiều lao động và các lọai nguyên liệu do trong nước sản
xuất như đường, sữa, trứng… Vì vậy, ngành được nhà nước dành cho những
chính sách ưu đãi nhất định, cụ thể là những ưu đãi trong Luật khuyến khích
đầu tư trong nước về tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập
khẩu máy móc thiết bị… Những ràng buộc pháp lý đối với ngành bánh kẹo
chủ yếu liên quan đến an tòan thực phẩm và bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng. Đây cũng là những chiến lược được Công ty cổ phần Kinh Đô rất chú
trọng và xem là chiến lược lâu dài của công ty. Vì vậy, xét toàn cảnh môi
trường pháp lý và tình hình thực tế của Công ty thì rủi ro pháp luật ít có ảnh
hưởng đến hoạt động của cty.
b>Khó khăn
20
Sự biến động giá nguyên vật liệu : Do nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn

21
bánh kẹo là 75%, đối với các nước thuộc diện ưu đãi là 50%. Riêng với các
nước thuộc ASEAN thuế suất thuế nhập khẩu sẽ giảm còn 5% vào năm 2006.
Như vậy việc gia nhập WTO và AFTA làm giảm mức thuế nhập khẩu áp
dụng cho các mặt hàng bánh kẹo đang là thách thức lớn đối với những nhà
sản xuất bánh kẹo trong nước, đặc biệt là mặt hàng bánh kẹo cao cấp. Tuy
nhiên, bánh kẹo trong nước vẫn có nhiều lợi thế do giá thành sản xuất thấp
hơn so với các nước ASEAN khoảng 40-60%. Vì vậy dù giảm thuế nhập khẩu
thì giá bán bánh kẹo nhập khẩu trên thị truờng vẫn cao hơn từ 20-30% so với
bánh kẹo sản xuất trong nước. Do Công ty đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng bằng
chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và marketing thích hợp nên Công ty không
gặp sự cạnh tranh của bánh kẹo nhập khẩu. Hơn nữa với lợi thế về thương
hiệu và mạng lưới phân phối rộng khắp, Cty hoàn toàn chủ động trong việc
khống chế sự thâm nhập của hàng hóa ngoại nhập.

3.Hợp tác đầu tư
Công Ty TNHH Xây Dựng & Chế Biến Thực Phẩm Kinh Đô đã chính thức
công bố việc đầu tư trở thành cổ đông lớn nhất của Công ty Cổ Phần Nước
Giải Khát Sài Gòn (Tribeco). Lần đầu tiên tại Việt Nam, một công ty trong
nước sử dụng công cụ tài chính "đầu tư vào một công ty khác" thông qua
Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán TPHCM với mục đích đầu tư mở rộng,
đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh của mình nhằm gia tăng sức cạnh tranh,
giảm thiểu rủi ro trong môi trường hội nhập quốc tế.
Với xu hướng phát triển tất yếu hiện nay trong lãnh vực thực phẩm và đồ
uống, Kinh Đô – doanh nghiệp hàng đầu trong ngành bánh kẹo Việt Nam về
quy mô, trình độ công nghệ, thương hiệu và hệ thống phân phối nhận thức rõ
điều này và mong muốn mở rộng đầu tư sang lĩnh vực ngành hàng nước giải
khát nhằm đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng thị phần, nâng cao tính cạnh tranh
trên thị trường. Sau hơn 2 năm gia nhập vào thị trường kem của công ty Cổ
Phần KI DO, Kinh Đô đã tái cấu trúc, ứng dụng công nghệ thực phẩm hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status